CHƯƠNG 1. Cơ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỤC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DựNG CỘNG ĐỒNG HỌC TẬP CHO SINH VIÊN NGÀNH sư PHẠM LỊCH sử, sư PHẠM LỊCH SỬ VÀ ĐỊA LÝ THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG RÈN NGHỀ TẠI TRƯỜNG ĐHGD-ĐHQGHN 1. Quan niệm về Cộng đồng học tập chuyên môn Cộng đồng học tập là thuật ngừ chỉ một nhóm người có chung mục tiêu, quan điếm học tập và gặp nhau bán thường xuyên đế cộng tác trong việc giải quyết các vấn đề liên quan trên lớp. Các nhà tâm lý học cộng đồng như McMillan và Chavis (1986) cho rằng bốn yếu tố chính xác định ý thức cộng đồng: ’’(1) thành viên, (2) ảnh hưởng, (3) đáp ứng nhu cầu cá nhân và (4) các sự kiện được chia sẻ và kết nối cảm xúc.
Những người tham gia cộng đồng học tập phải cảm nhận được sự chia sẻ và thuộc về nhóm (tư cách thành viên) thúc đẩy họ mong muốn tiếp tục làm việc và giúp đờ người khác. Ngoài ra, cộng đồng học tập phải tạo cơ hội cho những người tham gia đáp ứng các nhu cầu cụ thế (sự đáp ứng) bằng cách bày tỏ ý kiến cá nhân, yêu cầu trợ giúp hoặc chia sẻ và truyền đạt thông tin cụ thế và trải nghiệm cảm xúc (kết nối cảm xúc) Cụ thể hơn thuật ngừ cộng đồng học tập là CĐHTCM. Thuật ngữ CĐHTCM nhấn mạnh vào các hoạt động học tập chuyên môn của một lĩnh vực cụ thể, nhàm đáp ứng việc nâng cao năng lực cho một nhóm người có cùng một mối quan tâm. Do đó, nghiên cứu tập trung phân tích cơ sở lý luận dựa trên các nghiên cứu trước đó về CĐHTCM nhằm mục tiêu đề xuất được các biện pháp xây dựng một CĐHTCM chuyên biệt dành cho sv sư phạm khoa học xã hội.
Ớ đây, nghiên cứu nhấn mạnh vào quá trình học tập liên tục (học tập chuyên nghiệp trong lĩnh vực đào tạo GV) trong một môi trường cụ thế (trường đại học) nhằm cải thiện năng lực chuyên môn cho các ứng viên GV trong tương lai. CĐHTCM không phải là một khái niệm mới trên thế giới. Thuật ngữ này xuất hiện lần đầu tiên trong giới nghiên cứu nói chung và trong giáo dục nói riêng vào nãm 1960. Thuật ngữ CĐHTCM ra đời, nó đánh dấu bước chuyến thay thế cho sự đơn lập trong giảng dạy ở Hoa Kỳ.
Đến đầu những năm 1990, thuật ngữ này càng được phố biến mạnh mẽ hơn trong giới giảng dạy và giáo dục trên thế giới. Khái niệm về CĐHTCM xuất hiện tù’ nhiều 12 nguôn khác nhau, ơ một câp độ nào đó, nó được kêt nôi với các khái niệm vê các trường học tự rèn luyện và tự đánh giá cùa sv sư phạm. Senge (1990) đã giới thiệu lại thuật ngữ “CĐHTCM” trong cuốn sách The Fifth Discipline của mình. Các thành viên của CĐHTCM đã bị hấp dẫn với ý tưởng rằng trường học nên hướng đến việc học của GV cũng như việc học của HS.
Trên thực tế, nhiều nhà giáo dục tin rằng việc học tập của HS sẽ được cải thiện khi GV cũng tham gia vào các hoạt động học tập. Để đáp lại sự quan tâm, các nhà giáo dục đã thể hiện trong công việc của mình về các tồ chức học tập chuyổn môn cho GV. Cook và Yanow (1996) đã phát biều rằng “CĐHTCM đề cập đến năng lực của những thành viên trong cộng đồng đó, trong tổ chức đó họ thực hiện những hoạt động bồi dưỡng chuycn mồn gì, ren luyện nghề ra sao và các cá nhân phải tự tổng hợp lại nhũng gì họ đã được học. Nghĩa là một cộng đồng sở hữu nhừng kiến thức chuyên môn của riêng cộng đồng mình thì điều đó tạo nên CĐHTCM ’’(trang 438).
Senge và cộng sự (2000) trong cuốn sách “School that Leam” cho rằng CĐHTCM là xây dựng văn hóa làm việc hợp tác, học tập chuyên nghiệp trong trường học giữa các GV trong cùng một bộ môn giảng dạy. Văn hoá hợp tác sẽ giúp các GV học tập có hiệu quả hon là việc học riêng rẽ, nhấn mạnh hiệu quả của quá trình phát triển chuyên môn có hệ thống của các GV. Dufour and Eaker (1998) lại định nghĩa rằng: Mỗi từ cùa cụm từ “cộng đồng học tập chuyên môn” đã được chọn có mục đích. “Chuyên môn” là kiến thức và năng lực cúa một người trong một lĩnh vực nghề nghiệp, một cá nhân khồng chỉ theo đuối đào tạo nâng cao để tham gia lĩnh vực này, nhưng cũng là người được kỳ vọng sẽ tiếp tục duy trì nền tảng kiến thức đang phát triển của nó.
“Học tập” gợi ý hành động liên tục và sự tò mò vĩnh viễn. Trường học hoạt động với tư cách là một CĐHTCM công nhận rằng các thành viên của mình phải tham gia vào quá trinh nghiên cứu và thực hành liên tục, đặc trưng cho một tổ chức cam kết cải tiến liên tục. Trong một CĐHTCM, các nhà giáo dục tạo ra một môi trường thúc đẩy sự hợp tác lẫn nhau, hồ trợ tinh thần, phát triến cá nhân khi họ làm việc cùng nhau đế đạt được những gì họ khồng thể hoàn thành một mình, (tr. 13 Trong một bài viêt trên trang web CSAS “What are Professional Learning Communities?”, họ định nghĩa rằng CĐHTCM là một nhóm hợp tác gồm các nhà giáo dục làm việc cùng nhau đế cải thiện việc học tập của HS bằng cách cam kết cải tiến liên tục.
CĐHTCM có thể bao gồm các GV ở các lĩnh vực chủ đề khác nhau hoặc cùng một lĩnh vực, các cấp lớp hoặc các cấp lãnh đạo để đảm bảo tính nhất quán trong học tập và cảm xúc của HS. Ở Việt Nam, trong bài viết “Xây dựng cộng đồng học tập chuyên môn ở nhà trường phồ thông trong bối cảnh triển khai chương trình giáo dục phổ thông 2018” trên Tạp chí Giáo dục số 22 tập 6, tác giả Đoàn Nguyệt Linh và Phạm Thị Thanh Hải cho rằng “Cộng đồng học tập trước hết nên được hiểu từ góc độ xã hội là một nhu cầu gắn bó, liên kết của một nhóm người có cùng một mong muốn học tập dưới các hình thức học tập do nhóm chủ động lựa chọn hoặc xây dựng và ứng dụng. Thứ hai, cộng đồng học tập có thể được hiểu là một môi trường cho việc ứng dụng, áp dụng phương pháp cộng đồng tự học, tự hướng dẫn, tự tạo động lực và một xã hội học tập suốt đời”. Hai tác giả cũng đồng thời nêu lên nguồn gốc cùa cộng đồng học tập khi bắt đầu từ một ý tưởng đơn giản “đó là HS học được nhiều hơn khi cùng với GV có nhiều thời gian làm việc, chia sẻ ý tưởng với nhau nhiều hơn”.
Tác giả Trịnh Quốc Lập và Kevin Laws trong nghiên cứu “Phát triển năng lực nghề nghiệp thông qua việc xây dựng cộng đồng học tập” đưa ra các định nghĩa khác về cộng đồng học tập của Senge (1990) và Yamit (2000) rồi kết luận rằng đối với nghiên cứu của mình, hai tác giả sử dụng khái niệm cộng đồng học tập được hiểu theo theo góc độ là một tổ chức luôn tăng cường chất lượng nguồn nhân lực thông qua việc hợp tác với các đối tác nhằm học hỏi lẫn nhau và cùng phát triển năng lực nghề nghiệp. Cộng đồng chuyên môn được xem là một hình thức bồi dường GV thường xuyên và liên tục. Vì vậy, theo bà Silvija Pozenel - cố vấn Giáo dục Chiến lược của VVOB trên báo Giáo dục Thủ đô ngày 22 tháng 11 năm 2022 cho biết: “Vài thập kỷ gần đây, bồi dưỡng phát triến chuyên môn thông qua cộng tác đã thu hút nhiều sự quan tâm. Có nhiều định nghía về CĐHTCM.
Có một số điểm tương đồng trong việc xác định các đặc điểm chính 14 của khái niệm này. Chúng tôi áp dụng cách hiểu: CĐHTCM gồm một nhóm nhà giáo dục (giáo viên, cán bộ quản lí) cùng nhau thảo luận về các thách thức trong giảng dạy/quản lí. Họ cùng đưa ra các ý tưởng cải tiến có tính khả thi, thử nghiệm những ý tưởng này trong môi trường thực tế như: lớp học, hội đồng sư phạm. và đánh giá tính hiệu quả của các giải pháp trước khi áp dụng ở diện rộng và phổ biến cho các đồng nghiệp khác, để đảm bảo rằng: nhiều nhà giáo dục có thế hưởng lợi từ việc học này”.
Trong bộ tài liệu bồi dưỡng theo chuẩn chức danh nghề nghiệp giáo viên mầm non Hạng II của Nhà xuất bản Giáo dục, Chuyên đề 6: Xây dựng nhà trường thành cộng đồng học tập cũng đã đưa ra nhận định về cộng đồng học tập ra đời dựa trên quan niệm cho ràng hoạt động học diễn ra khi người học tham gia vào các hoạt động chung với người khác, vì mục tiêu chung, với mức độ và khả năng khác nhau. Chuyên đề này cũng đưa ra các biện pháp để xây dựng một nhà trường mầm non thành một cộng đồng học tập với các quy trình nghiêm ngặt từ các bước triển khai, các biện pháp đến các nhân tố có vai trò thiết yếu như hiệu trưởng và GV. Đồng thời chuyên đề này cũng hướng dẫn thực hành các biện pháp xây dựng cộng đồng học tập trong nhà trường mầm non thông qua các câu hỏi trả lời ngắn, các câu hởi kiềm tra có sự gợi mở. Tác giả Trần Thị Minh Huế trong bài viết “Xây dựng cộng đồng học tập trong trường mầm non” đưa ra khái niệm về cộng đồng học tập tương đối mới mẻ ràng cộng đồng học tập trong cơ sở giáo dục mầm non là cộng đồng, trong đó trẻ em học tập lẫn nhau và phát triên cùng nhau, GV, cán bộ quản lý học tập lẫn nhau và phát triến cùng nhau.
Cha mẹ trẻ em và cộng đồng địa phương hỗ trợ, tham gia vào các hoạt động phát triển nhà trường, học tập lẫn nhau và cùng thực hiện mục tiêu giáo dục trẻ. Góc độ này chù yếu giải thích khái niệm của một cộng đồng học tập trong phạm vị cơ sở giáo dục, cụ thế là giáo dục mầm non nên tác giả tập trung vào các yếu tố như nhà trường, cha mẹ trẻ em, giáo viên và địa phương. Từ khái niệm trên cho thấy hoạt động của cộng đồng học tập góp phần trực tiếp giúp cho mồi thành viên tham gia được thoả mãn nhu cầu học tập, cùng phát triến và qua đó thực hiện mục tiêu phát triển nhà trường, giúp nhà trường thực hiện hiệu quả nhiệm vụ. 15 CĐHTCM không phải là khái niệm mới, tuy nhiên ở Việt Nam vẫn chưa thực sự có nhiều tài liệu hay các nghiên cứu bài bản về vấn đề này.
Ờ Việt Nam, hiện nay mới chỉ có một số các bài viết, các bài báo hoặc nghiên cứu nhở thảo luận về vai trò hoặc các biện pháp xây dựng nói chung nhưng chưa có mô hình nào đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của một CĐHTCM khoa học và có tính thực tiễn cao.