Xây dựng cộng đồng học tập cho sinh viên Sư phạm Lịch sử và Địa lý tại ĐHGD - ĐHQGHN

Xây dựng cộng đồng học tập cho sinh viên sư phạm Lịch sử - Địa lý tại ĐH Giáo dục, ĐHQGHN qua rèn nghề. Phát triển kỹ năng, kết nối và nâng cao nghiệp vụ sư phạm.

Chuyên ngành

Sư Phạm Lịch Sử

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2023

132
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BIÊU ĐỒ

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

MỤC LỤC

1. Lí do chọn đề tài

2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

2.1. Tài liệu nước ngoài

2.2. Tài liệu trong nước

3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu

3.2. Phạm vi nghiên cứu

4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

4.1. Mục đích nghiên cứu

4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1. Phương pháp luận

5.2. Phương pháp nghiên cứu

6. Đóng góp của đề tài

7. Giả thuyết khoa học

8. Bố cục của luận văn

2. Cơ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỤC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DỰNG CỘNG ĐÒNG HỌC TẬP CHO SINH VIÊN NGÀNH su’ PHẠM LỊCH sử, su' PHẠM LỊCH SỬ VÀ ĐỊA LÝ THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG RÈN NGHÈ TẠI TRUỒNG ĐHGD - ĐHQGHN

2.1. Quan niệm về Cộng đồng học tập chuyên môn

2.2. Vai trò của Cộng đồng học tập chuyên môn

2.3. Đặc điểm của Cộng đồng học tập chuyên môn

2.4. Nguyên tắc xây dựng Cộng đồng học tập chuyên môn

2.5. Quan niệm về xây dựng Cộng đồng học tập chuyên môn cho sinh viên sư phạm tại các trường đại học

2.6. Hoạt động rèn nghề sư phạm tại các trường đại học

2.7. Cơ sở thực tiễn

2.7.1. Thực trạng mức độ nhận thức và tiếp cận CĐHTCM của GiV ngành SPLS, SPLS và ĐL tại trường ĐHGD, ĐHQGHN

2.7.2. Thực trạng mức độ nhận thức và tiếp cận CĐHTCM của sv ngành SPLS, SPLS và ĐL tại trường ĐHGD, ĐHQGHN

2.8. TIÊU KẾT CHƯƠNG 1

3. CÁC BIỆN PHÁP XÂY DựNG CỌNG ĐỒNG HỌC TẬP CHO SINH VIÊN NGÀNH Sư PHẠM LỊCH sử, sư PHẠM LỊCH sử VÀ ĐỊA LÝ THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG RÈN NGHÈ TẠI TRƯỜNG ĐHGD - ĐHQGHN

3.1. Giới thiệu khái quát về chương trình đào tạo ngành Sư phạm Lịch sử, Sư phạm Lịch sử và Địa lý tại trường ĐHGD - ĐHỌGHN

3.1.1. Nội dung chương trình đào đạo ngành SPLS, SPLS và ĐL

3.1.2. Hoạt động thực tập sư phạm và rèn nghề tại trường ĐHGD, ĐHQGHN

3.2. Các biện pháp xây dựng CĐHTCM cho sv ngành SPLS, SPLS và ĐL thông qua các hoạt động rèn nghề tại trường ĐHGD - ĐHQGHN

3.2.1. Nguyên tắc xây dựng các biện pháp

3.2.2. Xây dựng CĐHTCM cho sv sư phạm thông qua hoạt động quan sát, dự giờ

3.2.3. Xây dựng CĐHTCM cho sv sư phạm thông qua các hoạt động tập giảng, mô phỏng giờ dạy thực tế

3.2.4. Xây dựng CĐHTCM cho sv sư phạm thông qua hoạt động tạo lập Teaching Portfolio

3.2.5. Xây dựng CĐHTCM cho sv thông qua hình thức học tập kết hợp (Blended Learning)

3.3. Thử nghiệm sư phạm

3.3.1. Mục đích thử nghiệm

3.3.2. Nội dung và phương pháp thử nghiệm

3.3.3. Tiến trình thử nghiệm

3.3.4. Kết quả thử nghiệm

3.4. TIẾU KẾT CHƯƠNG 2

KẾT LUẬN VÀ KHUYÊN NGHỊ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

MỞ ĐÀU

1. Lí do chọn đề tài

2. Lịch sử nghiên cún vấn đề

2.1. Tài liệu nưóc ngoài

2.2. Tài liệu trong nước

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Cộng Đồng Học Tập Sư Phạm Lịch Sử Địa lý

Cộng đồng học tập (CĐHT) là một nhóm người có chung mục tiêu, quan điểm học tập, thường xuyên cộng tác giải quyết vấn đề. McMillan và Chavis (1986) xác định ý thức cộng đồng qua bốn yếu tố: thành viên, ảnh hưởng, đáp ứng nhu cầu cá nhân và kết nối cảm xúc. CĐHT chuyên môn (CĐHTCM) nhấn mạnh hoạt động học tập chuyên môn, nâng cao năng lực cho một nhóm người có cùng mối quan tâm. Cộng đồng giáo viên Lịch sửCộng đồng giáo viên Địa lý hình thành nhằm mục tiêu đề xuất các biện pháp xây dựng một Cộng đồng giáo viên Lịch sử & Cộng đồng giáo viên Địa lý chuyên biệt cho sinh viên sư phạm khoa học xã hội. Nghiên cứu nhấn mạnh vào quá trình học tập liên tục (học tập chuyên nghiệp) trong một môi trường cụ thể (trường đại học) nhằm cải thiện năng lực chuyên môn cho các ứng viên giáo viên trong tương lai. CĐHTCM không phải là một khái niệm mới. Thuật ngữ này xuất hiện trong giới nghiên cứu vào năm 1960. Đến đầu những năm 1990, thuật ngữ này càng được phố biến mạnh mẽ hơn trong giới giảng dạy và giáo dục trên thế giới. Senge (1990) giới thiệu lại thuật ngữ “CĐHTCM” trong cuốn sách The Fifth Discipline. Cook và Yanow (1996) phát biểu rằng “CĐHTCM đề cập đến năng lực của những thành viên trong cộng đồng đó, trong tổ chức đó họ thực hiện những hoạt động bồi dưỡng chuyên môn gì, rèn luyện nghề ra sao và các cá nhân phải tự tổng hợp lại những gì họ đã được học.” Ở Việt Nam, Đoàn Nguyệt Linh và Phạm Thị Thanh Hải cho rằng CĐHT trước hết nên được hiểu từ góc độ xã hội là một nhu cầu gắn bó, liên kết của một nhóm người có cùng một mong muốn học tập dưới các hình thức học tập do nhóm chủ động lựa chọn hoặc xây dựng và ứng dụng.

1.1. Bản Chất và Đặc Điểm Của Cộng Đồng Học Tập

Cộng đồng học tập là tập hợp những người có chung chí hướng, mục tiêu. CĐHTCM là sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành. Các thành viên cùng nhau thảo luận, chia sẻ kiến thức. Mục tiêu cuối cùng là nâng cao chất lượng dạy và học. CĐHT giúp các thành viên phá bỏ những cách biệt, cùng nhau tiến bộ, và phát triển. Senge và cộng sự (2000) trong cuốn sách “School that Leam” cho rằng CĐHTCM là xây dựng văn hóa làm việc hợp tác, học tập chuyên nghiệp trong trường học giữa các GV trong cùng một bộ môn giảng dạy.

1.2. So Sánh Cộng Đồng Học Tập Với Các Hình Thức Sinh Hoạt Khác

CĐHTCM không đơn thuần là một cuộc họp của khoa hay bộ phận. CĐHTCM cũng không phải là phòng chức năng, cơ quan chuyên trách. CĐHTCM phù hợp hơn với việc cải tiến liên tục theo thời gian liên quan đến cải thiện năng lực chuyên môn và giải quyết các vấn đề mà GV gặp phải. CĐHTCM vượt lên trên các hình thức sinh hoạt chuyên môn truyền thống bằng cách tập trung vào nhu cầu học tập của các thành viên.

II. Thách Thức Xây Dựng Cộng Đồng Giáo Viên Lịch Sử Địa Lý

Việc xây dựng Cộng đồng giáo viên Lịch sửCộng đồng giáo viên Địa lý gặp nhiều thách thức. Nhiều trường đại học sư phạm còn hạn chế trong việc phát triển CĐHTCM. Các workshop, seminar còn mang tính hình thức. Việc nghiên cứu và xây dựng các cộng đồng nhằm cải thiện chuyên môn nghiệp vụ và phát triển năng lực nghề nghiệp cho các ứng viên GV còn rất khiêm tốn. Ngoài CĐHTCM dành cho GV tại chức, cũng có một số mô hình cộng đồng học tập dành cho GV dự bị dưới hình thức workshop hoặc các cuộc thi giảng dạy ở nhiều trường cao đẳng, đại học sư phạm và giáo dục. Chúng tạo cơ hội cho ứng viên sư phạm chuẩn bị cho trình độ cao hơn cho công việc giảng dạy trong tương lai và cũng đóng góp nhiều vào sự thành công của chất lượng đào tạo GV tại các trường. Tuy nhiên, có rất ít nghiên cứu xem xét tác động của hiệu quả các mô hình được gọi là CĐHTCM này với sự phát triển nghề nghiệp đối với các ứng viên GV.

2.1. Thiếu Nghiên Cứu Về Cộng Đồng Học Tập Sinh Viên Sư Phạm

Các nghiên cứu về CĐHTCM chủ yếu tập trung vào GV đang công tác. Các nghiên cứu về CĐHTCM cho sinh viên sư phạm còn hạn chế. Cần có thêm nghiên cứu để đánh giá tác động của CĐHTCM đến sự phát triển nghề nghiệp của sinh viên sư phạm.

2.2. Hạn Chế Về Nguồn Lực Và Cơ Sở Vật Chất

Việc xây dựng CĐHTCM đòi hỏi nguồn lực tài chính và cơ sở vật chất. Các trường đại học sư phạm có thể gặp khó khăn trong việc cung cấp đầy đủ nguồn lực cho CĐHTCM. Sự đầu tư vào Tài liệu dạy học Lịch sửTài liệu dạy học Địa lý còn nhiều hạn chế.

2.3. Thiếu Sự Tham Gia Tích Cực Từ Sinh Viên

Sự thành công của CĐHTCM phụ thuộc vào sự tham gia tích cực từ sinh viên. Một số sinh viên có thể không hứng thú hoặc không có thời gian tham gia CĐHTCM. Cần có biện pháp khuyến khích sinh viên tham gia CĐHTCM một cách tích cực.

III. Giải Pháp Xây Dựng Cộng Đồng Học Tập Hiệu Quả Cho SV

Để xây dựng CĐHTCM hiệu quả, cần có các giải pháp đồng bộ. Các giải pháp này bao gồm: Xây dựng chương trình đào tạo phù hợp, tăng cường hoạt động thực tế, tạo môi trường học tập cởi mở, và khuyến khích sự tham gia tích cực từ sinh viên. Một số hình thức tổ chức CĐHTCM có thể kể đến như Nghiên cứu bài học, các buổi chia sẻ Kinh nghiệm dạy Lịch sửKinh nghiệm dạy Địa lý, các diễn đàn trao đổi trực tuyến,...

3.1. Xây Dựng Chương Trình Đào Tạo Sư Phạm Linh Hoạt

Chương trình đào tạo cần được thiết kế linh hoạt để đáp ứng nhu cầu của sinh viên. Chương trình cần bao gồm các hoạt động thực tế, như kiến tập, thực tập sư phạm. Chương trình cũng cần khuyến khích sinh viên tham gia các hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển các Sáng kiến kinh nghiệm Lịch sửSáng kiến kinh nghiệm Địa lý.

3.2. Tăng Cường Hoạt Động Thực Tế Rèn Nghề Sư Phạm

Cần tăng cường các hoạt động thực tế để giúp sinh viên rèn luyện kỹ năng sư phạm. Các hoạt động này có thể bao gồm kiến tập, thực tập sư phạm, tham gia các dự án cộng đồng. Các hoạt động này giúp sinh viên áp dụng kiến thức vào thực tế, phát triển kỹ năng giải quyết vấn đề.

3.3. Ứng dụng CNTT trong dạy và học lịch sử địa lý

Ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) có thể giúp CĐHTCM hoạt động hiệu quả hơn. Các công cụ CNTT có thể được sử dụng để chia sẻ tài liệu, trao đổi thông tin, tổ chức các hoạt động trực tuyến. Ứng dụng CNTT giúp kết nối các thành viên CĐHTCM, tạo điều kiện cho sự hợp tác và chia sẻ. Ứng dụng CNTT trong dạy học Lịch sửCNTT trong dạy học Địa lý đang ngày càng phổ biến.

IV. Ứng Dụng Thực Tế Kết Quả Nghiên Cứu Về Cộng Đồng

Nghiên cứu về CĐHTCM cho thấy có nhiều tác động tích cực. CĐHTCM giúp nâng cao kiến thức chuyên môn, kỹ năng sư phạm, và sự tự tin của sinh viên. CĐHTCM cũng giúp tạo ra một môi trường học tập tích cực, khuyến khích sự hợp tác và chia sẻ. Các nghiên cứu chỉ ra sự cần thiết của việc Bồi dưỡng thường xuyên Lịch sửBồi dưỡng thường xuyên Địa lý cho giáo viên.

4.1. Cải Thiện Chất Lượng Dạy Và Học Trong Nhà Trường

CĐHTCM giúp cải thiện chất lượng dạy và học trong nhà trường. CĐHTCM giúp GV cập nhật kiến thức, áp dụng phương pháp dạy học mới. CĐHTCM cũng giúp HS được học tập trong một môi trường tích cực, khuyến khích sự sáng tạo.

4.2. Nâng Cao Năng Lực Chuyên Môn Của Giáo Viên

CĐHTCM giúp nâng cao năng lực chuyên môn của GV. CĐHTCM tạo cơ hội cho GV trao đổi kiến thức, kinh nghiệm. CĐHTCM cũng giúp GV cập nhật thông tin về các Phương pháp dạy học Lịch sử hiệu quảPhương pháp dạy học Địa lý hiệu quả.

4.3. Tạo Môi Trường Học Tập Hợp Tác Và Chia Sẻ

CĐHTCM tạo ra một môi trường học tập hợp tác và chia sẻ. CĐHTCM khuyến khích các thành viên chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm. CĐHTCM cũng tạo điều kiện cho các thành viên hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình học tập.

V. Kết Luận Và Tương Lai Của Cộng Đồng Học Tập

Xây dựng CĐHTCM là một quá trình lâu dài và liên tục. Để CĐHTCM hoạt động hiệu quả, cần có sự cam kết từ tất cả các thành viên. Cần có sự hỗ trợ từ nhà trường và các tổ chức liên quan. Cần có sự Đổi mới phương pháp dạy học Lịch sửĐổi mới phương pháp dạy học Địa lý để đáp ứng yêu cầu của xã hội hiện đại. Cần có các diễn đàn để Diễn đàn giáo viên Lịch sửDiễn đàn giáo viên Địa lý trao đổi kinh nghiệm.

5.1. Tầm Quan Trọng Của Sự Cam Kết Từ Các Thành Viên

Sự thành công của CĐHTCM phụ thuộc vào sự cam kết từ tất cả các thành viên. Các thành viên cần sẵn sàng chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm. Các thành viên cần sẵn sàng hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình học tập.

5.2. Vai Trò Của Nhà Trường Và Các Tổ Chức Liên Quan

Nhà trường và các tổ chức liên quan cần hỗ trợ CĐHTCM về nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất. Nhà trường và các tổ chức liên quan cần tạo điều kiện cho các thành viên CĐHTCM tham gia các hoạt động bồi dưỡng chuyên môn. Kiểm tra đánh giá Lịch sửKiểm tra đánh giá Địa lý cần được thực hiện thường xuyên và khách quan.

11/09/2025
Xây dựng cộng đồng học tập cho sinh viên ngành sư phạm lịch sử sư phạm lịch sử và địa lý thông qua hoạt động rèn nghề tại trường đại học giáo dục đại học quốc gia hà nội

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. Cơ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỤC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DựNG CỘNG ĐỒNG HỌC TẬP CHO SINH VIÊN NGÀNH sư PHẠM LỊCH sử, sư PHẠM LỊCH SỬ VÀ ĐỊA LÝ THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG RÈN NGHỀ TẠI TRƯỜNG ĐHGD-ĐHQGHN 1. Quan niệm về Cộng đồng học tập chuyên môn Cộng đồng học tập là thuật ngừ chỉ một nhóm người có chung mục tiêu, quan điếm học tập và gặp nhau bán thường xuyên đế cộng tác trong việc giải quyết các vấn đề liên quan trên lớp. Các nhà tâm lý học cộng đồng như McMillan và Chavis (1986) cho rằng bốn yếu tố chính xác định ý thức cộng đồng: ’’(1) thành viên, (2) ảnh hưởng, (3) đáp ứng nhu cầu cá nhân và (4) các sự kiện được chia sẻ và kết nối cảm xúc.

Những người tham gia cộng đồng học tập phải cảm nhận được sự chia sẻ và thuộc về nhóm (tư cách thành viên) thúc đẩy họ mong muốn tiếp tục làm việc và giúp đờ người khác. Ngoài ra, cộng đồng học tập phải tạo cơ hội cho những người tham gia đáp ứng các nhu cầu cụ thế (sự đáp ứng) bằng cách bày tỏ ý kiến cá nhân, yêu cầu trợ giúp hoặc chia sẻ và truyền đạt thông tin cụ thế và trải nghiệm cảm xúc (kết nối cảm xúc) Cụ thể hơn thuật ngừ cộng đồng học tập là CĐHTCM. Thuật ngữ CĐHTCM nhấn mạnh vào các hoạt động học tập chuyên môn của một lĩnh vực cụ thể, nhàm đáp ứng việc nâng cao năng lực cho một nhóm người có cùng một mối quan tâm. Do đó, nghiên cứu tập trung phân tích cơ sở lý luận dựa trên các nghiên cứu trước đó về CĐHTCM nhằm mục tiêu đề xuất được các biện pháp xây dựng một CĐHTCM chuyên biệt dành cho sv sư phạm khoa học xã hội.

Ớ đây, nghiên cứu nhấn mạnh vào quá trình học tập liên tục (học tập chuyên nghiệp trong lĩnh vực đào tạo GV) trong một môi trường cụ thế (trường đại học) nhằm cải thiện năng lực chuyên môn cho các ứng viên GV trong tương lai. CĐHTCM không phải là một khái niệm mới trên thế giới. Thuật ngữ này xuất hiện lần đầu tiên trong giới nghiên cứu nói chung và trong giáo dục nói riêng vào nãm 1960. Thuật ngữ CĐHTCM ra đời, nó đánh dấu bước chuyến thay thế cho sự đơn lập trong giảng dạy ở Hoa Kỳ.

Đến đầu những năm 1990, thuật ngữ này càng được phố biến mạnh mẽ hơn trong giới giảng dạy và giáo dục trên thế giới. Khái niệm về CĐHTCM xuất hiện tù’ nhiều 12 nguôn khác nhau, ơ một câp độ nào đó, nó được kêt nôi với các khái niệm vê các trường học tự rèn luyện và tự đánh giá cùa sv sư phạm. Senge (1990) đã giới thiệu lại thuật ngữ “CĐHTCM” trong cuốn sách The Fifth Discipline của mình. Các thành viên của CĐHTCM đã bị hấp dẫn với ý tưởng rằng trường học nên hướng đến việc học của GV cũng như việc học của HS.

Trên thực tế, nhiều nhà giáo dục tin rằng việc học tập của HS sẽ được cải thiện khi GV cũng tham gia vào các hoạt động học tập. Để đáp lại sự quan tâm, các nhà giáo dục đã thể hiện trong công việc của mình về các tồ chức học tập chuyổn môn cho GV. Cook và Yanow (1996) đã phát biều rằng “CĐHTCM đề cập đến năng lực của những thành viên trong cộng đồng đó, trong tổ chức đó họ thực hiện những hoạt động bồi dưỡng chuycn mồn gì, ren luyện nghề ra sao và các cá nhân phải tự tổng hợp lại nhũng gì họ đã được học. Nghĩa là một cộng đồng sở hữu nhừng kiến thức chuyên môn của riêng cộng đồng mình thì điều đó tạo nên CĐHTCM ’’(trang 438).

Senge và cộng sự (2000) trong cuốn sách “School that Leam” cho rằng CĐHTCM là xây dựng văn hóa làm việc hợp tác, học tập chuyên nghiệp trong trường học giữa các GV trong cùng một bộ môn giảng dạy. Văn hoá hợp tác sẽ giúp các GV học tập có hiệu quả hon là việc học riêng rẽ, nhấn mạnh hiệu quả của quá trình phát triển chuyên môn có hệ thống của các GV. Dufour and Eaker (1998) lại định nghĩa rằng: Mỗi từ cùa cụm từ “cộng đồng học tập chuyên môn” đã được chọn có mục đích. “Chuyên môn” là kiến thức và năng lực cúa một người trong một lĩnh vực nghề nghiệp, một cá nhân khồng chỉ theo đuối đào tạo nâng cao để tham gia lĩnh vực này, nhưng cũng là người được kỳ vọng sẽ tiếp tục duy trì nền tảng kiến thức đang phát triển của nó.

“Học tập” gợi ý hành động liên tục và sự tò mò vĩnh viễn. Trường học hoạt động với tư cách là một CĐHTCM công nhận rằng các thành viên của mình phải tham gia vào quá trinh nghiên cứu và thực hành liên tục, đặc trưng cho một tổ chức cam kết cải tiến liên tục. Trong một CĐHTCM, các nhà giáo dục tạo ra một môi trường thúc đẩy sự hợp tác lẫn nhau, hồ trợ tinh thần, phát triến cá nhân khi họ làm việc cùng nhau đế đạt được những gì họ khồng thể hoàn thành một mình, (tr. 13 Trong một bài viêt trên trang web CSAS “What are Professional Learning Communities?”, họ định nghĩa rằng CĐHTCM là một nhóm hợp tác gồm các nhà giáo dục làm việc cùng nhau đế cải thiện việc học tập của HS bằng cách cam kết cải tiến liên tục.

CĐHTCM có thể bao gồm các GV ở các lĩnh vực chủ đề khác nhau hoặc cùng một lĩnh vực, các cấp lớp hoặc các cấp lãnh đạo để đảm bảo tính nhất quán trong học tập và cảm xúc của HS. Ở Việt Nam, trong bài viết “Xây dựng cộng đồng học tập chuyên môn ở nhà trường phồ thông trong bối cảnh triển khai chương trình giáo dục phổ thông 2018” trên Tạp chí Giáo dục số 22 tập 6, tác giả Đoàn Nguyệt Linh và Phạm Thị Thanh Hải cho rằng “Cộng đồng học tập trước hết nên được hiểu từ góc độ xã hội là một nhu cầu gắn bó, liên kết của một nhóm người có cùng một mong muốn học tập dưới các hình thức học tập do nhóm chủ động lựa chọn hoặc xây dựng và ứng dụng. Thứ hai, cộng đồng học tập có thể được hiểu là một môi trường cho việc ứng dụng, áp dụng phương pháp cộng đồng tự học, tự hướng dẫn, tự tạo động lực và một xã hội học tập suốt đời”. Hai tác giả cũng đồng thời nêu lên nguồn gốc cùa cộng đồng học tập khi bắt đầu từ một ý tưởng đơn giản “đó là HS học được nhiều hơn khi cùng với GV có nhiều thời gian làm việc, chia sẻ ý tưởng với nhau nhiều hơn”.

Tác giả Trịnh Quốc Lập và Kevin Laws trong nghiên cứu “Phát triển năng lực nghề nghiệp thông qua việc xây dựng cộng đồng học tập” đưa ra các định nghĩa khác về cộng đồng học tập của Senge (1990) và Yamit (2000) rồi kết luận rằng đối với nghiên cứu của mình, hai tác giả sử dụng khái niệm cộng đồng học tập được hiểu theo theo góc độ là một tổ chức luôn tăng cường chất lượng nguồn nhân lực thông qua việc hợp tác với các đối tác nhằm học hỏi lẫn nhau và cùng phát triển năng lực nghề nghiệp. Cộng đồng chuyên môn được xem là một hình thức bồi dường GV thường xuyên và liên tục. Vì vậy, theo bà Silvija Pozenel - cố vấn Giáo dục Chiến lược của VVOB trên báo Giáo dục Thủ đô ngày 22 tháng 11 năm 2022 cho biết: “Vài thập kỷ gần đây, bồi dưỡng phát triến chuyên môn thông qua cộng tác đã thu hút nhiều sự quan tâm. Có nhiều định nghía về CĐHTCM.

Có một số điểm tương đồng trong việc xác định các đặc điểm chính 14 của khái niệm này. Chúng tôi áp dụng cách hiểu: CĐHTCM gồm một nhóm nhà giáo dục (giáo viên, cán bộ quản lí) cùng nhau thảo luận về các thách thức trong giảng dạy/quản lí. Họ cùng đưa ra các ý tưởng cải tiến có tính khả thi, thử nghiệm những ý tưởng này trong môi trường thực tế như: lớp học, hội đồng sư phạm. và đánh giá tính hiệu quả của các giải pháp trước khi áp dụng ở diện rộng và phổ biến cho các đồng nghiệp khác, để đảm bảo rằng: nhiều nhà giáo dục có thế hưởng lợi từ việc học này”.

Trong bộ tài liệu bồi dưỡng theo chuẩn chức danh nghề nghiệp giáo viên mầm non Hạng II của Nhà xuất bản Giáo dục, Chuyên đề 6: Xây dựng nhà trường thành cộng đồng học tập cũng đã đưa ra nhận định về cộng đồng học tập ra đời dựa trên quan niệm cho ràng hoạt động học diễn ra khi người học tham gia vào các hoạt động chung với người khác, vì mục tiêu chung, với mức độ và khả năng khác nhau. Chuyên đề này cũng đưa ra các biện pháp để xây dựng một nhà trường mầm non thành một cộng đồng học tập với các quy trình nghiêm ngặt từ các bước triển khai, các biện pháp đến các nhân tố có vai trò thiết yếu như hiệu trưởng và GV. Đồng thời chuyên đề này cũng hướng dẫn thực hành các biện pháp xây dựng cộng đồng học tập trong nhà trường mầm non thông qua các câu hỏi trả lời ngắn, các câu hởi kiềm tra có sự gợi mở. Tác giả Trần Thị Minh Huế trong bài viết “Xây dựng cộng đồng học tập trong trường mầm non” đưa ra khái niệm về cộng đồng học tập tương đối mới mẻ ràng cộng đồng học tập trong cơ sở giáo dục mầm non là cộng đồng, trong đó trẻ em học tập lẫn nhau và phát triên cùng nhau, GV, cán bộ quản lý học tập lẫn nhau và phát triến cùng nhau.

Cha mẹ trẻ em và cộng đồng địa phương hỗ trợ, tham gia vào các hoạt động phát triển nhà trường, học tập lẫn nhau và cùng thực hiện mục tiêu giáo dục trẻ. Góc độ này chù yếu giải thích khái niệm của một cộng đồng học tập trong phạm vị cơ sở giáo dục, cụ thế là giáo dục mầm non nên tác giả tập trung vào các yếu tố như nhà trường, cha mẹ trẻ em, giáo viên và địa phương. Từ khái niệm trên cho thấy hoạt động của cộng đồng học tập góp phần trực tiếp giúp cho mồi thành viên tham gia được thoả mãn nhu cầu học tập, cùng phát triến và qua đó thực hiện mục tiêu phát triển nhà trường, giúp nhà trường thực hiện hiệu quả nhiệm vụ. 15 CĐHTCM không phải là khái niệm mới, tuy nhiên ở Việt Nam vẫn chưa thực sự có nhiều tài liệu hay các nghiên cứu bài bản về vấn đề này.

Ờ Việt Nam, hiện nay mới chỉ có một số các bài viết, các bài báo hoặc nghiên cứu nhở thảo luận về vai trò hoặc các biện pháp xây dựng nói chung nhưng chưa có mô hình nào đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của một CĐHTCM khoa học và có tính thực tiễn cao.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ