CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN TRONG DOANH NGHIỆP 1. KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC TRƯNG CỦA CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN 1. Khái niệm chính sách kế toán Theo chuẩn mực kế toán số 29, ban hành và công bố theo Quyết định số 12/2005/QĐ-BTC ngày 15 tháng 02 năm 2005 của Bộ trưởng Bộ tài chính thuật ngữ “Chính sách kế toán” được định nghĩa là các nguyên tắc, cơ sở và phương pháp kế toán cụ thể được công ty áp dụng trong việc lập và trình bày BCTC. Các đặc trưng của chính sách kế toán Qua khái niệm cho thấy chính sách kế toán có những đặc trưng sau: Chính sách kế toán bao gồm những nguyên tắc kế toán cụ thể: Nguyên tắc kế toán được hiểu là các quy định, các thủ tục cho việc ghi nhận, đo lường các yếu tố của BCTC để việc lập BCTC đạt được độ tin cậy cao, dễ hiểu và dễ so sánh.
Các nguyên tắc nền tảng cho BCTC được gọi là các nguyên tắc kế toán chung được thừa nhận (Generally Accepted Accounting Principles – GAAP). Đây là những nguyên tắc chung có tính chất bắt buộc đối với tất cả các doanh nghiệp, như: nguyên tắc kỳ kế toán, nguyên tắc phù hợp, nguyên tắc giá gốc, nguyên tắc nhất quán, nguyên tắc thận trọng, cơ sở dồn tích… Các doanh nghiệp có thể vận dụng các nguyên tắc một cách linh hoạt nhưng nằm trong giới hạn cho phép để thay đổi các thông tin cung cấp ra bên ngoài nhằm đáp ứng mục tiêu của nhà quản trị, như: Chuyển sau các kỳ sau hoặc ghi nhận sớm hơn một số loại chi phí, như vậy sẽ làm giảm hoặc tăng chi phí của niên độ hiện tại. Những loại chi phí này có thể được ghi nhận vào kỳ phát sinh hoặc phân bổ cho một số kỳ theo nguyên tắc phù hợp, từ đó sẽ ảnh Luan van 9 hưởng đến lợi nhuận trong kỳ. Chính sách kế toán bao gồm những lựa chọn trong công tác kế toán tùy theo đặc thù và yêu cầu quản lý của mỗi đơn vị.
Do đặc điểm sản xuất kinh doanh mỗi doanh nghiệp là khác nhau nên các chuẩn mực kế toán luôn cho phép các doanh nghiệp lựa chọn một cách thức đo lường phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh của đơn vị mình. Việc lựa chọn và áp dụng các phương pháp khác nhau trong một chính sách kế toán sẽ làm thay đổi thông tin trình bày trên BCTC nhằm hướng đến các lợi ích khác nhau của doanh nghiệp như: thuế, lợi tức cổ đông, thu hút nhà đầu tư, vay vốn ngân hàng,… Ví dụ như: Với mỗi phương pháp xác định giá trị hàng xuất kho khác nhau (Bình quân, nhập trước – xuất trước, nhập sau – xuất trước, thực tế đích danh, giá kế hoạch) sẽ có kết quả giá vốn hàng bán khác nhau, từ đó ảnh hưởng đến lợi nhuận báo cáo trong kỳ; lựa chọn phương pháp khấu hao TSCĐ khác nhau (Đường thẳng, sản lượng, số dư điều chỉnh,…) sẽ cho giá trị khấu hao TSCĐ khác nhau trong kỳ và sẽ làm cho lợi nhuận trong kỳ báo cáo khác nhau giữa các phương pháp lựa chọn,… Chính sách kế toán bao gồm các ước tính kế toán. Ước tính kế toán là các khoản mục trên BCTC mà giá trị của chúng được ước tính chứ không thể đo lường một cách chính xác, điều này là do chuẩn mực không thể cụ thể hóa được tất cả các vấn đề phát sinh ở các đơn vị với tất cả các lĩnh vực. Các ước tính được sử dụng trong kế toán nhằm đảm bảo cho thông tin trên BCTC phản ánh một cách trung thực, đúng bản chất và hợp lý tình hình tài chính, tình hình kinh doanh của đơn vị.
Mức độ sử dụng các ước tính trong kế toán phụ thuộc nhiều vào các nguyên tắc kế toán là nền tảng xây dựng chuẩn mực kế toán của mỗi nước, phù hợp với mức độ phát triển kinh tế xã hội của quốc gia đó. Theo hệ thống chuẩn mực và chế độ kế toán Việt Nam hiện hành, các Luan van 10 ước tính kế toán chủ yếu hai loại sau: - Thứ nhất: Ước tính kế toán liên quan đến các nghiệp vụ đã phát sinh như: Khấu hao TSCĐ, phân bổ chi phí trả trước, ước tính doanh thu được ghi nhận theo hợp đồng xây dụng, các khoản dụ phòng về tổn thất tài sản (dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dự phòng đầu tư tài chính, dự phòng nợ phải thu khó đòi,… - Thứ hai: Ước tính liên quan đến các khoản mục chưa phát sinh như: Các khoản dự phòng về bảo hành sản phẩm, chi phí trả trước, dự phòng về tái cơ cấu doanh nghiệp,… Để đưa ra các ước tính này, người lập BCTC phải sử dụng các “xét đoán nghề nghiệp”. Vì xét đoán nên các ước tính này thường mang tính chủ quan, người sử dụng BCTC khó có sở sở để đánh giá tính hợp lý nên tính tin cậy các ước tính kế toán là vấn đề mà người sử dụng BCTC đặc biệt quan tâm. VAI TRÒ CỦA CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN - Đối với kế toán viên: Chính sách kế toán là cơ sở để thực hiện các công việc đo lường và công bố thông tin kế toán phù hợp với đặc điểm của từng đơn vị và quy định của pháp luật - Đối với nhà quản trị: Chính sách kế toán là phương tiện để kiểm soát hoạt động công ty bằng những mong muốn điều chỉnh lợi nhuận.
Từ đó các nhà quản trị có thể định hướng hoạt động, đưa ra phương thức nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh, chính sách tài trợ cho phù hợp và lập kế hoạch hoạt động của doanh nghiệp. - Đối với cơ quan thuế: Thông qua chính sách kế toán được công bố, là cơ sở để kiểm tra tính hợp pháp, hợp lý trong quy định về kế toán; đối chiếu với các quy định của thuế để xác định đúng nghĩa vụ của doanh nghiệp với nhà nước Luan van 11 - Đối với các đối tượng khác: Thông qua chính sách kế toán để đánh giá hoạt động của đơn vị, tính trung thực trong việc cung cấp các thông tin về tài chính của đơn vị. Những người chủ sở hữu doanh nghiệp sẽ quan tâm đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị, khả năng điều hành của nhà quản trị; những nhà đầu tư trong tương lai sẽ quan tâm đến sự an toàn của lượng vốn đầu tư, mức độ sinh lời, khả năng hoàn vốn để quyết định có nên đầu tư hay không. Do đó, việc vận dụng chính sách kế toán trong doanh nghiệp rất được quan tâm, vì nó ảnh hưởng đến số liệu trình bày trên BCTC của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo.
Doanh nghiệp có thể vận dụng linh hoạt các chính sách kế toán để quản trị lợi nhuận để phục vụ mục đích chủ quan của mình. Vì vậy việc nghiên cứu sự vận dụng các chính sách kế toán là rất cần thiết đối với các doanh nghiệp, nó giúp làm rõ hơn chất lượng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời giúp các đối tượng sử dụng BCTC của doanh nghiệp đánh giá hơn về thực trạng của doanh nghiệp và đưa ra các quyết định đúng đắn đối với doanh nghiệp. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC XÂY DỰNG CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN CỦA ĐƠN VỊ 1. Yếu tố đặc điểm sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Việc sử dụng các chính sách kế toán để điều chỉnh thông tin trên BCTC phụ thuộc vào hình thức sở hữu vốn của doanh nghiệp.Gopalakrishnan, các công ty không sử dụng vốn vay thường lựa chọn phương pháp kế toán làm tăng thu nhập nhiều hơn so với các doanh nghiệp có sử dụng vốn vay [12, tr.
Hai giả thuyết được sử dụng rộng rãi trong các tài liệu về lựa chọn chính sách kế toán là: (1) Lý thuyết nợ/vốn chủ sở hữu: nếu các yếu tố khác không thay đổi, tỷ lệ nợ/vốn chủa sở hữu các công ty càng lớn thì càng nhiều khả năng quản lý các công ty chọn phương pháp kế Luan van 12 toán nhằm chuyển đổi thu nhập báo cáo từ kỳ tương lai về kỳ hiện tại; và (2) Giả thuyết về quy mô: nếu các yếu tố khác không đổi, quy mô của công ty càng lớn thì càng nhiều khả năng các nhà quản lý công ty lựa chọn các phương pháp kế toán nhằm trì hoãn thu nhập báo cáo từ kỳ hiện tại sang các kỳ sau. Các doanh nghiệp có đặc điểm kinh doanh khác nhau thì sẽ vận dụng chính sách kế toán khác nhau để điều chỉnh thông tin trên BCTC. Chẳng hạn, các doanh nghiệp có hàng tồn kho chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị tài sản thì sẽ vận dụng chính sách kế toán liên quan đến hàng tồn kho để điều chỉnh, như: phương pháp tính giá xuất kho của hàng tồn kho, việc trích lập dự phòng giảm giá của hàng tồn kho; nếu doanh nghiệp có giá trị TSCĐ chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp thì sẽ vận dụng chính sách kế toán liên quan đến TSCĐ, như: phương pháp trích khấu hao TSCĐ, phân bổ chi phí trả trước (nếu không trích trước chi phí sửa chữa TSCĐ), chi phí phải trả (nếu trích trước chi phí sửa chữa TSCĐ) để điều chỉnh thông tin; nếu doanh nghiệp sản xuất thì sẽ vận dụng các chính sách kế toán liên quan đến việc đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ; các doanh nghiệp xây lắp sẽ quan tâm đến chính sách ước lượng phần trăm công việc hoàn thành (với các hợp đồng ghi nhận doanh thu theo tiến độ kế hoạch) để ghi nhận doanh thu và chi phí,… Thông thường doanh nghiệp thường vận nhiều chính sách kế toán để điều chỉnh thông tin trên BCTC phù hợp với mục đích của doanh nghiệp. Yếu tố mục tiêu quản lý Quản trị lợi nhuận là hành động điều chỉnh lợi nhuận kế toán của nhà quản trị doanh nghiệp nhằm đạt được lợi nhuận mục tiêu thông qua công cụ kế toán, tùy theo mục tiêu khác nhau của các nhà quản trị mà có thể điều chỉnh lợi nhuận tăng hay giảm.
Khi tình hình kinh tế tốt đẹp thì doanh nghiệp thường đạt lợi nhuận cao hơn so với kế hoạch, Ban quản lý thường có xu Luan van 13 hướng để dành lợi nhuận sang kỳ sau; ngược lại khi kinh tế khó khăn, doanh nghiệp không đạt được lợi nhuận so với kế hoạch hoặc bị lỗ Ban quản lý thường có xu hướng đẩy chi phí sang kỳ sau nhằm giảm lỗ. Mục đích cuối cùng của họ là làm cho thông tin trên BCTC tốt đẹp và phù hợp đúng với mọi thời điểm và các đối tượng sử dụng BCTC. Các mục tiêu quản trị lợi nhuận của doanh nghiệp dựa trên cơ sở các mục tiêu tài chính trong ngắn hạn, dài hạn.