Chương 1 : Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài. Chương 2 : Xây dựng và sử dụng câu hỏi cốt lõi trong dạy học Sinh học 11 THPT. Chương 3 : Thực nghiệm Sƣ phạm. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.
Tổng quan nghiên cứu đề tài 1. Trên thế giới Trên thế giới đã có nhiều tác giả đề cập tới câu hỏi(CH). Trong đó có một số tác giả ở Liên Xô cũ nhƣ : Socolovskaia, Abramova, Kadosnhicov, Laixeva, O.Karlinxki 1975, 1979 đã đề cập đến vai trò, phƣơng pháp xây dựng, sử dụng CH trong dạy học phổ thông. Tuy nhiên các tác giả đó chủ yếu soạn câu hỏi dựa vào từng phần, từng chƣơng, mục theo SGK chứ chƣa đi sâu vào cơ sở lí luận của việc thiết kế và sử dụng CH một cách cụ thể Những năm 70 ở Pháp các tài liệu về lí luận dạy học đã khuyến khích tăng cƣờng sử dụng CH để rèn luyện tính chủ động của HS.
Họ xem CH vừa là nội dung, vừa là phƣơng pháp, vừa là mục tiêu dạy học. Ở Việt Nam Nhiều tác giả nhƣ: Đinh Quang Báo, Nguyễn Đức Thành, Trần Bá Hoành, Trần Hồng Hải, Lê Đình Trung, Đặng Hữu Lanh, Nguyên Minh Công, Bùi Văn Sâm, Vũ Tam Điệp… đã đề cập đến các CH trong các tài liệu giáo khoa, tham khảo. Các tài liệu này sắp xếp CH theo từng chƣơng hoặc phân loại theo nguồn kiến thức có tác dụng trong việc ôn luyện và khắc sâu kiến thức. Với vai trò như một biện pháp dạy học CH được nhiều tác giả đề cập đến như : - Đinh Quang Báo.
Sử dụng câu hỏi, bài tập trong dạy học sinh học. - Đinh Quang Báo, Nguyễn Đức Thành. Lý luận dạy học sinh học phần đại cƣơng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.Tám đổi mới để trở thành giáo viên dạy giỏi( ngƣời dịch Lê Văn Canh).NXB Giáo Dục.
- Đinh Quang Báo, Đặng Thị Dạ Thủy, Đỗ Thị Phƣợng, Nguyễn Thị Nghĩa.Một số vấn đề về phƣơng pháp giảng dạy sinh học. Kĩ thuật dạy học sinh học: đề cập đến việc sử dụng CH trong phƣơng pháp vấn đáp - Trần Văn Kiên.Nguyên tắc và qui trình xây dựng câu hỏi trong dạy học.Tạp chí giáo dục 28/2003. Trong những năm gần đây cũng có nhiều đề tài của nhiều tác giả đề cập đến CH ở các khía cạnh khác nhau như : - Đề tài “Xây dựng và sử dụng câu hỏi-bài tập để tích cực hóa hoạt động học của học sinh trong dạy học chƣơng I phần di truyền học sinh học 12 THPT”. Luận văn thạc sĩ khoa học của tác giả Khuất Duy Hùng.
- Đề tài“Xây dựng và sử dụng CH tự lực để góp phần nâng cao chất lƣợng dạy học biến dị” của tác giả Nguyễn Thị Quy. - Đề tài “Sử dụng CH kích thích tƣ duy tích cực và công tác độc lập với SGK để phát huy tính tích cực của HS trong học phần kĩ thuật nông nghiệp” của tác giả Nguyễn Đình Tuấn (2001). - Đề tài “Sử dụng CH-BT để tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh trong dạy học sinh thái học lớp 11 THPT” của tác giả Lê Thanh Oai (2001) - Đề tài “Xây dựng và sử dụng CH tự lực phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học phần tiến hóa 12” của tác giả Nguyễn Thị Khiên (2004) - Đề tài “Xây dựng CH-BT hƣớng dẫn HS quan sát phƣơng tiện trực quan trong dạy học sinh học chƣơng III, IV Sinh học tế bào, chƣơng II, III Sinh học vi sinh vật , Sinh học 10 SGK thí điểm bộ 2” của tác giả Trần Bảo Linh (2004) - Đề tài “Xây dựng và sử dụng CH trắc nghiệm khách quan MCQ để nâng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cao chất lƣợng dạy học bộ môn Di truyền học ở các trƣờng Cao đẳng Sƣ phạm” của tác giả Vũ Đình Luận (2005) - Đề tài “Sử dụng CH-BT đê hình thành và phát triển khái niệm trong dạy học Sinh thái học” của tác giả Nguyễn Trung Thành(2005) - Đề tài “Xây dựng CH-BT để tổ chức hoạt động học tập tự lực của HS trong dạy học Sinh thái học” của tác giả Đỗ Thị Phƣợng (2005) - Đề tài “Rèn luyện kĩ năng xây dựng CH cho sinh viên khoa sinh đại học sƣ phạm thông qua hƣớng dẫn dạy học sinh học 10 - THPT” của tác giả Đỗ Thị Tố Nhƣ (2007)- Đề tài “Xây dựng và sử dụng CH-BT chƣơng II phần di truyền học nhằm tích cực hóa hoạt động của HS lớp 12 THPT” của tác giả Nguyễn Trung Thành (2009) - Đề tài “Rèn luyện kĩ năng suy luận trong bồi dƣỡng HSG phần di truyền học bậc THPT” của tác giả Hoàng Thị Hòa (2010). - Đề tài “ Sử dụng CH cốt lõi để dạy học Phần sinh học Tế bào, sinh học 10 Nâng cao, THPT.
Nhƣ vậy, trên thế giới cũng nhƣ ở Việt Nam đã có rất nhiều tác giả đề cập đến vai trò của CH trong dạy học. Chúng tôi thấy rằng các tác giả đều rất đề cao vai trò của CH trong dạy học. Tuy nhiên việc xây dựng hệ thống câu hỏi cốt lõi trong dạy học sinh học còn rất h ạn chế, chƣa đƣợc quan tâm đúng với vai trò của nó, đây là một trong những nguyên nhân làm cho quá trình dạy-học chƣa đạt hiệu quả cao. Với đề tài “Xây dựng và sử dụng câu hỏi cốt lõi trong dạy học Sinh học 11 THPT ” của chúng tôi sẽ đóng góp một phần vào hệ thống CH đƣợc xây dựng trƣớc đây, làm tiền đề cho việc biên soạn một hệ thống CH cốt lõi dùng để dạy học nói chung và dạy học sinh học nói riêng góp phần nâng cao hiệu quả giảng dạy.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Khái niệm câu hỏi Khái niệm về CH có nhiều cách hiểu khác nhau: - Theo quan điểm của Arixtot là ngƣời đầu tiên phân tích CH dƣới góc độ logic, ông cho rằng: Câu hỏi là một mệnh đề trong đó có chứa đựng cả cái đã biết và cái chƣa biết.Câu hỏi đó là bài làm mà khi hoàn thành chúng học sinh phải tiến hành hoạt động tái hiện, có thể trả lời miệng, trả lời viết hoặc có thể kèm theo thực hành hoặc xác minh bằng thực nghiệm [8] - Đề-Các cho rằng, không có CH thì không có tƣ duy cá nhân cũng nhƣ không có tƣ duy nhân loại. Ông cũng nhấn mạnh dấu hiệu bản chất của CH là phải có mối quan hệ giữa cái đã biết và cái chƣa biết. Phải có tỉ lệ phù hợp giữa 2 đại lƣợng đó thì chủ thể mới nhận thức , mới xác định đƣợc phƣơng hƣớng mình phải làm gì để trả lời CH đó.
Khi chủ thể nhận thức đã định rõ cái mình đã biết và cái mình chƣa biết thì lúc đó mới đặt đƣợc CH và lúc đó CH mới thực sự trở thành sản phẩm của nhận thức. - Theo Trần Bá Hoành [5] “ Câu hỏi kích thích tƣ duy là câu hỏi đặt ra trƣớc HS một nhiệm vụ nhận thức, khích lệ và đòi hỏi họ cố gắng trí tuệ cao nhất, tự lực tìm ra câu trả lời bằng cách vận dụng các thao tác tƣ duy so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa. Qua đó tập lĩnh hội kiến thức mới, đồng thời tập dƣợt các phƣơng pháp nghiên cứu, phƣơng pháp giải quyết vấn đề, có đƣợc niềm vui của sự khám phá”. - CH là một dạng cấu trúc ngôn ngữ để diễn đạt một yêu cầu, một đòi hỏi, một mệnh lệnh mà ngƣời học cần giải quyết.
- CH là kiểu câu nghi vấn nhằm làm rõ, giải thích, nhận xét, đánh giá thông tin, phân tích, so sánh những gì liên quan đến sự vật và bản thân sự vật dƣới hình thức trả lời, đáp trả [ 3]. CH cốt lõi CH cốt lõi khác với các loại CH khác ở chỗ chúng mang tính phổ quát, đòi hỏi nhiều nội dung trả lời mở. Các CH cốt lõi giúp ta thấy rằng tri thức là sự LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tìm kiếm liên tục và nó chính là cái làm cho cuộc sống của ta đáng sống[9] Dấu hiệu đặc trƣng nhất của CH cốt lõi là đề cập đến khía cạnh cốt lõi, trọng tâm của đối tƣợng, hiện tƣợng nghiên cứu, tìm hiểu. Do tính cốt lõi nên CH đó liên quan đến nhiều yếu tố, nhiều đặc điểm, quan hệ của đối tƣợng nghiên cứu.
Cũng vì vậy mà phạm vi thông tin cần huy động để tìm câu trả lời rộng hơn. Đó là lý do vì sao CH cốt lõi là CH mở (mở về thông tin huy động vận dụng, mở về định hƣớng trả lời,…) Tóm lại, CH vừa là sản phẩm của một hoạt động của nhận thức vừa là động lực tìm tòi tri thức. Trong quá trình dạy học CH phải nhằm vào mục đích phát triển tƣ duy, phát triển khả năng tích cực và chủ động của HS. Do đó, yêu cầu của CH không phải là liệt kê nội dung trong SGK mà phải là những CH có nội dung phân tích, giải thích, chứng minh, so sánh, khái quát hóa.
Vai trò của CH và CH cốt lõi 1. Vai trò của CH Câu hỏi là công cụ “mã hóa” nội dung dạy học nói chung và “mã hóa” nội dung SGK nói riêng mà hoạt động tìm câu trả lời của HS là câu “giải mã” - CH có vai trò định hƣớng hoạt động tự lực nghiên cứu SGK của HS, lúc này SGK là nguồn tƣ liệu không thể thiếu để HS tra cứu, phân tích tìm lời giải, qua đó nâng cao vai trò của SGK trong DH, đồng thời CH giúp HS hình thành kỹ năng đọc sách, đọc tài liệu tham khảo. - CH luôn đặt HS vào tình huống có vấn đề vào chủ thể quá trình nhận thức, buộc HS giải quyết các mâu thuẫn, tích cực chủ động lĩnh hội tri thức thông qua việc nghiên cứu SGK và trả lời CH. Nhƣ vậy CH đã đóng vai trò quan trọng trong việc đƣa HS vào chủ thể quá trình nhận thức, qua đó khắc phục tình trạng DH lấy GV làm trung tâm.
- CH đƣợc GV thiết kế phù hợp với năng lực nhận thức của HS, là yếu tố quan trọng tham gia vào quá trình hình thành tri thức mới cho HS. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - CH phát huy năng lực tự nghiên cứu tài liệu, phát triển năng lực tƣ duy, sáng tạo của HS. - CH giúp hình thành kiến thức cho học sinh một cách có hệ thống. Nhƣ vậy, CH vừa là nội dung, vừa là phƣơng tiện, phƣơng pháp, biện pháp tổ chức quá trình DH, giúp kiểm tra đánh giá kết quả đạt đƣợc của mục tiêu và điều chỉnh quá trình tiến tới mục tiêu DH [4].