Tổng quan nghiên cứu

Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, trong 6 tháng đầu năm 2016, Việt Nam có khoảng 5.500 doanh nghiệp phá sản, tăng 17% so với cùng kỳ năm 2015. Số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động là 31.119 doanh nghiệp, tăng 15% so với cùng kỳ. Tổng số doanh nghiệp phá sản, tạm ngừng hoạt động 6 tháng đầu năm 2016 đạt 36.600 doanh nghiệp, bình quân mỗi tháng có hơn 6.000 doanh nghiệp phá sản, tạm ngừng hoạt động, mỗi ngày có hơn 200 doanh nghiệp phá sản, tạm đóng cửa. So với số doanh nghiệp phá sản, tạm ngừng hoạt động 6 tháng đầu năm 2015 là 31.700 doanh nghiệp, con số 6 tháng năm 2016 tăng gần 5.000 doanh nghiệp, đáng nói có hơn 5.100 doanh nghiệp phá sản có quy mô vốn đăng ký khoảng 10 tỷ đồng.

Nghiên cứu này tập trung vào việc xác định tài sản có của thương nhân mất khả năng thanh toán theo pháp luật phá sản ở Việt Nam, một vấn đề còn nhiều bất cập trên cả phương diện lập pháp và thực tiễn. Luật Phá sản số 51/2014/QH13 chưa có những quy phạm pháp lý trực tiếp đề cập tới vấn đề này, mà chỉ được nêu ra dưới góc độ khoa học pháp lý và thuộc tài sản phá sản của doanh nghiệp, hợp tác xã nói chung.

Mục tiêu của nghiên cứu là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến pháp luật về xác định tài sản có của thương nhân theo pháp luật phá sản ở Việt Nam, từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành. Nghiên cứu được thực hiện trong giai đoạn 2015-2016, tập trung vào các quy định pháp luật Việt Nam có liên quan đến hoạt động xác định tài sản có của thương nhân mất khả năng thanh toán.

Nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng trong việc góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về xác định tài sản có của thương nhân mất khả năng thanh toán theo pháp luật phá sản, tạo cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các quy phạm pháp luật doanh nghiệp thương mại trong thực tiễn, nhằm ổn định môi trường kinh doanh thương mại cũng như tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho các nhà đầu tư.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu này dựa trên hai lý thuyết chính: lý thuyết về thương nhân trong pháp luật thương mại và lý thuyết về phá sản trong pháp luật kinh tế. Về khái niệm thương nhân, nghiên cứu phân tích các quy định tại Điều 6 Luật Thương mại 2005, theo đó thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh. Thương nhân phải có các đặc điểm pháp lý đặc trưng: thực hiện hành vi thương mại, thực hiện hành vi thương mại độc lập mang danh nghĩa chính mình và vì lợi ích của bản thân, thực hiện các hành vi thương mại mang tính nghề nghiệp thường xuyên, có năng lực hành vi thương mại và có đăng ký kinh doanh.

Về khái niệm thương nhân mất khả năng thanh toán, nghiên cứu dựa trên quy định tại khoản 1 Điều 4 Luật Phá sản năm 2014: "Doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán là doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán". Từ đó, nghiên cứu đề xuất khái niệm: "Thương nhân mất khả năng thanh toán là tình trạng của thương nhân bị mất cân đối trong cán cân thanh toán, theo đó thương nhân mắc nợ không thực hiện hoặc không thể thực hiện nghĩa vụ thanh toán hoặc ngừng các hoạt động thanh toán đối với khoản nợ đến hạn trong một thời hạn nhất định theo quy định của pháp luật kể từ ngày đến hạn thanh toán".

Về khái niệm tài sản có của thương nhân mất khả năng thanh toán, nghiên cứu đề xuất: "Tài sản có của thương nhân mất khả năng thanh toán là một bộ phận cấu thành của khối tài sản phá sản, bao gồm toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp hoặc quyền sử dụng hợp pháp của thương nhân phục vụ hoạt động thương mại, trừ một số tài sản do pháp luật quy định. Tài sản này được xác định từ thời điểm Tòa án quyết định mở thủ tục phá sản cho đến khi kết thúc vụ việc, và nó được sử dụng để thực hiện các nghĩa vụ của thương nhân mất khả năng thanh toán đối với các chủ nợ".

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp luận biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác-Lênin dựa trên đường lối quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về chính sách kinh tế - xã hội và các nội dung khác có liên quan. Trong những trường hợp cụ thể, tác giả kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu phù hợp như thống kê, so sánh, tổng hợp, phân tích nhằm kết hợp nhuần nhuyễn giữa kiến thức lý luận và thực tiễn.

Nguồn dữ liệu của nghiên cứu bao gồm các quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam có liên quan đến xác định tài sản có của thương nhân mất khả năng thanh toán, các công trình nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước về vấn đề này, và thực tiễn áp dụng pháp luật trong các vụ việc phá sản cụ thể tại Việt Nam. Phương pháp phân tích dữ liệu bao gồm phân tích định tính và định lượng các quy định pháp luật, so sánh với pháp luật một số nước trên thế giới, và đánh giá thực tiễn thi hành pháp luật.

Quá trình nghiên cứu được thực hiện trong 12 tháng (từ tháng 1/2015 đến tháng 12/2015) với các bước chính: thu thập tài liệu, phân tích lý luận, nghiên cứu thực trạng pháp luật, nghiên cứu thực tiễn áp dụng, và đề xuất giải pháp. Cỡ mẫu nghiên cứu thực tiễn bao gồm 50 vụ việc phá sản tại các Tòa án ở Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh và Đà Nẵng, được chọn theo phương pháp chọn mẫu có mục đích để đảm bảo tính đại diện cho các loại hình doanh nghiệp khác nhau. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích so sánh là để đánh giá ưu điểm, hạn chế của các quy định pháp luật Việt Nam so với pháp luật một số nước phát triển.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng pháp luật Việt Nam hiện hành chưa có định nghĩa chính thức về tài sản có của thương nhân mất khả năng thanh toán, mà chỉ quy định gián tiếp thông qua việc liệt kê các loại tài sản thuộc khối tài sản phá sản tại Điều 64 Luật Phá sản năm 2014. Cụ thể, tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán bao gồm: tài sản và quyền tài sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã có tại thời điểm Tòa án quyết định mở thủ tục phá sản; tài sản và quyền tài sản có được sau ngày Tòa án ra quyết định mở thủ tục phá sản; giá trị tài sản bảo đảm vượt quá khoản nợ có bảo đảm mà doanh nghiệp, hợp tác xã phải thanh toán cho chủ nợ có bảo đảm; giá trị quyền sử dụng đất của doanh nghiệp, hợp tác xã được xác định theo quy định của pháp luật về đất đai; tài sản thu hồi từ hành vi che giấu, tẩu tán tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã; tài sản và quyền tài sản có được do thu hồi từ giao dịch vô hiệu; và các tài sản khác theo quy định của pháp luật.

Thứ hai, nghiên cứu phát hiện có 4 nguyên tắc cơ bản trong việc xác định tài sản có của thương nhân mất khả năng thanh toán: (1) Xác định thời điểm tiến hành giải quyết vụ việc phá sản; (2) Xác định nguồn tài sản, loại hình tài sản; (3) Xác định phạm vi không gian mà tài sản có của thương nhân mất khả năng thanh toán đang hiện hữu; và (4) Xác định tài sản loại trừ. Trong đó, pháp luật Việt Nam quy định hai thời điểm xác định tài sản có của thương nhân: tại thời điểm Tòa án quyết định mở thủ tục phá sản và sau ngày Tòa án ra quyết định mở thủ tục phá sản, tương đồng với pháp luật phá sản của Hoa Kỳ, Đức, Nga và Trung Quốc.

Thứ ba, nghiên cứu chỉ ra rằng thời hạn kiểm kê và xác định tài sản có của thương nhân mất khả năng thanh toán theo quy định tại Điều 65 Luật Phá sản 2014 là 30 ngày kể từ ngày nhận được quyết định mở thủ tục phá sản, có thể gia hạn nhưng không quá 02 lần, mỗi lần không quá 30 ngày. Tuy nhiên, quy định này còn bất cập khi không xác định rõ thời hạn gửi bảng kiểm kê tài sản đã được xác định giá trị cho Tòa án, dẫn đến khó khăn trong việc xác định nghĩa vụ của thương nhân trên thực tế.

Thứ tư, nghiên cứu phát hiện rằng việc xác định các khoản nợ phải thu hồi của thương nhân mất khả năng thanh toán phải được niêm yết công khai trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày ra quyết định mở thủ tục phá sản, sau đó các bên có 05 ngày để đề nghị Thẩm phán xem xét sửa đổi, bổ sung danh sách người mắc nợ, và Thẩm phán có 03 ngày để xem xét giải quyết đề nghị. Quy định này tiến bộ hơn so với Luật Phá sản 2004 nhưng vẫn còn một số bất cập trong thực tiễn áp dụng.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện trên cho thấy pháp luật Việt Nam về xác định tài sản có của thương nhân mất khả năng thanh toán đã có nhiều tiến bộ, đặc biệt là Luật Phá sản năm 2014 đã tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế. Tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế cần khắc phục. Nguyên nhân của những hạn chế này xuất phát từ việc hệ thống pháp luật Việt Nam về phá sản còn tương đối mới, chỉ được xây dựng từ những năm 1990, trong khi ở các nước phát triển, hệ thống pháp luật này đã có lịch sử phát triển hàng trăm năm.

So với các nghiên cứu trước đây như của TS. Nguyễn Thanh Tịnh (2008) về "Thực trạng pháp luật về phá sản và việc hoàn thiện môi trường pháp lý đầu tư tại Việt Nam", nghiên cứu này đã đi sâu hơn vào vấn đề xác định tài sản có của thương nhân mất khả năng thanh toán - một khía cạnh cụ thể nhưng quan trọng trong thủ tục phá sản. Nghiên cứu cũng bổ sung các kiến nghị cụ thể về hoàn thiện pháp luật, đặc biệt là đề xuất bổ sung định nghĩa về tài sản có của thương nhân mất khả năng thanh toán vào Luật Phá sản.

Ý nghĩa của các kết quả nghiên cứu là cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam về xác định tài sản có của thương nhân mất khả năng thanh toán theo pháp luật phá sản, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ nợ, đồng thời tạo điều kiện cho thương nhân có khả năng phục hồi hoạt động kinh doanh. Các kết quả nghiên cứu cũng có thể được trình bày qua biểu đồ so sánh các quy định pháp luật Việt Nam với pháp luật một số nước về thời điểm xác định tài sản có của thương nhân, và bảng phân loại các tài sản thuộc khối tài sản có của thương nhân mất khả năng thanh toán.

Đề xuất và khuyến nghị

Để hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về xác định tài sản có của thương nhân mất khả năng thanh toán, nghiên cứu đề xuất các giải pháp sau:

Một là, bổ sung định nghĩa về tài sản có của thương nhân mất khả năng thanh toán vào Luật Phá sản. Cụ thể, cần bổ sung một điều khoản mới định nghĩa rõ ràng: "Tài sản có của thương nhân mất khả năng thanh toán là toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp hoặc quyền sử dụng hợp pháp của thương nhân phục vụ hoạt động thương mại, được xác định từ thời điểm Tòa án quyết định mở thủ tục phá sản cho đến khi kết thúc vụ việc, và được sử dụng để thực hiện các nghĩa vụ của thương nhân mất khả năng thanh toán đối với các chủ nợ, trừ các tài sản do pháp luật quy định loại trừ". Giải pháp này cần được Bộ Tư pháp chủ trì, trình Quốc hội thông qua trong kỳ họp năm 2018, nhằm đảm bảo tính thống nhất và rõ ràng trong áp dụng pháp luật.

Hai là, sửa đổi, bổ sung quy định về thời hạn gửi bảng kiểm kê tài sản đã được xác định giá trị cho Tòa án tại Điều 65 Luật Phá sản 2014. Cụ thể, cần quy định rõ thời hạn gửi là "trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày hoàn thành việc kiểm kê và xác định giá trị tài sản". Giải pháp này cần được Bộ Tư pháp chủ trì, trình Chính phủ ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung trong năm 2017, nhằm khắc phục tình trạng thương nhân chậm trễ trong việc gửi bảng kiểm kê tài sản cho Tòa án.

Ba là, hoàn thiện quy định về thời hạn xác định các khoản nợ phải thu hồi của thương nhân mất khả năng thanh toán. Cần bổ sung quy định về thời hạn cụ thể để xác định danh sách người mắc nợ sau khi hết thời hạn niêm yết và xem xét đề nghị sửa đổi, bổ sung. Giải pháp này cần Tòa án nhân dân tối cao chủ trì, ban hành Nghị quyết hướng dẫn áp dụng pháp luật trong năm 2017, nhằm đảm bảo tính thống nhất trong áp dụng pháp luật trên toàn quốc.

Bốn là, tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về xác định tài sản có của thương nhân mất khả năng thanh toán cho đội ngũ Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Quản tài viên và doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản. Cần xây dựng chương trình đào tạo chuyên sâu về nghiệp vụ xác định tài sản trong thủ tục phá sản, tổ chức ít nhất 02 lớp tập huấn mỗi năm cho các đối tượng liên quan. Giải pháp này cần Học viện Tư pháp và Viện Khoa học Pháp lý chủ trì, triển khai trong giai đoạn 2017-2020, nhằm nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ cán bộ có liên quan.

Năm là, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về tài sản của thương nhân mất khả năng thanh toán. Cần triển khai hệ thống thông tin điện tử quản lý thông tin về tài sản của thương nhân mất khả năng thanh toán, kết nối giữa Tòa án, cơ quan Thi hành án dân sự và cơ quan đăng ký kinh doanh. Giải pháp này cần Bộ Tư pháp và Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì, triển khai trong giai đoạn 2018-2020, nhằm tăng cường hiệu quả quản lý và thu hồi tài sản của thương nhân mất khả năng thanh toán.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn này là nguồn tài liệu quý giá cho nhiều nhóm đối tượng khác nhau. Đối với các nhà nghiên cứu, giảng viên trong lĩnh vực pháp luật kinh tế, đây là tài liệu tham khảo quan trọng khi nghiên cứu về pháp luật phá sản Việt Nam, đặc biệt là vấn đề xác định tài sản có của thương nhân mất khả năng thanh toán - một khía cạnh còn nhiều bất cập trong pháp luật hiện hành. Luận văn cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn để phát triển các nghiên cứu sâu hơn về lĩnh vực này.

Đối với các sinh viên luật, đặc biệt là sinh viên chuyên ngành Luật kinh tế, luận văn là tài liệu học tập hữu ích để hiểu rõ về quy trình xác định tài sản trong thủ tục phá sản, các nguyên tắc và bước tiến hành xác định tài sản có của thương nhân mất khả năng thanh toán. Sinh viên có thể sử dụng luận văn làm tài liệu tham khảo cho các khóa luận tốt nghiệp, bài nghiên cứu khoa học liên quan đến pháp luật phá sản.

Đối với các Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Quản tài viên và doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản, luận văn cung cấp kiến thức chuyên sâu và các giải pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả công tác xác định tài sản có của thương nhân mất khả năng thanh toán trong thực tiễn. Các chuyên gia này có thể ứng dụng các kiến thức từ luận văn để giải quyết các vướng mắc trong quá trình xử lý các vụ việc phá sản.

Đối với các doanh nghiệp và nhà đầu tư, luận văn giúp hiểu rõ về quy định pháp luật liên quan đến tài sản trong thủ tục phá sản, từ đó có phương án quản lý tài sản hiệu quả, giảm thiểu rủi ro khi gặp khó khăn tài chính. Đặc biệt, các doanh nghiệp đang có dấu hiệu mất khả năng thanh toán có thể tham khảo luận văn để hiểu rõ về quy trình xác định tài sản, từ đó có phương án xử lý phù hợp.

Câu hỏi thường gặp

  1. Tài sản có của thương nhân mất khả năng thanh toán được xác định dựa trên những nguyên tắc nào? Theo nghiên cứu, có 4 nguyên tắc cơ bản trong việc xác định tài sản có của thương nhân mất khả năng thanh toán: (1) Xác định thời điểm tiến hành giải quyết vụ việc phá sản; (2) Xác định nguồn tài sản, loại hình tài sản; (3) Xác định phạm vi không gian mà tài sản có của thương nhân mất khả năng thanh toán đang hiện hữu; và (4) Xác định tài sản loại trừ. Ví dụ, pháp luật Việt Nam quy định hai thời điểm xác định tài sản: tại thời điểm Tòa án quyết định mở thủ tục phá sản và sau ngày Tòa án ra quyết định mở thủ tục phá sản.

  2. Thời hạn kiểm kê và xác định tài sản có của thương nhân mất khả năng thanh toán theo quy định của pháp luật Việt Nam là bao lâu? Theo Điều 65 Luật Phá sản 2014, thời hạn kiểm kê và xác định tài sản có của thương nhân mất khả năng thanh toán là 30 ngày kể từ ngày nhận được quyết định mở thủ tục phá sản. Trong trường hợp cần thiết, thương nhân có thể đề nghị Thẩm phán gia hạn nhưng không quá 02 lần, mỗi lần không quá 30 ngày. Tuy nhiên, quy định này chưa xác định rõ thời hạn gửi bảng kiểm kê tài sản đã được xác định giá trị cho Tòa án.

  3. Tài sản nào thuộc khối tài sản có của thương nhân mất khả năng thanh toán theo quy định của Luật Phá sản 2014? Theo Điều 64 Luật Phá sản 2014, tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán bao gồm: tài sản và quyền tài sản tại thời điểm Tòa án quyết định mở thủ tục phá sản; tài sản có được sau ngày Tòa án ra quyết định mở thủ tục phá sản; giá trị tài sản bảo đảm vượt quá khoản nợ có bảo đảm; giá trị quyền sử dụng đất; tài sản thu hồi từ hành vi che giấu, tẩu tán tài sản; tài sản thu hồi từ giao dịch vô hiệu; và các tài sản khác theo quy định của pháp luật.

  4. Việc xác định tài sản có của thương nhân mất khả năng thanh toán có ý nghĩa gì? Việc xác định tài sản có của thương nhân mất khả năng thanh toán có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo toàn sự nguyên vẹn của khối tài sản có, tránh sự thất thoát hư hỏng. Đồng thời, đây là cơ sở để các bên liên quan xem xét lựa chọn và quy định một thủ tục thích hợp để giải quyết tình trạng làm ăn thua lỗ của thương nhân, hướng tới đảm bảo lợi ích cho các chủ nợ. Ví dụ, việc xác định chính xác tài sản có giúp đánh giá khả năng phục hồi của thương nhân, từ đó quyết định áp dụng thủ tục phục hồi hay thanh lý tài sản.

  5. Pháp luật Việt Nam về xác định tài sản có của thương nhân mất khả năng thanh toán có những hạn chế nào? Pháp luật Việt Nam hiện hành chưa có định nghĩa chính thức về tài sản có của thương nhân mất khả năng thanh toán, mà chỉ quy định gián tiếp thông qua việc liệt kê các loại tài sản thuộc khối tài sản phá sản. Thời hạn gửi bảng kiểm kê tài sản đã được xác định giá trị cho Tòa án chưa được quy định rõ ràng, dẫn đến khó khăn trong việc xác định nghĩa vụ của thương nhân. Ngoài ra, quy định về thời hạn xác định các khoản nợ phải thu hồi còn bất cập trong thực tiễn áp dụng, gây chậm trễ trong quá trình giải quyết thủ tục phá sản.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về xác định tài sản có của thương nhân mất khả năng thanh toán theo pháp luật phá sản ở Việt Nam, bao gồm các khái niệm về thương nhân, thương nhân mất khả năng thanh toán và tài sản có của thương nhân mất khả năng thanh toán.
  • Nghiên cứu đã chỉ ra 4 nguyên tắc cơ bản trong việc xác định tài sản có của thương nhân mất khả năng thanh toán: xác định thời điểm tiến hành giải quyết vụ việc phá sản; xác định nguồn tài sản, loại hình tài sản; xác định phạm vi không gian mà tài sản có đang hiện hữu; và xác định tài sản loại trừ.
  • Luận văn đã phân tích thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật về xác định tài sản có của thương nhân mất khả năng thanh toán ở Việt Nam, chỉ ra những bất cập và hạn chế trong các quy định hiện hành.
  • Nghiên cứu đã đề xuất 5 nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về xác định tài sản có của thương nhân mất khả năng thanh toán, bao gồm cả giải pháp hoàn thiện pháp luật và giải pháp về tổ chức thực hiện.
  • Các kết quả nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng trong việc góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về xác định tài sản có của thương nhân mất khả năng thanh toán theo pháp luật phá sản, tạo cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các quy phạm pháp luật trong thực tiễn. Trong giai đoạn 2017-2020, cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về vấn đề này và theo dõi việc áp dụng các giải pháp đã đề xuất.