CHƯƠNG 1: MOT SÓ VAN DE LÝ LUẬN VE XÁC ĐỊNH TÀI SAN RIÊNG CỦA VỢ, CHỎNG 141. Khái niệm và đặc điểm chế độ tài sản cửa vợ chẳng. Hiện nay, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và các văn bản hướng dẫn đã thé hiện rat rố rang quan điểm của Nhà nước trong việc điều chỉnh các mỗi quan hệ x4 hội trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình. Những quy định đó đã chỉ ra bao gôm: quan hệ nhân thân, quan hệ tai sản giữa vợ va chồng, giữa cha me và con cái, giữa các người than trong gia đính và các chủ thé nói trên với người chiếm hữu ngay tình nhằm mục đích hướng tới việc xây dựng và duy trì một nên tang gia đình đối với xã hôi với tinh than tự nguyên, bình dang giữa các chủ thé có liên quan.
Trong đó yếu tô về tai sẵn được coi la yêu td rất quan trong bởi 1é tài sản là cơ sở kinh tế giúp gia đỉnh thực hiện các giao dịch, trao đôi dé ton tại và phát triển, ngoài ra kinh tế còn giúp thực hiện được các chức năng cơ bản của gia đình trong xã hôi. Bởi vậy, chế định điều chỉnh chế độ tai sản của vợ chồng chính là một trong những chế định quan trong và cơ bản nhất của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan. Câu hỏi can được đặt ra dau tiên khi nhắc tới chế đô tai sản của vợ chông là “tai sản 1a gi” theo pháp luật Việt Nam. Vậy có thé hiểu được tai sản là vat, giây tờ, tiền va quyên tai sản dựa theo quy định tại Điêu 105 trong Bộ luật dân sự 2015.
Bên cạnh do tại khoản 2 Điêu 105 Bộ luật dan sự 2015 cũng đã quy định rằng “Tai sản bao gôm bat động sản và đông sản. Bat đông sẵn và động sản có thể là tải sản hiện có hoặc tài sản được hình thành trong tương lai Khi nhắc tới chế độ tai sản của vợ chong, ta có thé hiểu rằng: chế độ tai sản của vo chông là tông hợp các quy phạm pháp luật điêu chỉnh về (sở hữu) tai sản của vợ chồng, bao gồm các quy định thỏa thuận về chế độ tai sản của vợ chồng, vé căn cứ xác lập tải sản, quyên và nghĩa vụ của vo chong đối với tài sản chung, tải sản riêng. Các trường hợp và nguyên tắc chia tải sản giữa vợ và chông theo luật định Dựa vào những tính chất, mục đích khi hôn nhân được xác lap, những điều kiện kinh tế - xã hội, phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa thi chế dé tai sản của vợ chồng được dựliêu để Nha nước quy định trong pháp luật sao cho phù hợp, hợp lý với bôi cảnh của xã hội hiện nay. Trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã quy định có hai loai chế độ tai sản của vơ chông: Thứ nhất là chế độ tài sản của vo chông theo théa thuận (từ Điều 47 đến Điều 50 và Điều 59), Thứ hai là chế độ tai sản vợ chông theo luật định (Từ Điêu 33 đến Điêu 46 và Điều 50 đến Điều 64).
Dé phủ hợp với sư phát triển về kinh tế - xã hội, Luật Hôn nhân va gia định năm 2014 đã ghi nhận vê chê đô tai sản của vợ chông theo thỏa thuận, dam bão với sự tương thích với pháp luật các quốc gia khác trong bối cảnh hội nhập và phát triển như hiên nay. Cùng với sự ghi nhân đó, Luật Hôn nhân va gia đình năm 2014 đã cho phép trước khi kết hôn, vợ và chông déu có quyên thỏa thuận xác lap chế đô tài san nhằm chi phối toan bộ quyên sở hữu tai san của vợ chồng trong thời kì hôn nhân. Các loại chế độ tài sản của vợ chong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã quy định rõ hơn về hai loại chế độ tai sản của vợ chông bao gôm chế đô tai sản của vợ chong theo thỏa thuận và chế độ tai sản của vợ chong theo luật định Với việc đã ghi nhân và quy định vê chế độ tai sản của vợ chẳng theo thöa thuận (Điều 47 đến Điều 50 và Điều 50), các điều kiện dé xác lập chế đô tai sản vo chồng theo thỏa thuận đã được quy định ré với việc trường hợp hai * Nguyễn văn Cừ, Chế độ tải sản cia vợ chồng theo pháp luật hôn nhân vả gia đình việt Nam, Nxb. 9 bên kết hôn lựa chọn chế đô tải sản theo thỏa thuận phải lập trước khi kết hôn bằng hình thức văn bản có đấu công chứng hoặc chứng thực.
Có thé hiểu rang, văn bản thöa thuận về chế độ tai sản của vo chông là một giao dịch dân sự (hợp đồng), vậy nên thöa thuận phải tuân thủ các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sựtheo các quy định tại Điều 117 Bô luật đân sự 2015. Luật đã quy định tương đối cụ thé đối với van về thỏa thuận xác lập chế độ tải sản của vợ chông, những nôi dung cơ bản của thỏa thuận, việc sửa đổi, bỏ sung nội dung của thỏa thuận và thỏa thuận về chế độ tai sản của vợ chồng bị vô hiệu. Đây có thé xem 1a một bước đổi mới rõ rệt của Luật Hôn nhân vả gia đình năm 2014 so với luật cũ, với việc các quy định về chế độ tai sản của vợ chông theo thỏa thuận là quy định hoàn toàn mới, được xuất hiện trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Chê độ tai sản theo luật định được Nha nước quy định tại các Điều 33 đến Điều 46 và từ Điều 50 đên Điêu 64 tại Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Dựa trên cơ sở của các quy định chê độ tải sản của vợ chồng theo luật định tại Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 và năm 2000, tại Luật Hôn nhân va gia đình năm 2014 đã kế thừa và ghi nhận chế đô tài sản của vợ chông theo luật định theo chế độ cộng đồng tạo sản. Cụ thể luật đã quy định về tải sản chung, tai sản riêng của vợ và chông, thêm vảo đó la những quy định cụ thé về thỏa thuận nhập tai sản riêng vào khôi tai sản chung của hai vợ chông hoặc chia tai sản chung trong thời kì hôn nhân. Vậy có thé hiểu rằng, chế đô tai sản theo luật định 1a chế độ tai sản mà trong đó pháp luật quy định cu thể về căn cứ xác định tai sản của vợ chông, các quyên vả nghĩa vụ của vợ, chồng đồi với tài sản đó và việc thực hiện các giao dịch giữa vợ, chông và người thứ ba Tai sản chung của vợ, chồng gôm tài sin do vợ, chồng tao ra, thu nhập do lao động, hoạt đông san xuất kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài san riêng va thu nhập hợp pháp khác trong thời ky hôn nhân, tai sản ma vợ chông được thừa kê chung, được tang cho chung và tai sản khác mà vợ chong thỏa thuận là tai sản chung, quyên sử dụng dat ma vợ chồng có được sau khi 10 kết hôn là tai sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chéng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dich bang tai sản riêng (Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014). Tài sản riêng của vơ, chông gồm tai sản ma mỗi người có trước khi kết hôn, tai sản được thừa kế riêng, được tăng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân, tài sản được chia riêng cho vo, chông do vợ, chong théa thuận chia một phan hoặc toàn bộ tải sản chung, tai sản phục vụ nhu cau thiết yếu của vợ, chong và tai sản khác ma theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chéng (Điều 43 Luật hôn nhân và gia đính năm 2014) 1.
Khái niệm vẻ tài sản riêng của vợ, chong. Trong thời kỳ phát triển như hiện nay, chế đô tai sin vợ chéng đã được các nha lam luật quy định sao cho phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hôi, truyền thông vả các nguyên vọng của những cặp vo chong. Việc quy định tai sản chung, riêng của vợ chồng đã được luật Hôn nhân và gia đình quy định một cách khách quan nhằm cu thể hóa các quy định về chế đô tải san của vo, chông trong Bộ luật Dân sự. Trong đó đã thé hiện được rõ rang ý chi của Nha nước đôi với việc điều chỉnh các quan hệ tai sin của vo chong vì khi đó sé phan anh được điều kiện vật chat của xã hội, dam bao sự phủ hợp, hải hòa về lợi ích, ý chí và lợi ích chính đáng của các cặp vo chông hiện nay.
Ngay từ những ngày đâu tiên sau khi giải phóng miễn Nam thông nhất dat nước, Luật Hôn nhân và gia định năm 1986 của Nha nước đã ghi nhận việc vo, chong có tai sản Tiêng của mỗi người, được tiếp tục kê thửa trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Việc ghi nhận nảy hoản toàn phù hop với điều kiện phát triển kinh tế, xã hội và nguyện vọng của vợ chong khi dam bao được tai sản riêng của vo, chông Trước năm 1086, Nhả nước chưa có khái niệm về tài sản riêng của vợ, chong vi xã hội thời bây giờ là thời kì bao cap vi đó là thời kì hầu hết sinh hoạt kinh tế đều được Nha nước chi trả, diễn ra dưới nên kinh tê kế hoạch n hóa, kinh tế tư nhân hóa bị xóa bỏ, nhường chỗ cho khối kinh tế tap thé va kinh tế nha nước. Điều đó được thé hiện tại Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 khi được quy định rằng vợ và chông đêu có quyên sở hữu, thụ hưởng và sử dụng ngang nhau đối với tải sản có trước và có sau khi cưới. Khi xã hội Việt Nam bat đầu bước vào thời kì đổi mới khi không còn lả thời kì bao cập thì Luật Hôn nhân va gia đình năm 1086 đã lan đầu tiên ghi nhận việc vợ va chông có tải sản riêng.
Với việc tiếp tục kê thừa trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã quy định vẻ tải sản riêng của vợ, chồng vô cing tiến bộ và cần thiết trong đời sóng xã hội hiện nay. Cùng với sự phát triển của nên kinh tế thì khối lượng tải sẵn trong các trao đổi, giao dich cá nhân, xã hôi cũng tăng lên đáng kể.