Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Luật Hôn nhân và Gia đình của tác giả Lương Quang Thái (Trường Đại học Luật Hà Nội, người hướng dẫn khoa học: PGS. Nguyễn Văn Cừ, năm 2024) tiếp cận vấn đề sở hữu tài sản của cá nhân trong quan hệ hôn nhân. Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, gia đình không chỉ là tế bào tình cảm mà còn là chủ thể tham gia thường xuyên vào các giao dịch dân sự, kinh tế. Việc xác định rõ quyền sở hữu tài sản riêng độc lập của mỗi bên vợ, chồng là cơ sở vật chất cần thiết để cá nhân chủ động thực hiện các hoạt động nghề nghiệp, kinh tế mà không phụ thuộc tuyệt đối vào người còn lại. Mặc dù Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 đã kế thừa và hoàn thiện nhiều quy định so với các văn bản trước đây, các vụ việc tranh chấp tài sản giữa vợ và chồng trong thực tiễn xét xử và thi hành án dân sự vẫn gia tăng về số lượng và tính chất phức tạp.

Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về xác định tài sản riêng của vợ, chồng theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, từ đó chỉ ra những vướng mắc và đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật hiện hành, nâng cao hiệu quả áp dụng thực tế.

Để thực hiện mục đích trên, khóa luận đặt ra ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Làm rõ những vấn đề lý luận về chế độ tài sản riêng của vợ, chồng theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
  2. Phân tích các quy định của pháp luật hiện hành về căn cứ xác định tài sản riêng của vợ, chồng, làm sáng tỏ các vấn đề về cơ sở pháp lý, nguyên tắc xác định tài sản riêng theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
  3. Đánh giá thực tiễn áp dụng và hoàn thiện pháp luật về quyền sở hữu tài sản riêng của vợ, chồng theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, đề xuất các biện pháp khắc phục điểm hạn chế.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các vấn đề lý luận liên quan đến chế định tài sản riêng của vợ, chồng theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và thực tiễn áp dụng các quy định này. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào hệ thống quy phạm pháp luật thực định Việt Nam điều chỉnh quan hệ tài sản riêng của vợ chồng (trọng tâm là Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Bộ luật Dân sự năm 2015 cùng các văn bản hướng dẫn thi hành) và các bản án, tình huống tranh chấp thực tế tại Tòa án nhân dân và cơ quan Thi hành án dân sự.

Cơ sở pháp lý và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở pháp lý và lý thuyết dựa trên các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành và các công trình khoa học chuyên ngành:

  • Văn bản pháp luật nền tảng: Hiến pháp năm 2013 (Điều 32 về quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế, Điều 51 về bảo hộ tài sản hợp pháp của cá nhân); Bộ luật Dân sự năm 2015 (Điều 105 về khái niệm tài sản, Điều 117 về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự, Điều 160 và Điều 163 về quyền sở hữu); Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 (Điều 33 đến Điều 46 về chế độ tài sản luật định, Điều 47 đến Điều 50 về chế độ tài sản theo thỏa thuận, Điều 43 về căn cứ tài sản riêng, Điều 45 về nghĩa vụ riêng, Điều 59 về giải quyết tài sản khi ly hôn); Nghị định số 126/2014/NĐ-CP (Điều 11 về tài sản riêng khác, Điều 14 về hậu quả của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân); Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2022); cùng các văn bản pháp luật lịch sử như Sắc lệnh số 159/SL, Sắc lệnh số 97/SL năm 1950, Luật Hôn nhân và Gia đình các năm 1959, 1986, 2000.
  • Tài liệu khoa học kế thừa: Khóa luận kế thừa các công trình nghiên cứu trước đó, tiêu biểu như luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Quyền (2017), Đào Thị Tuyết (2016), Trần Ngọc Mỹ (2020); giáo trình và các bài viết chuyên khảo của PGS.TS. Nguyễn Văn Cừ (2015, 2018); bài nghiên cứu của tác giả Phan Vạn Quốc.

Tác giả vận dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý:

  • Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử: Đánh giá quan hệ tài sản trong bối cảnh phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
  • Phương pháp lịch sử: Phân tích sự hình thành và biến đổi của các quy định về tài sản riêng của vợ chồng qua các giai đoạn lập pháp tại Việt Nam.
  • Phương pháp phân tích, bình luận, so sánh: Làm rõ bản chất lý luận, so sánh đối chiếu giữa chế độ tài sản chung và tài sản riêng, giữa Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 với các luật trước đây.
  • Phương pháp so sánh luật học, thống kê, đánh giá, tổng hợp: Khái quát thực trạng áp dụng pháp luật, phân tích các bản án thực tiễn và xây dựng các luận cứ đề xuất hoàn thiện quy định.

Nguồn dữ liệu sử dụng trong công trình gồm hệ thống văn bản luật thực định, các án văn thực tế do Tòa án nhân dân các cấp xét xử (TAND tỉnh Cà Mau, TAND huyện Gò Công Đông - Tiền Giang, TAND TP. Hồ Chí Minh, Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao) và dữ liệu nghiệp vụ thi hành án dân sự được phản ánh trên báo chí chuyên ngành.

Nội dung chính theo từng chương

Chương Tên chương theo văn bản Nội dung trọng tâm
Chương 1 Một số vấn đề lý luận về xác định tài sản riêng của vợ, chồng Khái niệm, đặc điểm chế độ tài sản; 2 loại chế độ tài sản (thỏa thuận và luật định); 4 đặc điểm của tài sản riêng; ý nghĩa pháp lý; quá trình phát triển quy định qua các thời kỳ lịch sử (1950, 1959, 1986, 2000, 2014).
Chương 2 Quy định của pháp luật về căn cứ xác định tài sản riêng của vợ, chồng theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 Phân tích 5 nhóm căn cứ xác định tài sản riêng (tài sản có trước hôn nhân, thừa kế/tặng cho riêng, chia từ tài sản chung, tài sản thiết yếu, tài sản khác theo luật định) và chế định xác định nghĩa vụ riêng về tài sản theo Điều 45.
Chương 3 Thực tiễn áp dụng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về xác định tài sản riêng của vợ, chồng theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 Đánh giá ưu điểm và những vướng mắc trong xét xử, thi hành án (định giá tài sản, nghĩa vụ trả nợ, tranh chấp quyền sử dụng đất hộ gia đình); phân tích các vụ án cụ thể; đề xuất 4 nhóm kiến nghị hoàn thiện.

CHƯƠNG 1: Một số vấn đề lý luận về xác định tài sản riêng của vợ, chồng

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về chế độ tài sản của vợ chồng. Tài sản theo Điều 105 Bộ luật Dân sự năm 2015 gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản; bao gồm bất động sản và động sản (hiện có hoặc hình thành trong tương lai). Chế độ tài sản của vợ chồng là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ sở hữu giữa vợ và chồng. Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 phân định hai loại chế độ tài sản:

  • Chế độ tài sản theo thỏa thuận (Điều 47 đến Điều 50, Điều 59): Phải được lập trước khi kết hôn bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực, tuân thủ điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự theo Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015.
  • Chế độ tài sản theo luật định (Điều 33 đến Điều 46, Điều 50 đến Điều 64): Xây dựng trên nền tảng chế độ cộng đồng tạo sản, quy định rõ phạm vi tài sản chung (Điều 33) và tài sản riêng (Điều 43).

Tác giả xác định tài sản riêng của vợ, chồng có 4 đặc điểm lý luận cơ bản:

  1. Là chế định pháp lý bảo vệ quyền sở hữu tài sản độc lập của mỗi bên, không bị thay đổi hay phương hại bởi hành vi của bên còn lại (trừ trường hợp luật định).
  2. Thể hiện sự tiến bộ trong việc tôn trọng quyền sở hữu cá nhân và bình đẳng giới; quyền định đoạt chỉ bị giới hạn khi hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng là nguồn sống duy nhất của gia đình.
  3. Chủ sở hữu tài sản riêng phải là cá nhân người vợ hoặc người chồng trong thời kỳ hôn nhân hợp pháp.
  4. Có giới hạn nhất định về quyền, nghĩa vụ và căn cứ xác định; các thỏa thuận nhằm trốn tránh nghĩa vụ tài sản sẽ bị Tòa án tuyên bố vô hiệu.

Về tiến trình lập pháp, khóa luận chỉ ra sự chuyển biến qua các thời kỳ: Sắc lệnh 159/SL và Sắc lệnh 97/SL năm 1950 đặt nền móng về bình đẳng tài sản; Luật năm 1959 áp dụng chế độ toàn sản (không thừa nhận tài sản riêng, mọi tài sản có trước hoặc trong hôn nhân đều là tài sản chung theo Điều 16 và Điều 29); Luật năm 1986 lần đầu tiên chính thức ghi nhận tài sản riêng của vợ chồng trên nguyên tắc cộng đồng tạo sản; Luật năm 2000 cụ thể hóa phạm vi; và Luật năm 2014 hoàn thiện chế định, bổ sung chế độ tài sản thỏa thuận.

CHƯƠNG 2: Quy định của pháp luật về căn cứ xác định tài sản riêng của vợ, chồng theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014

Chương 2 đi sâu phân tích 5 nhóm căn cứ luật định xác lập tài sản riêng theo Điều 43 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và các quy định liên quan:

  1. Tài sản mỗi bên có trước khi kết hôn: Căn cứ Điều 32, Điều 51 Hiến pháp năm 2013 và Điều 160, Điều 163 Bộ luật Dân sự năm 2015, việc kết hôn hợp pháp không làm chấm dứt hay chuyển dịch quyền sở hữu tài sản đã tạo lập hợp pháp trước đó của cá nhân thành tài sản chung, trừ khi hai bên tự nguyện thỏa thuận nhập vào khối tài sản chung.
  2. Tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân: Xuất phát từ ý chí định đoạt của chủ tài sản chuyển giao cho riêng một bên. Trường hợp tặng cho chung hoặc thừa kế chung nhưng có phân định tỷ lệ phần trăm cụ thể thì phần tỷ lệ đó là tài sản riêng của mỗi bên.
  3. Tài sản được chia từ tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân: Căn cứ Điều 38, Điều 40 Luật năm 2014 và Điều 14 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP, phần tài sản được chia và hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng sau khi chia là tài sản riêng của mỗi bên (trừ khi có thỏa thuận khác). Điều 42 quy định các trường hợp phân chia bị vô hiệu nhằm bảo vệ người thứ ba, chống tẩu tán tài sản trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng, nợ nần, bồi thường, phá sản.
  4. Tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng: Thay thế quy định về "đồ dùng, tư trang cá nhân" của Luật năm 2000 bằng khái niệm rộng hơn theo Khoản 20 Điều 3 (nhu cầu sinh hoạt thông thường về ăn, mặc, ở, học tập, khám chữa bệnh...).
  5. Tài sản khác thuộc sở hữu riêng theo quy định của pháp luật: Điều 11 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP quy định gồm: quyền tài sản đối với đối tượng sở hữu trí tuệ (theo Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ); tài sản xác lập theo bản án, quyết định của Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền; khoản trợ cấp, ưu đãi người có công với cách mạng; và các quyền tài sản khác gắn liền với nhân thân.

Chương này cũng phân tích chế định nghĩa vụ riêng về tài sản theo Điều 45 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, bao gồm 4 nhóm nghĩa vụ: nghĩa vụ có trước khi kết hôn; nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng; nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do một bên xác lập không vì nhu cầu của gia đình; và nghĩa vụ phát sinh từ hành vi vi phạm pháp luật của một bên. Đồng thời, Khoản 4 Điều 44 quy định giới hạn: khi tài sản riêng được đưa vào sử dụng chung mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản đó là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản riêng phải có sự đồng ý của cả hai vợ chồng.

CHƯƠNG 3: Thực tiễn áp dụng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về xác định tài sản riêng của vợ, chồng theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014

Chương 3 chỉ ra các vướng mắc phổ biến trong công tác xét xử và thi hành án:

  • Khó khăn trong việc xác định giá trị thị trường của tài sản tranh chấp khi hội đồng định giá thiếu cơ sở giao dịch thực tế.
  • Khó khăn trong việc thu thập chứng cứ chứng minh nghĩa vụ nợ riêng do tập quán vay mượn bằng miệng hoặc giấy viết tay không ghi rõ mục đích vay và không có chữ ký của cả hai bên.
  • Tranh chấp quyền sử dụng đất và nhà ở có nguồn gốc cha mẹ cho ở nhờ hoặc tuyên bố cho bằng miệng nhưng chưa hoàn tất thủ tục sang tên theo quy định của Luật Đất đai và Bộ luật Dân sự.
  • Khó khăn trong công tác thi hành án dân sự đối với tài sản cấp cho "hộ gia đình" dựa trên sổ hộ khẩu cũ (ví dụ trường hợp ông T tại Sóc Trăng phải thi hành 70 triệu đồng nhưng đất cấp cho hộ 7 thành viên, cha mẹ đã mất và gia đình không chia thừa kế dẫn đến chấp hành viên bị ách tắc).

Chương 3 dẫn chứng và phân tích các vụ án cụ thể:

  • Bản án số 38/2018/DS-PT (ngày 26/01/2018 của TAND tỉnh Cà Mau): Ông T và bà Huỳnh Bích T kết hôn năm 1984. Năm 1987, ông T nhận chuyển nhượng $16.090\text{ m}^2$ đất từ bà 7 Giang và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1996 đứng tên ông. Khi cơ quan THADS huyện Trần Văn Thời kê biên để thi hành nợ riêng của bà T, ông T khởi kiện yêu cầu công nhận đây là tài sản riêng vì mua bằng vàng cha mẹ cho. TAND tỉnh Cà Mau đã bác bỏ yêu cầu của ông T do tài sản tạo lập trong thời kỳ hôn nhân theo Khoản 1 Điều 33 Luật HN&GD năm 2014 và ông không cung cấp được chứng cứ chứng minh nguồn tiền riêng.
  • Bản án sơ thẩm số 251/2020/HNGD-ST (ngày 27/07/2020 của TAND huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang): Vụ kiện giữa anh Đỗ Thanh T và chị Trương Thị Diễm H (kết hôn năm 2013). Tòa án chấp nhận công nhận thửa đất số 320, tờ bản đồ số 20, diện tích $3.288\text{ m}^2$ (Giấy chứng nhận số CS09097 ngày 04/4/2022) là tài sản riêng của anh T do có nguồn gốc từ bà nội (Trần Thị Đ) tặng cho riêng anh năm 2014, có xác nhận của các bên liên quan và cha mẹ ruột của chị H.
  • Vụ án ly hôn giữa ông Đặng Lê Nguyên Vũ và bà Lê Hoàng Diệp Thảo (TAND TP.HCM xử sơ thẩm 2019, Quyết định Giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao năm 2021): Khối tài sản chung hơn 7.900 tỷ đồng được phân chia theo tỷ lệ đóng góp (ông Vũ 60%, bà Thảo 40%). Cụ thể, bà Thảo nhận 7 khu đất trị giá 375 tỷ đồng và hơn 1.500 tỷ đồng tiền gửi ngân hàng; ông Vũ nhận 6 khu đất trị giá hơn 350 tỷ đồng cùng toàn bộ cổ phần, vốn góp tại Tập đoàn Trung Nguyên trị giá hơn 5.600 tỷ đồng (thanh toán lại chênh lệch cho bà Thảo hơn 1.300 tỷ đồng). Vụ án cho thấy sự cần thiết của việc xác lập thỏa thuận chế độ tài sản để tránh tranh chấp kéo dài.

Từ thực trạng trên, tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp hoàn thiện:

  1. Bổ sung các căn cứ và hướng dẫn cụ thể về việc xác định tài sản riêng của vợ, chồng.
  2. Hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến việc hạn chế quyền sở hữu tài sản riêng trong các trường hợp bảo vệ quyền lợi gia đình.
  3. Nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ, công chức tại Tòa án và cơ quan Thi hành án dân sự.
  4. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật nhằm nâng cao nhận thức của người dân về thỏa thuận tài sản và việc xác lập chứng cứ sở hữu.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả nghiên cứu và đóng góp học thuật cụ thể:

  • Hệ thống hóa các căn cứ pháp lý và thực tiễn: Khóa luận đã phân loại và phân tích chi tiết 5 nhóm căn cứ xác lập tài sản riêng và 4 nhóm nghĩa vụ riêng về tài sản theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 kết hợp các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Nghị định số 126/2014/NĐ-CP.
  • Tổng hợp và phân tích thực tiễn xét xử: Đánh giá các số liệu, tình tiết từ các vụ án thực tế có số liệu cụ thể (vụ án đất đai $16.090\text{ m}^2$ tại Cà Mau, thửa đất $3.288\text{ m}^2$ tại Tiền Giang, vụ phân chia tài sản hơn 7.900 tỷ đồng tại Tập đoàn Trung Nguyên) để chỉ ra các sai sót về thủ tục tố tụng và sự lúng túng của Tòa án khi áp dụng quy định xác minh chứng cứ.
  • Đề xuất giải pháp có tính ứng dụng: Đưa ra 4 nhóm kiến nghị hoàn thiện pháp luật thực định và giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành án dân sự, giải quyết xung đột giữa việc phân định tài sản hộ gia đình và tài sản cá nhân của đương sự.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi nghiên cứu của khóa luận chủ yếu tập trung vào các quy định thực định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và một số bản án điển hình tại Tòa án nhân dân các cấp; chưa mở rộng khảo sát định lượng trên diện rộng đối với tất cả các dạng tài sản mới phát sinh trong giao dịch thương mại và kinh tế số.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Khóa luận định hướng mở rộng nghiên cứu sang cơ chế chứng minh nguồn gốc tài sản riêng đối với các loại tài sản đặc thù như cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp, quyền sở hữu trí tuệ và cơ chế phối hợp liên ngành giữa Tòa án, cơ quan đăng ký đất đai và cơ quan thi hành án dân sự.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo cho:

  • Sinh viên, học viên ngành Luật: Đặc biệt thuộc các chuyên ngành Luật Dân sự, Luật Hôn nhân và Gia đình; cung cấp hệ thống phân tích lý luận và so sánh lập pháp qua các thời kỳ (Chương 1 và Chương 2).
  • Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Luật sư, Chấp hành viên: Tham khảo phương pháp đánh giá chứng cứ, xác minh nguồn gốc đất đai, giải quyết tranh chấp nghĩa vụ nợ và xử lý tài sản hộ gia đình trong giai đoạn thi hành án (Chương 3).
  • Các cá nhân, cặp vợ chồng: Tìm hiểu các quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ đối với tài sản riêng trước, trong và sau hôn nhân nhằm chủ động xác lập thỏa thuận tài sản hợp pháp.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, hoa lợi và lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của vợ, chồng được xác định là tài sản chung hay tài sản riêng? Theo quy định tại Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng. Tuy nhiên, theo Điều 40 của Luật và Điều 14 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP, trong trường hợp vợ chồng đã chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân thì hoa lợi, lợi tức phát sinh từ phần tài sản đã chia và từ tài sản riêng khác sau thời điểm chia sẽ là tài sản riêng của mỗi bên (trừ trường hợp có thỏa thuận khác).

2. Thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân bị vô hiệu trong những trường hợp nào? Căn cứ Điều 42 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, việc chia tài sản chung bị vô hiệu khi: (1) Ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của gia đình, quyền và lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình; (2) Nhằm trốn tránh các nghĩa vụ tài sản như nuôi dưỡng, cấp dưỡng, bồi thường thiệt hại, thanh toán khi bị tuyên bố phá sản, trả nợ cho cá nhân/tổ chức, nộp thuế hoặc nghĩa vụ tài chính khác đối với Nhà nước.

3. Tại sao yêu cầu công nhận $16.090\text{ m}^2$ đất là tài sản riêng của ông T trong Bản án số 38/2018/DS-PT của TAND tỉnh Cà Mau bị bác bỏ? Yêu cầu của ông T bị Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau bác bỏ vì diện tích đất $16.090\text{ m}^2$ được ông T nhận chuyển nhượng từ bà 7 Giang vào năm 1987, tức trong thời kỳ hôn nhân với bà Huỳnh Bích T (kết hôn năm 1984). Theo Khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, quyền sử dụng đất có được sau khi kết hôn là tài sản chung, và ông T không cung cấp được chứng cứ chứng minh diện tích đất này được mua bằng số vàng cha mẹ cho riêng như đã trình bày.

4. Những loại tài sản nào được xác định là tài sản riêng khác của vợ, chồng theo quy định tại Điều 11 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP? Bao gồm: (1) Quyền tài sản đối với đối tượng sở hữu trí tuệ theo quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ; (2) Tài sản mà vợ, chồng xác lập quyền sở hữu riêng theo bản án, quyết định của Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác; (3) Khoản trợ cấp, ưu đãi mà vợ, chồng được nhận theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng; (4) Quyền tài sản khác gắn liền với nhân thân của vợ, chồng.

5. Điểm khác biệt cơ bản về tài sản riêng giữa Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959 và Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 là gì? Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959 áp dụng chế độ toàn sản, không thừa nhận tài sản riêng mà coi toàn bộ tài sản có trước và sau khi kết hôn, tài sản thừa kế hay được tặng cho đều thuộc khối tài sản chung của vợ chồng (Điều 16, Điều 29). Trong khi đó, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 lần đầu tiên chính thức ghi nhận quyền có tài sản riêng của vợ, chồng và chuyển sang áp dụng chế độ cộng đồng tạo sản.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lương Quang Thái đã khái quát toàn diện cơ sở lý luận, hệ thống hóa các căn cứ pháp lý và đánh giá thực tiễn áp dụng chế định tài sản riêng của vợ, chồng theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Qua việc phân tích các quy định thực định và các bản án thực tế, công trình đã chỉ ra những vướng mắc trong công tác định giá, thu thập chứng cứ và thi hành án đối với tài sản hộ gia đình. Các kiến nghị được đưa ra trong khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho việc hoàn thiện khung pháp lý và nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp tài sản hôn nhân tại Việt Nam.