Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Gia đình là tế bào của xã hội, trong đó quan hệ tài sản giữa vợ và chồng là một trong những chế định cơ bản, giữ vai trò trọng tâm của pháp luật hôn nhân và gia đình. Quan hệ sở hữu đối với tài sản của vợ chồng mang tính chất gắn liền với nhân thân, hình thành và tồn tại trong thời kỳ hôn nhân, không mang tính chất đền bù ngang giá và khó xác định chính xác công sức đóng góp cụ thể của từng bên. Cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, đời sống gia đình phát sinh nhiều biến đổi sâu sắc; số lượng các vụ việc ly hôn có xu hướng ngày càng gia tăng qua các năm, kéo theo những tranh chấp tài sản phức tạp với quy mô giá trị ngày càng lớn.
Thực tiễn áp dụng các quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và Bộ luật Dân sự năm 2015 trong việc chia tài sản chung khi ly hôn đã bộc lộ một số điểm bất cập, vướng mắc, gây khó khăn cho các đương sự và cơ quan tiến hành tố tụng. Quận Hai Bà Trưng là một trong bốn quận trung tâm của Thủ đô Hà Nội, nơi tập trung mật độ dân cư cao, giao thương sầm uất và có nhiều doanh nghiệp, tổ chức tín dụng. Do đó, các tranh chấp tài sản trong các vụ án ly hôn tại Tòa án nhân dân (TAND) quận Hai Bà Trưng vừa phản ánh những đặc trưng chung của án hôn nhân và gia đình, vừa mang những đặc thù riêng biệt về loại hình tài sản và tính chất phức tạp của địa bàn đô thị.
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đặng Thị Vân Anh (MSSV: 451624, Trường Đại học Luật Hà Nội; người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Thị Lan, năm 2024) xác định mục đích nghiên cứu là làm rõ cơ sở lý luận, pháp luật về giải quyết tranh chấp tài sản khi ly hôn; khảo sát thực tiễn áp dụng pháp luật tại TAND quận Hai Bà Trưng; từ đó chỉ ra những vướng mắc, bất cập trong xét xử và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả giải quyết loại việc này.
Để đạt được mục đích trên, văn bản xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về chế độ tài sản của vợ chồng (khái niệm khoa học, đặc điểm, ý nghĩa đối với sự tồn tại và phát triển của gia đình, khẳng định tính tất yếu của chế định này trong pháp luật).
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp tài sản của vợ chồng khi ly hôn tại Tòa án theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Bộ luật Dân sự năm 2015 (phân tích mục đích, cơ sở điều chỉnh, tính kế thừa và những điểm mới).
- Nghiên cứu, đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật giải quyết tranh chấp tài sản của vợ chồng khi ly hôn thông qua hoạt động xét xử tại TAND quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội qua các vụ án cụ thể giai đoạn 2019 - 2023; chỉ ra vướng mắc, bất cập và đề xuất định hướng hoàn thiện.
Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các quy định của pháp luật hiện hành về căn cứ pháp lý, trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp tài sản khi ly hôn và thực tiễn xét xử tại TAND quận Hai Bà Trưng.
- Phạm vi không gian: Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn 5 năm, từ năm 2019 đến năm 2023.
- Giới hạn nội dung: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu việc giải quyết tranh chấp về tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn; không nghiên cứu việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân và không nghiên cứu các tranh chấp tài sản giữa vợ chồng với các chủ thể khác khi không ly hôn.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận dựa trên cơ sở phương pháp luận là phép duy vật biện chứng, duy vật lịch sử cùng các quan điểm của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình. Về phương pháp nghiên cứu cụ thể, tác giả sử dụng phối hợp các phương pháp:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Làm rõ các khái niệm, quy định pháp luật và đánh giá các quan điểm lập pháp.
- Phương pháp so sánh: Đối chiếu quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 với Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, Bộ luật Dân sự năm 2015 với các Bộ luật Dân sự năm 1995, 2005.
- Phương pháp thống kê: Xử lý số liệu thụ lý, giải quyết các vụ án hôn nhân và gia đình tại TAND quận Hai Bà Trưng giai đoạn 2019 - 2023.
- Phương pháp mô hình hóa và nghiên cứu hồ sơ vụ việc thực tế: Khảo sát trực tiếp các bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật để phân tích quá trình nhận định, đánh giá chứng cứ của Hội đồng xét xử.
Về hệ thống văn bản pháp luật áp dụng, tác giả trích dẫn và đối chiếu các văn bản gồm:
- Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 (các điều 33, 37, 43, 59, 60, 61, 62, 63, 64).
- Bộ luật Dân sự năm 2015 (các điều 105, 107, 115, 459, 503; kế thừa từ Điều 172 BLDS 1995 và Điều 163 BLDS 2005).
- Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (các điều 28, 35, 39, 227, 228).
- Luật Đất đai năm 2013 (Khoản 3 Điều 188).
- Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình.
- Án lệ số 03/2016/AL của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao về vụ án ly hôn có tranh chấp quyền sử dụng đất do cha mẹ cho.
- Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao.
Nguồn dữ liệu thực tiễn được khai thác từ số liệu thống kê tổng hợp công tác thụ lý, xét xử của TAND quận Hai Bà Trưng (2019 - 2023) và các bản án sơ thẩm cụ thể như Bản án số 56/2018/HNGĐ-ST, Bản án số 80/2020/TLST-HNGĐ (Bản án số 14/2021/HNGĐ-ST), Bản án số 38/2020/QĐST-DS.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Khái niệm và pháp luật Việt Nam hiện hành về việc giải quyết tranh chấp về tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn tại Tòa án
Chương này tập trung hệ thống hóa các vấn đề lý luận và quy phạm pháp luật thực định:
Khái niệm và đặc trưng pháp lý:
Tác giả phân tích khái niệm tài sản theo Điều 105 Bộ luật Dân sự năm 2015 và quyền tài sản theo Điều 115 Bộ luật Dân sự năm 2015. Trên cơ sở đó, tài sản chung của vợ chồng được xác định theo Khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, là khối tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất, phát sinh trong thời kỳ hôn nhân (trừ trường hợp chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân hoặc tài sản hình thành từ tài sản riêng). Ngược lại, tài sản riêng theo Điều 43 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 gồm tài sản có trước khi kết hôn, tài sản được thừa kế riêng, tặng cho riêng, hoặc hình thành từ tài sản riêng. Giải quyết tranh chấp tài sản khi ly hôn được định nghĩa là tổng hợp các hành vi tố tụng của Tòa án, đương sự và các chủ thể khác theo luật định nhằm xác định ranh giới tài sản chung - riêng, quyền và nghĩa vụ tài sản, đảm bảo quyền lợi hợp pháp của vợ chồng và người thứ ba.
Nguyên tắc giải quyết tranh chấp tài sản:
Văn bản phân tích hai cơ chế chính:
- Chế độ tài sản theo thỏa thuận: Pháp luật tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự. Nếu vợ chồng có văn bản thỏa thuận không bị Tòa án tuyên bố vô hiệu thì áp dụng văn bản thỏa thuận để chia tài sản.
- Chế độ tài sản theo luật định: Khi không có thỏa thuận hoặc thỏa thuận vô hiệu/không rõ ràng, việc phân chia tuân theo 5 nguyên tắc cơ bản tại Điều 59 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP:
- Tài sản chung về nguyên tắc được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố: hoàn cảnh gia đình và của vợ, chồng; công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản chung (lao động trong gia đình được coi như lao động có thu nhập); bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp; và lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.
- Tôn trọng sự thỏa thuận hợp lý, đúng pháp luật của vợ chồng.
- Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
- Tài sản chung được chia bằng hiện vật; nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị, bên nhận hiện vật có giá trị lớn hơn phải thanh toán phần chênh lệch cho bên kia.
- Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp đã sáp nhập vào tài sản chung.
Chương 1 cũng phân tích các trường hợp chia tài sản đặc thù: chia tài sản khi sống chung với gia đình (Điều 61), chia tài sản là quyền sử dụng đất và nhà ở (Điều 62), cùng quyền lưu cư trong thời hạn 06 tháng đối với bên gặp khó khăn về chỗ ở khi nhà ở thuộc sở hữu riêng của bên kia (Điều 63).
Trình tự, thủ tục tố tụng:
Bao gồm 3 bước:
- Bước 1: Chuẩn bị hồ sơ khởi kiện (đơn khởi kiện theo mẫu, giấy tờ tùy thân, bản kê khai tài sản tranh chấp, tài liệu chứng minh tài sản chung/riêng, bản sao quyết định ly hôn, nộp tạm ứng án phí).
- Bước 2: Nộp hồ sơ tại TAND cấp quận/huyện có thẩm quyền theo lãnh thổ hoặc nơi có bất động sản.
- Bước 3: Thụ lý, chuẩn bị xét xử, tiến hành hòa giải bắt buộc và mở phiên tòa sơ thẩm. Thời hạn chuẩn bị xét xử thường từ 4 đến 6 tháng.
Chương 2: Thực tiễn giải quyết tranh chấp tài sản của vợ chồng khi ly hôn và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả thực hiện việc giải quyết tranh chấp về tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn tại Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng
Đặc thù địa bàn quận Hai Bà Trưng:
Quận có diện tích tự nhiên 10,09 km², dân số 315.900 người, gồm 20 phường trực thuộc. Về kinh tế, tỷ trọng ngành dịch vụ chiếm 70%, công nghiệp và xây dựng chiếm 30%; toàn quận có hơn 3.300 doanh nghiệp hoạt động cùng các tập đoàn lớn như Vingroup, Techcombank, T&T, Cảng Hà Nội, Dệt kim Đông Xuân. Đặc điểm kinh tế thương mại phát triển khiến tài sản của các cặp vợ chồng tại đây thường có giá trị lớn, cơ cấu đa dạng (nhà đất nội đô, ô tô, cổ phần, vốn góp kinh doanh), làm gia tăng độ phức tạp khi giải quyết ly hôn.
Thực trạng xét xử và các vướng mắc thực tiễn:
Qua tổng hợp số liệu 5 năm (2019 - 2023), TAND quận Hai Bà Trưng thụ lý 4.077 vụ việc hôn nhân và gia đình, đã giải quyết 3.961 vụ. Tác giả chỉ ra 5 nhóm vướng mắc nổi cộm thông qua các vụ án điển hình:
-
Xác định công sức đóng góp (Điểm b Khoản 2 Điều 59): Pháp luật chưa đưa ra tiêu chí định lượng cụ thể giữa công sức quản lý, nội trợ và đóng góp bằng tiền mặt, tạo sự lúng túng cho Thẩm phán. Văn bản phân tích Bản án sơ thẩm số 56/2018/HNGĐ-ST ngày 28/12/2018 giữa ông Trần Quốc K và bà Nguyễn Thị Thanh H: Tranh chấp ngôi nhà 3 tầng 1 tum tại phố B, phường B. Nguồn gốc tài sản bắt nguồn từ việc mẹ ông K bán nhà thừa kế mua đất năm 1996, đứng tên ông K, sau đó năm 1998 kê khai cấp giấy chứng nhận có tên cả hai vợ chồng. Tòa án xác định đây là tài sản chung nhưng căn cứ vào nguồn gốc hình thành và công sức, đã phân chia ông K hưởng 60%, bà H hưởng 40% giá trị nhà đất; hai bên cùng sử dụng chung 28 m² đất và bà H phải thanh toán phần giá trị chênh lệch cho ông K.
-
Xác định tài sản chung và tài sản riêng trong thời gian ly thân: Luật hiện hành không công nhận ly thân, dẫn đến việc tài sản hình thành khi hai bên đã không còn sống chung vẫn có thể bị coi là tài sản chung. Tác giả minh họa bằng vụ án ly hôn giữa bà Phạm Thị Kim T1 và ông Nguyễn Văn T2 (Bản án sơ thẩm số 14/2021/HNGĐ-ST ngày 08/02/2021, thụ lý số 80/2020/TLST-HNGĐ). Hai bên kết hôn năm 1985, đến năm 1992 ông T2 bỏ nhà đi biệt tích. Năm 2006, bà T1 được cơ quan (Công ty X thuộc quân đội) phân cho căn hộ cấp 4 tại huyện T, sau đó mua lại theo diện nhà ở thuộc sở hữu nhà nước và được cấp giấy chứng nhận năm 2007 đứng tên cá nhân bà T1. Do xác định căn nhà được cấp từ chế độ và công sức phục vụ lâu dài trong lực lượng vũ trang của cá nhân bà T1, Tòa án quận Hai Bà Trưng đã chấp nhận yêu cầu của bà T1, tuyên bố nhà đất trên là tài sản riêng của bà, đồng thời xét xử vắng mặt ông T2 theo đúng trình tự niêm yết và thông báo trên cổng thông tin, Báo Nhân Dân và Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV2).
-
Giải quyết nghĩa vụ nợ chung và tài sản dôi dư: Các giao dịch vay mượn phục vụ nhu cầu đời sống thường được thực hiện bằng lời nói, không có hợp đồng bằng văn bản, gây khó khăn cho việc quy kết trách nhiệm liên đới. Trong Bản án sơ thẩm số 38/2020/QĐST-DS ngày 19/08/2020 giữa chị Nguyễn Thu P và anh Nguyễn Quang S: Tài sản chung gồm ngôi nhà 3 tầng trên diện tích 65 m² (trị giá 2 tỷ đồng), ô tô (1 tỷ đồng), xe máy (46 triệu đồng) và khoản nợ các cá nhân là 260 triệu đồng. Sau khi hòa giải, anh S đồng ý nhận xe ô tô và chịu trách nhiệm trả toàn bộ 260 triệu đồng nợ chung. Đối với ngôi nhà, quá trình thẩm định tại chỗ phát hiện diện tích xây dựng thực tế dôi dư 26 m² ngoài giấy chứng nhận. Tòa án đã giao cho chị P quyền sử dụng đất và sở hữu ngôi nhà, đồng thời tạm giao quyền quản lý, sử dụng 26 m² đất dôi dư cho chị P chờ quyết định xử lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
-
Tranh chấp liên quan đến người thứ ba: Vướng mắc khi tài sản đứng tên hộ người thân là Việt kiều hoặc nhờ đứng tên để tránh thuế thu nhập cá nhân; thiếu sự thống nhất trong việc xác định nghĩa vụ trả nợ của vợ/chồng đối với chủ nợ bên ngoài.
-
Tranh chấp quyền sử dụng đất do cha mẹ cho nhưng chưa sang tên: Việc tặng cho đất bằng lời nói vi phạm quy định về hình thức hợp đồng có công chứng, chứng thực theo Khoản 1 Điều 459, Điều 503 BLDS 2015 và Khoản 3 Điều 188 Luật Đất đai 2013. Tác giả viện dẫn việc áp dụng Án lệ số 03/2016/AL: Trường hợp cha mẹ cho đất bằng miệng nhưng vợ chồng người con đã xây dựng nhà cửa kiên cố, sinh sống ổn định, công khai, lâu dài mà cha mẹ không phản đối thì Tòa án vẫn công nhận quyền sử dụng đất thuộc về vợ chồng.
Kiến nghị và giải pháp:
Tác giả đề xuất hoàn thiện pháp luật về: xây dựng tiêu chí định lượng công sức đóng góp; bổ sung quy định công nhận tài sản riêng hình thành trước hôn nhân trên thực tế dù chưa hoàn tất thủ tục giấy tờ; hoàn thiện tố tụng dân sự. Đồng thời, đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng: triển khai đồng bộ các quy định; tăng cường phối hợp giữa Tòa án và các cơ quan địa chính, bổ trợ tư pháp; nâng cao năng lực cho đội ngũ Thẩm phán; đẩy mạnh công tác tổng kết rút kinh nghiệm xét xử án hôn nhân và gia đình.
Kết quả và đóng góp
Số liệu xét xử án hôn nhân và gia đình tại TAND quận Hai Bà Trưng (2019 - 2023)
Khóa luận trích xuất và tổng hợp kết quả công tác thụ lý, xét xử án hôn nhân và gia đình tại địa bàn nghiên cứu qua bảng số liệu sau:
| Năm |
Số vụ thụ lý (vụ) |
Số vụ đã giải quyết (vụ) |
| 2019 |
903 |
889 |
| 2020 |
870 |
856 |
| 2021 |
726 |
674 |
| 2022 |
774 |
755 |
| 2023 |
804 |
787 |
| Tổng cộng |
4.077 |
3.961 |
Bên cạnh số liệu tổng thể (toàn đơn vị thụ lý 4.077 vụ án các loại và giải quyết 3.954 vụ án, đạt tỷ lệ chung trên 90%), số liệu án hôn nhân và gia đình qua 5 năm cho thấy áp lực công việc rất lớn đối với TAND quận Hai Bà Trưng, trong đó số lượng các vụ hòa giải thành chiếm tỷ lệ đáng kể.
Giải pháp và kiến nghị của tác giả
- Hoàn thiện lập pháp: Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền ban hành hướng dẫn chi tiết về cách tính phần trăm công sức đóng góp của bên làm công việc nội trợ, chăm sóc gia đình; quy định cơ chế pháp lý điều chỉnh tài sản phát sinh trong giai đoạn ly thân thực tế; hướng dẫn cụ thể việc công nhận tài sản tạo lập trước hôn nhân khi chưa hoàn thiện thủ tục đăng ký quyền sở hữu.
- Nâng cao năng lực xét xử: Tăng cường tập huấn chuyên môn, kỹ năng điều tra, thu thập chứng cứ và kỹ năng hòa giải cho Thẩm phán; nâng cao trách nhiệm của Thẩm phán trong việc xác minh nguồn gốc tạo lập tài sản và thẩm định giá thực tế tại địa phương.
- Phối hợp liên ngành: Tăng cường sự phối hợp giữa Tòa án với Văn phòng đăng ký đất đai, Ủy ban nhân dân cấp phường trong việc cung cấp thông tin quy hoạch, nguồn gốc đất và hiện trạng xây dựng vượt ranh giới giấy chứng nhận.
Đóng góp của đề tài
Tác giả tự xác định đề tài là công trình nghiên cứu chuyên sâu đầu tiên khảo sát trực tiếp việc áp dụng chế định tài sản khi ly hôn tại địa bàn TAND quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội trong giai đoạn 2019 - 2023. Đề tài không dừng lại ở việc trích dẫn lý thuyết mà gắn liền với các bản án sơ thẩm có thật, cung cấp bức tranh thực tế về các tranh chấp nhà đất phức tạp, diện tích dôi dư và tài sản phát sinh trong tình trạng ly thân kéo dài.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận có những giới hạn nghiên cứu được tác giả nêu rõ:
- Giới hạn về nội dung: Công trình chỉ tập trung vào việc giải quyết tranh chấp tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn; không đi sâu vào việc phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân và không bao gồm các tranh chấp tài sản giữa vợ chồng với bên thứ ba độc lập ngoài quan hệ ly hôn.
- Giới hạn về phạm vi dữ liệu: Mẫu khảo sát thực tiễn chỉ giới hạn tại TAND quận Hai Bà Trưng trong mốc thời gian từ năm 2019 đến năm 2023.
Từ các hạn chế này, hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát so sánh thực tiễn xét xử giữa các quận nội thành và huyện ngoại thành của Hà Nội; hoặc nghiên cứu chuyên biệt về các dạng tài sản mới phát sinh trong thời kỳ kinh tế số như cổ phần, phần vốn góp doanh nghiệp, chứng khoán và tài sản vô hình của vợ chồng khi ly hôn.
Giá trị tham khảo
Khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho:
- Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Dân sự, Luật Hôn nhân và Gia đình tại các cơ sở đào tạo luật (đặc biệt là Trường Đại học Luật Hà Nội) khi tìm kiếm tài liệu phân tích kết hợp giữa lý luận và thực tiễn xét xử.
- Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Luật sư và người thực hành pháp luật tham gia giải quyết các vụ án tranh chấp tài sản ly hôn có yếu tố đất đai đô thị, tài sản phân phối theo chính sách nhà nước cho cán bộ vũ trang, hoặc tài sản xây dựng vượt diện tích giấy chứng nhận.
- Phần đáng tham khảo nhất của công trình là hệ thống phân tích các bản án sơ thẩm thực tế tại Chương 2 (Bản án 56/2018/HNGĐ-ST, Bản án 14/2021/HNGĐ-ST, Bản án 38/2020/QĐST-DS) cùng các phân tích chi tiết về áp dụng Án lệ số 03/2016/AL trong định đoạt quyền sử dụng đất.
Câu hỏi thường gặp
1. Số lượng vụ việc hôn nhân và gia đình TAND quận Hai Bà Trưng thụ lý và giải quyết trong giai đoạn 2019 - 2023 là bao nhiêu?
Theo bảng thống kê trong khóa luận, trong giai đoạn 2019 - 2023, TAND quận Hai Bà Trưng đã thụ lý tổng cộng 4.077 vụ việc hôn nhân và gia đình và giải quyết được 3.961 vụ việc (năm 2019: 903 thụ lý/889 giải quyết; năm 2020: 870/856; năm 2021: 726/674; năm 2022: 774/755; năm 2023: 804/787).
2. TAND quận Hai Bà Trưng đã phân chia tài sản nhà đất như thế nào trong Bản án số 56/2018/HNGĐ-ST giữa ông Trần Quốc K và bà Nguyễn Thị Thanh H?
Tòa án xác định ngôi nhà 3 tầng 1 tum tại phố B, phường B là tài sản chung của vợ chồng nhưng phân chia theo tỷ lệ: ông K được hưởng 60% và bà H được hưởng 40% giá trị nhà đất; hai bên cùng sử dụng chung 28 m² đất. Tỷ lệ này được đưa ra dựa trên việc xem xét nguồn gốc đất mua bằng tiền thừa kế riêng của mẹ ông K cho cùng công sức đóng góp của các bên; bà H có nghĩa vụ thanh toán lại cho ông K số tiền 184.747.867 đồng tiền giá trị chênh lệch.
3. Trong Bản án số 14/2021/HNGĐ-ST, TAND quận Hai Bà Trưng đã căn cứ vào yếu tố nào để xác định căn nhà được cấp là tài sản riêng của người vợ dù quan hệ hôn nhân vẫn tồn tại trên pháp lý?
Mặc dù bà T1 và ông T2 kết hôn năm 1985 và chưa ly hôn, nhưng ông T2 đã bỏ nhà đi từ năm 1992. Căn nhà cấp 4 tại xã X, huyện T được Công ty X giải quyết cho bà T1 thuê năm 2002 và mua hóa giá, cấp giấy chứng nhận năm 2007. Tòa án xác định căn nhà hình thành hoàn toàn từ chế độ chính sách và công sức đóng góp cá nhân của bà T1 trong thời gian phục vụ lâu dài trong lực lượng vũ trang mà không có sự đóng góp của người chồng, do đó tuyên bố đây là tài sản riêng của bà T1.
4. Vấn đề diện tích xây dựng dôi dư 26 m² ngoài Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong Bản án số 38/2020/QĐST-DS được Tòa án giải quyết ra sao?
Tại phiên tòa sơ thẩm, Tòa án giao quyền sử dụng diện tích đất theo Giấy chứng nhận số H2431 và quyền sở hữu ngôi nhà 3 tầng cho chị Nguyễn Thu P. Đối với phần diện tích 26 m² đất thực tế đã xây dựng lấn ra ngoài giấy chứng nhận, Tòa án quyết định tạm giao cho chị P quản lý, sử dụng cho đến khi có quyết định xử lý chính thức của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; chị P có trách nhiệm thực hiện các thủ tục đăng ký biến động và nghĩa vụ tài chính liên quan.
5. Án lệ số 03/2016/AL được khóa luận viện dẫn nhằm tháo gỡ vướng mắc gì trong việc phân chia bất động sản khi ly hôn?
Án lệ số 03/2016/AL được áp dụng để giải quyết tình trạng cha mẹ tặng cho quyền sử dụng đất cho vợ chồng người con bằng lời nói mà không lập hợp đồng công chứng, chứng thực theo luật định. Khi người con đã xây dựng nhà ở kiên cố, sinh sống công khai, lâu dài mà cha mẹ không phản đối và đã kê khai, được cấp giấy chứng nhận, Tòa án có căn cứ xác định quyền sử dụng đất đã được tặng cho chung để phân chia tài sản khi ly hôn, tránh việc bên cha mẹ đòi lại đất nhằm loại trừ quyền lợi của con dâu hoặc con rể.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Đặng Thị Vân Anh đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở pháp lý và lý luận về chế định giải quyết tranh chấp tài sản của vợ chồng khi ly hôn theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và Bộ luật Dân sự năm 2015. Thông qua nguồn dữ liệu thống kê giai đoạn 2019 - 2023 cùng các bản án sơ thẩm điển hình tại TAND quận Hai Bà Trưng, công trình phản ánh khách quan những vướng mắc phức tạp trong việc xác định công sức đóng góp, tài sản tạo lập trong thời gian ly thân và bất động sản dôi dư. Các đề xuất, giải pháp được trình bày có giá trị khoa học và thực tiễn, đóng góp cơ sở tham khảo hữu ích cho công tác hoàn thiện pháp luật cũng như hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân cấp cơ sở.