CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN 1. Khái quát về chia tài sản chung của vợ chồng 1.1 Tài sản chung của vợ chồng 1. Khái niệm tài sản chung của vợ chồng Tài sản là một phần không thể thiếu trong đời sống của con người. Nó tồn tại để đáp ứng những nhu cầu về vật chất và tinh thần cho con người.
Gia đình là tế bào của xã hội. Gia đình tồn tại và phát triển cần phải có các điều kiện vật chất – cơ sở kinh tế của gia đình, nuôi sống gia đình. Để đảm bảo các điều kiện vật chất phục vụ đời sống gia đình và thực hiện các quyền, nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng con cái, phụng dưỡng cha mẹ…vợ chồng cần có tài sản. Tài sản của vợ chồng là nguồn quan trọng phục vụ nhu cầu vật chất, tinh thần của gia đình.
Kể từ thời điểm kết hôn, vợ chồng cùng nhau chung sống, gánh vác công việc gia đình, cùng nhau tạo lập khối tài sản chung để bảo đảm những nhu cầu thiết yếu của gia đình, thỏa mãn các nhu cầu về vật chất khác và tinh thần của các thành viên trong gia đình. “Tài sản là các vật có giá trị bằng tiền và là đối tượng của quyền tài sản và các lợi ích vật chất khác. Tài sản bảo gồm: Vật có thực, vật đang tồn tại và sẽ có như hoa lợi, lợi tức, vật sẽ được chế tạo theo mẫu như đã thỏa thuận giữa các bên, tiền và các giấy tờ có giá trị được bằng tiền và quyền tài sản”[53, tr. Về mặt pháp lý, tài sản là đối tượng của quyền sở hữu, là khách thể của phần lớn các quan hệ pháp luật dân sự.
Tuy nhiên, tài sản là một khái niệm rộng, rất khó để định nghĩa cụ thể. Pháp luật các nước thường không đưa ra định nghĩa cụ thể về tài sản mà nó thường được hiểu thông qua các học thuyết pháp lý hoặc hiểu gián tiếp thông qua các quy định khác [19]. Ví dụ, BLDS Pháp chỉ ghi nhận: “Tài sản được chia thành động sản và bất động sản” [31, Điều 156]. Tài sản vợ chồng là một trong những nội dung quan trọng của luật hôn nhân và gia đình.Sau khi kết hôn, tài sản chung được hình thành, các lợi ích và các quyền 6 chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với khối tài sản này cũng vì thế mà hình thành.
Do tài sản không chỉ gắn liền với những lợi ích thiết thực của hai bên mà còn liên quan đến người thứ ba, đặc biệt là khi vợ chồng tham gia vào hoạt động kinh doanh thương mại nên vấn đề này lúc nào cũng nảy sinh nhiều mâu thuẫn, đặc biệt là sau khi vợ chồng ly hôn. Thực tiễn xét xử cho thấy, phần lớn các tranh chấp của vợ chồng có liên quan đến tài sản. Sự phức tạp trong việc xác định tài sản chung, tài sản riêng vợ chồng cùng những hạn chế trong việc qui định về chế độ tài sản vợ chồng trong luật dân sự, luật hôn nhân và gia đình nước ta ngày càng trở nên bất cập. Kế thừa BLDS năm 2005, BLDS năm 2015 sử dụng định nghĩa liệt kê để xác định tài sản.
Tại Điều 105 có quy định như sau: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Tài sản bao gồm bất động sản và động sản”. Ở đây, BLDS năm 2015 đã có sự liệt kê cụ thể và rõ ràng hơn về khái niệm tài sản. Khái niệm và các quy định về tài sản, quyền tài sản trong Luật Dân sự là nguồn gốc, cơ sở để luật chuyên ngành xây dựng khái niệm tài sản cụ thể theo tính chất của ngành luật mình.
Trước khi kết hôn, tài sản của vợ, chồng là tài sản riêng của từng cá nhân. Kể từ khi xác lập quan hệ hôn nhân vấn đề tài sản giữa vợ chồng mới bị ràng buộc: xác định tài sản chung của vợ chồng, tài sản riêng của vợ chồng; quyền, nghĩa vụ của vợ chồng trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt khối tài sản chung này. Tài sản của vợ chồng gồm tài sản chung của vợ chồng và tài sản riêng của vợ chồng. Trong giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả chỉ đề cập vấn đề tài sản chung của vợ chồng.
Theo Điều 33 Luật HN&GĐ năm 2014: “1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. 7 Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.
Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.” Như vậy có thể hiểu: Tài sản chung của vợ chồng là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Tài sản chung của vợ chồng có thể bao gồm bất động sản và động sản. Tài sản chung của vợ chồng là tài sản thuộc hình thức sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia. Vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ ngang nhau đối với tài sản chung đó.2 Xác định tài sản chung của vợ chồng Thông thường chúng ta không thể xác định được phần tài sản nào là của vợ, phần tài sản nào là của chồng trong khối tài sản chung hợp nhất, chỉ khi nào có sự phân chia tài sản chung của vợ chồng thì mới xác định được phần tài sản của từng người trong khối tài sản chung đó.
Mặc dù sự đóng góp vào khối tài sản chung của vợ chồng có thể không có bằng chứng, nhưng đối với sở hữu chung hợp nhất vợ chồng có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt khối tài sản chung này, khi thực hiện những giao dịch liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn hoặc là nguồn sống duy nhất của gia đình, việc dùng tài sản chung để đầu tư kinh doanh phải có sự thỏa thuận của hai vợ chồng. Pháp luật Việt Nam trước đây chỉ thừa nhận chế độ tài sản pháp định. Chế độ tài sản pháp định là chế độ tài sản mà ở đó pháp luật đã dự liệu từ trước về căn cứ, nguồn gốc, thành phần các loại tài sản chung và tài sản riêng của vợ, chồng (nếu có); quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng đối với từng loại tài sản đó; các trường hợp và nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng; phương thức thanh toán liên quan đến các khoản vay nợ chung hay riêng của vợ, chồng [11, tr. Pháp luật của nhiều nước trên thế giới thừa nhận quyền tự do thỏa thuận của vợ chồng về chế độ tài sản hay còn gọi là khế ước hôn nhân hoặc hôn ước.
Bởi vậy nếu có thỏa thuận tài sản – hôn 8 ước thì việc xác định tài sản chung của vợ chồng phụ thuộc vào nội dung thỏa thuận của hôn ước. Trên cơ sở các điều kiện phát triển về kinh tế - xã hội, tôn trọng và bảo vệ quyền con người trong đó có quyền tự do định đoạt về tài sản mà Hiến pháp 2013 đã ghi nhận cũng như quá trình hội nhập quốc tế, nhu cầu thực tế của xã hội Việt Nam, Luật HN&GĐ năm 2014 ra đời đã ghi nhận bổ sung chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận. Có thể nói đây là bước phát triển mới của Luật HN&GĐ 2014 về chế định tài sản của vợ chồng trong hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật về HN&GĐ nói riêng. Theo đó, nếu vợ chồng lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận thì việc xác định tài sản chung của vợ chồng; tài sản riêng của vợ, chồng phải dựa vào nội dung cụ thể của thỏa thuận tài sản vợ chồng đã được lập.
Trường hợp, thỏa thuận tài sản vợ chồng không quy định thì căn cứ vào các quy định của pháp luật tương ứng để xác định [42, điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 48 và Điều 49]. Trường hợp vợ, chồng không có thỏa thuận về tài sản hoặc thỏa thuận không rõ ràng, không đầy đủ, thì tài sản chung của vợ chồng được xác định như sau: “Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung” [42, khoản 1, khoản 3 Điều 33].
Như vậy để xác định tài sản chung của vợ chồng theo luật định thì căn cứ vào các yếu tố sau: Thứ nhất, thời kỳ hôn nhân – căn cứ xác định tài sản chung của vợ chồng: 9 Theo quy định trên ta thấy, căn cứ quan trọng nhất khi xác định tài sản là tài sản chung của vợ chồng hay không là sự ra đời và tồn tại quan hệ vợ chồng - thời kỳ hôn nhân. “Thời kỳ hôn nhân” là khoản thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng, được tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân [ 42, Điều khoản 13, Điều 3]. Thời kỳ hôn nhân được tính kể từ khi hai bên nam, nữ đăng ký kết hôn - thời điểm phát sinh quan hệ vợ chồng trước pháp luật; việc đăng ký kết hôn phải được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền công nhận theo đúng thủ tục và các điều kiện luật định [13].