Chương I: Lý thuyết về định giá giá trị tham quan giải trí của một Vườn Quốc Gia Chương II: Tổng quan về Vườn Quốc gia Pu Mat — Nghệ An Chương III: Xác định giá trị tham quan giải trí bằng phương pháp chi phí du lịch SVTH: Vũ Đức Linh Chuyên dé thực tập 3 GVHD: PGS. Vũ Thi Minh CHUONG I: LY THUYET VE DINH GIA GIA TRI THAM QUAN GIAI TRI CUA MOT VUON QUOC GIA 1. Vườn Quốc gia và sự cần thiết đánh giá giá trị của Vườn Quốc gia 1. Vườn Quốc gia và sự can thiết đánh giá giá trị của Vườn Quốc gia 1.1 Vườn Quốc gia “Vườn Quốc gia là loại rừng đặc dụng có vị trí và tầm quan trọng đặc biệt đối với quốc gia.
Vườn quốc gia có chức năng chung của rừng đặc dụng đồng thời có thé có một trong các chức năng chu yếu là: bảo tồn và dự trữ thiên nhiên; khu bảo tồn loài - sinh cảnh; bảo vệ cảnh quan. Đó là một khu rừng đặc dụng được quản lý và bảo vệ nghiêm ngặt nhằm bảo vệ lâu dài một hay nhiều hệ sinh thái, bảo đảm các yêu cầu cơ bản sau: 1- Là vùng đất tự nhiên bao gồm mẫu chuẩn của các hệ sinh thái cơ bản (còn nguyên vẹn hoặc ít bị tác động của con người); các nét đặc trưng về sinh cảnh của các loài động, thực vật; các khu rừng có giá tri cao vê mặt khoa học, giáo dục và du lịch. 2- Là vùng đất tự nhiên đủ rộng dé chứa đựng được một hay nhiều hệ sinh thái và không bị thay đôi bởi những tác động xâu của con người; tỷ lệ diện tích hệ sinh thái tự nhiên cần bảo tôn phải đạt từ 70% trở lên. 3- Là khu vực có điều kiện về giao thông tương đối thuận lợi.” (theo Nghị định 117/2010/NĐ-CP) Hiện nay, Việt Nam đã thành lập 28 VQG phân bố ở cả ba miền, được quản lý bảo vệ theo quy chế quản lý rừng đặc dụng.
Việc quản lý VQG được phân cấp giao cho Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn trong trường hợp VQG năm trên địa bàn của nhiều Tỉnh, còn lại giao cho Ủy ban nhân dân Tỉnh quản lý nếu VQG nằm trên địa bàn một địa phương. Mỗi VQG đều được thành lập một ban quản lý. Ban quản lý là chủ rừng, được giao đất lâm nghiệp và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chịu trách nhiệm quản lý, bảo vệ và xây dựng khu rừng được giao. Do tầm quan trọng của bảo tồn mà VQG được chia thành các phân khu chức năng như sau: - Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt: là khu vực được bảo toàn nguyên vẹn, được quan lý bảo vệ chặt chẽ dé theo dõi diễn biến tự nhiên; nghiêm cắm mọi hành vi làm thay đôi cảnh quan tự nhiên của khu rừng.
Đây là những khu vực có rừng nguyên sinh, có tính đa dạng sinh học cao được bảo vệ nghiêm ngặt. - Phân khu phục hồi sinh thái: Là khu vực được quản lý, bảo vệ chặt chẽ dé rừng phục hồi, tái sinh tự nhiên; nghiêm cắm việc du nhập những loài động vật, thực vật không có nguồn góc tại khu rừng. Thông thường đây là khu vực đang được khoanh nuôi để rừng tái sinh tự nhiên. SVTH: Vũ Đức Linh Chuyên dé thực tập 4 GVHD: PGS.
Vũ Thi Minh - Phân khu dịch vụ - hành chính : La khu vực dé xây dựng các công trình làm việc và sinh hoạt của Ban quản lý, các cơ sở nghiên cứu - thí nghiệm, dịch vụ du lịch, vui chơi giải trí. Đồng thời, để ngăn chặn những tác động xấu, Vườn Quốc gia phải thiết lập vùng đệm. “Vùng đệm là vùng rừng, vùng đất hoặc vùng đất có mặt nước nằm sát ranh giới với các VQC; có tác động ngăn chặn hoặc giảm nhẹ sự xâm phạm khu rừng đặc dụng ”. Mọi hoạt động trong vùng đệm phải nhằm mục đích hỗ trợ cho công tác bảo ton, quản lý và bảo vệ khu rừng đặc dung; cắm săn bắn, bẫy bắt các loài động vật và chặt phá các loài thực vật hoang dã là đối tượng bảo vệ.
Diện tích của vùng đệm không tính vào diện tích của khu rừng đặc dụng. Vùng đệm của VQG thường có dân cư sinh sống. Dân cư sống trong VQG chủ yêu được ôn định tại chỗ phải chấp hành nghiêm chỉnh Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, phải tuân theo các quy định của Ban quản lý khu rừng đặc dụng. Không được di dân từ nơi khác tới VQG và vùng đệm.
Trong VQG, có thê xây dựng nhiều điểm, tuyến du lịch dịch vụ theo nguyên tắc vừa khuyến khích phát trién các hoạt động du lịch dé du khách hiểu thêm giá trị của VQG, vừa không được làm ảnh hưởng xấu đến mục tiêu bảo tồn. Sự can thiết xác định giá trị của VOG Định giá giá trị của một VQG hay khu bảo tồn là công việc khó khăn song có ý nghĩa quan trọng và đã được thực hiện tại nhiều quốc. gia trên thế giới. Đó là việc sử dụng các công cụ kỹ thuật nhằm lượng giá giá trị bằng tiền của các tài sản môi trường là các VQG làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách về khai thác, sử dụng và quản lý VQG.
Ở Việt Nam, việc định giá giá tri của tài san môi trường là một VQG hay khu bảo tôn thiên nhiên còn mới mẻ song nêu thực hiện được sẽ có ý nghĩa như sau: Thứ nhất, Nhà nước đang thực hiện đầu tư rất lớn bằng ngân sách cho hoạt động bảo tôn các hệ sinh thái cảnh quan VỌG song lợi ích thu được mới chỉ được nhìn nhận định tính. Lượng giá giá tri của VQG hay khu bảo tôn thiên nhiên sẽ giúp nhìn nhận lợi ích từ công tác bảo tôn đây đủ hơn, cụ thê hơn. Thứ hai, định giá giá trị VQG giúp tránh gây thiệt hại tới vốn tài nguyên thiên nhiên quan trọng, chăng han tính da dang sinh hoc, sự tôn tại của các loài quý hiệm. và cảnh báo những dự án có tác động tới VQG.
Thứ ba, trong một số trường hợp việc lượng giá giá trị bằng tiền của tài sản môi trường là cơ sở dé Nhà nước cân nhắc khi đưa ra một quyết định ảnh hưởng đến vốn tự nhiên; là cơ sở dé Nhà nước xác định mức đền bù hoặc bồi thường khi cá nhân, tô chức gây tôn hại đên tài sản tự nhiên. Thư tr, khi tài sản môi trường được định giá tức giá tri của chúng được thừa nhận gồm cả giá trị sử dụng và giá trị phi sử dụng từ đó nâng cao nhận thức về môi trường của cộng đồng và đưa ra những chỉ dẫn trong quá trình ra quyết định kinh tế của VQG. SVTH: Vũ Đức Linh Chuyên dé thực tập 5 GVHD: PGS. Tổng giá trị kinh té của một Vườn Quốc gia Vườn Quoc gia là một tài sản môi trường nên tông giá tri kinh tê của một VQG vé nguyên tac có thê xem xét thông qua các thành phân giá tri của một tài sản môi trường.
Các nhà kinh tế học đã rất thành công khi phân loại giá trị kinh tế của một tài sản môi trường. Mặc dù thuật ngữ có thể chưa được thống nhất hoan toàn, nhưng phương pháp luận này đặt cơ sở cho việc giải thích về sự hình thành của giá trị trên cơ sở sự tương tác giữa chủ thé con người - người định ra giá trị và khách thê- vật được đánh giá. Về tong quan, dé đo lường tổng giá tri kinh tế của một tài sản môi trường nói chung và một VQG nói riêng, các nhà kinh tế học bắt đầu bằng việc phân biệt giữa giá trị sử dụng và giá trị phi sử dụng. Giá trị sử dụng là những lợi ích thu được từ việc sử dụng nguồn tài nguyên trên thực tế.
Đôi khi cũng có thể hiểu giá trị sử dụng là giá trị các cá nhân gan với việc tiêu dùng một cách trực tiếp hay gián tiếp các dịch vụ do nguồn tài nguyên cung cấp. Ví dụ, đối với một VQG hay một khu Từng, con người có thé thu được lợi ích từ go làm nhà, củi đốt; dùng cây cỏ làm thuốc; đi dạo trong rừng, ngắm nhìn các loài động thực vật hoặc chiêm ngưỡng cảnh đẹp. Giá trị sử dụng hình thành từ việc thực sự sử dụng tài sản môi trường, trên thực tê nó bao gôm: Giá trị sử dụng trực tiếp là các sản pham hang hoá, dịch vụ trực tiếp cung cấp mà chúng ta có thê tính được giá cả và khôi lượng trên thị trường. Một quan điểm khác cho rằng giá trị sử dụng trực tiếp là các lợi ích nhận được từ việc sử dụng trực tiếp tài sản và có thể được chia thành hai loại là sử dụng tiêu hao và không tiêu hao.
Chăng hạn, giá trị sử dụng trực tiếp của rừng gồm giá trị sử dụng tiêu hao như sản xuất gỗ, thực pham và các lâm sản ngoài gỗ khác; giá trị sử dụng không tiêu hao bao gồm các hoạt động giải trí và các hình thái du lịch thậm chí chỉ là xem hình ảnh phóng sự trên tivi. Giá trị sử dụng gián tiếp là những giá trị chủ yếu dựa trên chức năng của hệ sinh thái, có ý nghĩa về mặt sinh thái và môi trường. Nói cách khác đây là các chức năng cơ bản của môi trường gián tiếp hỗ trợ cho hoạt động kinh tế của con người. Chang han, kha năng chống gió bão, kha năng hap thu cacbon là giá trị sử dung gián tiếp của rừng.
Giá trị tuy chọn là lượng mà mỗi cá nhân sẵn sàng chỉ trả để bảo tồn nguồn lực hoặc một phần nguồn lực đề sử dụng cho tương lai. Đây là giá trị do nhận thức, lựa chọn của con người đặt ra trong hệ sinh thái. Giá trị tuỳ chọn không có tính thống nhất chung và cũng phải được tính về mặt tiền tệ theo tính chất lựa chọn của nó. Tuy nhiên, trong một sô trường hợp ranh giới giữa giá tri tuỳ chọn và giá trị không sử dụng là không rõ ràng.
Giá tri phi sử dụng còn gọi là giá trị không sử dụng hoặc giá trị chưa sử dụng và thường trừu tượng hơn giá tri sử dụng. SVTH: Vũ Đức Linh Chuyên dé thực tập 6 GVHD: PGS. Vũ Thi Minh Giá trị phi sử dung là thành phan giá trị của một tài sản môi trường thu được không phải do việc tiêu dùng một cách trực tiếp hay gián tiếp các các hàng hóa dịch vụ do tài sản môi trường cung cấp. Nó thê hiện các giá trị phi thị trường năm trong bản chất của sự vật, không liên quan đến việc sử dụng trên thực tế, hoặc thậm chí việc chọn lựa sử dụng tài sản này.