MỞ ĐẦU Việt Nam có độ đa dạng sinh học cao với nhiều loài đặc hữu do vị trí địa lý đặc biệt, phạm vi lãnh thé trải dài trên nhiều vĩ độ kết hợp với sự phong phú của các yếu tố địa hình, địa mạo và khí hậu [13,59]. Trong ba thập ky gần đây, số lượng các loài thú được ghi nhận ở Việt Nam ngày càng gia tăng, từ 223 loài (thuộc 12 bộ, 37 họ) vào năm 1994 [3] đến năm 2009 đã ghi nhận 322 loài thuộc 15 bộ [6]. Chỉ riêng các loài thú thuộc bộ Chuột chù (Eulipotyphla), sỐ lượng loài đã liên tục tăng từ 14 loài (năm 1994) [3] lên 22 loài (năm 2008) [4], 32 loài (năm 2013) [11] và 37 loài và phân loài (năm 2022) [2]. Họ Chuột chũi Talpidae G.
Fisher, 1814 phân bố ở bốn khu vực tách biệt của Bắc bán cầu gồm khu vực từ Châu Âu đến Siberia, khu vực Đông A phân bé từ Himalaya đến Nhật Bản, khu vực phía tây và nửa phía đông của Bắc Mỹ [39]. Đa số các loài thuộc họ này có đặc điểm cơ thé thích nghi với tập tính đào hang sống dưới lòng đất như: tai thường không có vành tai, mắt rất nhỏ gần như tiêu biến, chi trước phát triên rộng, hướng ra hai bên, móng vuôt lớn. Tại Việt Nam, năm 2008 ghi nhận 4 loài Chuột chũi gồm Scaptonyx fusicaudus, Euroscaptor parvidens, E. longirostris, Mogera latouchei [4].
Sau đó, Zemelerova et al. (2016) công bố hai loài mới tai Việt Nam là Chuột chũi cư-nét-sốp E. kuznetsovi và Chuột chũi o-lốp E. Dựa trên phân tích thống kê đa biến các đặc điểm hình thái sọ của các loài Chuột chũi giống Euroscaptor, Bui et al.
(2020a) đã thảo luận nâng hạng phân loài E. parvidens ngoclinhensis được Zemlemerova et al. (2016) công bố trước đó thành loài Chuột chũi ngọc linh E. Như vậy, hiện nay có 7 loài Chuột chũi thuộc 3 giống ở Việt Nam, gồm Chuột chũi đuôi dài (Scaptonyx fusicaudus), Chuột chai la-tu-cho (Mogera latouchei), Chuột chũi cư-nét-sốp (Euroscaptor kuznetsovi), Chuột chũi đuôi ngắn (Euroscaptor subanura), Chuột chũi o-lốp (Euroscaptor orlovi), Chuột chũi răng nhỏ (Euroscaptor parvidens) và Chuột chũi ngọc linh (Euroscaptor ngoclinhensis).
Van đề bao tồn các loài Chuột chũi trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng đến nay vẫn chưa nhận được nhiều sự quan tâm, mặc dù những loài này chiếm một phần không nhỏ trong tổng số loài thú trên trái đất. Trong số các loài thú đã biết, bộ Chuột chù Eulipotyphla (527 loài) là bộ thú nhiều loài thứ 3, chỉ sau bộ Gặm nhấm Rodentia (2.552 loài) và bộ Dơi Chiroptera (1. Họ Chuột chũi Talpidae là họ giàu loài thứ hai, chiếm hơn 10% tổng số loài trong bộ Chuột chù [22]. Với mức độ đa dạng cao về thành phần loài và chức năng sinh học, các loài Chuột chũi đóng vai trò quan trọng trong sinh khối động vật có xương sống trên trái đất và hệ sinh thái toàn cầu.
Những loài này giữ vai trò cơ bản trong các quá trình sinh thái cũng như duy trì cân bằng cấu trúc và tăng dinh dưỡng trong môi trường đất [44]. Tuy nhiên, đây lại là những loài rất ít được quan tâm trong công tác bảo tồn, nhiều loài trong số đó vẫn chưa thực sự được nghiên cứu đầy đủ về sinh học, sinh thái và được xếp hạng thiếu dẫn liệu theo IUCN (2023) [42]. Ở Việt Nam có 3 loài Chuột chũi đặc hữu là E. Tuy nhiên, theo đánh giá của IUCN, trong 3 loài này có 2 loài đang được xếp hạng thiếu dẫn liệu là E.
Trong bối cảnh sinh giới đang trải qua giai đoạn tuyệt chủng hàng loạt lần thứ sáu [28], Việt Nam đang quyết liệt hành động thực hiện Khung đa dạng sinh học toàn cầu Côn Minh-Montreal [65], nhu cầu cấp thiết để bảo tồn đa dạng sinh học tại nước ta lúc này là cần xây dựng được cơ sở dữ liệu về phân loại, phân bố, sinh học, sinh thái và nguồn gen một cách chi tiết hơn, đặc biệt là đối với những loài đặc hữu, quý, hiếm, các quần thể nhỏ phân bố hẹp và độc lập. Bên cạnh đó, trước thực trạng suy giảm môi trường sống như hiện nay thì việc đánh giá tình trang bảo tồn và những tác động xâu đên môi trường sông của các loài này là rât cân thiết. Các thay đổi trong vị trí phân loại và mô tả mới trong thời gian gần đây cho thấy hệ thống phân loại của họ Chuột chũi vẫn còn nhiều điều cần được làm rõ, do đó cần thực hiện các nghiên cứu về phát sinh chủng loại của những loài này tại Việt Nam. Đồng thời, với vai trò quan trọng cho hệ sinh thái và nguy cơ mất môi trường sông, các loài Chuột chũi tại Việt Nam cần được quan tâm nhiều hơn trong việc bảo tồn dé ngăn ngừa các nguy cơ tuyệt chủng tiềm ẩn trong tương lai.
Do đó, đề tài “Nghiên cứu phát sinh chủng loại của họ Chuột chii (Eulipotyphla: Talpidae) tại Việt Nam dựa trên phân tích sinh học phân tử và đề xuất giải pháp bảo tồn” được thực hiện nhằm bổ sung mẫu vật, nghiên cứu phát sinh chủng loại giữa các loài Chuột chti tại Việt Nam trên co sở phân tích sinh học phân tử và đề xuất các giải pháp bảo tồn loài. TONG QUAN NGHIÊN CỨU 1.Tình hình nghiên cứu đa dạng thành phần loài Chuột chũi tại Việt Nam Mặc dù nghiên cứu khoa học về thú ở Việt Nam được cho là chính thức bắt đầu từ đầu thế kỷ XIX với những ghi chép của Finayson năm 1821—1822 [3], nhưng phải đến năm 1932, dựa trên 215 mẫu vật được Delacour và trợ lý thu thập, Osgood mới ghi nhận loài Chuột chũi đầu tiên cho khu hệ thú Việt Nam “Talpa” klossi [49]. Đến năm 1940, Milner công bố thêm loài Chuột chũi răng nhỏ (Euroscaptor parvidens) ghi nhận ở Lâm Đồng [47]. Đặng Huy Huỳnh va cs.
Lunde et al. Abramov ef al. (2006) ghi nhan loai Euroscaptor cf. klossi tat Ngoc Linh, Kon Tum [12].
Đến năm 2008, Đặng Ngọc Cần và cs. đã thống kê ở Việt Nam có 4 loài Chuột chũi là Chuột chũi đuôi dài (Scapfonyx fusicaudus), Chuột chti răng nhỏ (Euroscaptor parvidens), Chuột chũi mũi dài (E. longirostris) và Chuột chũi la-tu-cho (Mogera latouchei) [4]. Nguyễn Xuân Dang và Lê Xuân Cảnh (2009) không ghi nhận M.
/zrouchei mà thay thé bằng Parascaptor leucura [6]. Kawada et al. (2009) đã đưa ra danh sách gồm 3 loài Chuột chti là Euroscaptor longirostris, E. parvidens và Mogera latouchei [40].
Trong nghiên cứu, nhóm tác giả khang định loài Euroscaptor klossi không phân bố tại Việt Nam. Kawada et al. Năm 2013, nhóm nghiên cứu của Đặng Ngọc Cần và Abramov đã đánh giá lại hiện trạng của các loài Chuột chũi ở Việt Nam và ghi nhận tại Việt Nam có 5 loài Chuột chũi gồm Scaptonyx fusicaudus, Eurocaptor parvidens, E. subanura, Mogera latouchei [5,11].
Sau đó, Zemlemerova et al. (2016) phân tích các mẫu vật Chuột chũi thu thập ở miền Bắc Việt Nam và Nam Trung Quốc và công bố hai loài Chuột chũi cư-nét-sốp E. kuznetsovi và Chuột chũi o-lốp E. orlovi và xác định loài Chuột chũi mũi dài Euroscaptor longirostris không phân bỗ ở Việt Nam (chỉ phân bố ở Tứ Xuyên, Trung Quốc) [72].
Zemlemerova er al. (2016) cũng khang định E. klossi không phân bố ở Việt Nam, mẫu vật được Abramov er al. (2006) nghiên cứu là của phân loài E.
parvidens ngoclinhensis cũng được các tác giả mô tả trong nghiên cứu này. Sau đó, dựa trên phân tích thống kê đa biến hình thái sọ các loài Chuột chũi giống Euroscaptor ở Việt Nam, Bui et al. (2020a) đã thảo luận nâng hạng phân loài E. parvidens ngoclinhensis thành loài Chuột cht ngọc linh E.
Như vậy, cho đến nay đã phát hiện 7 loài Chuột chũi tại Việt Nam gồm Chuột chũi đuôi dài (Scaptonyx fusicaudus), Chuột chũi la-tu-cho (Mogera latouchei), Chuột chũi cư-nét-xốp (Euroscaptor kuznetsovi), Chuột chũi đuôi ngắn (E. subanura), Chuột chũi o-lốp (E. orlovi), Chuột chai răng nhỏ (E. parvidens) và Chuột chũi ngọc linh (E.
Tat cả những loài này đều có tập tính đào ham và sống hoàn toàn trong lòng đất (fossorial).Tình hình nghiên cứu phat sinh chủng loại các loài Chuột chũi ở Việt Nam Các nghiên cứu về sinh học phân tử và phát sinh chủng loại của các loài Chuột chũi ở Việt Nam đến nay vẫn còn khá hạn chế. Một số công trình nghiên cứu đã công bố có liên quan như Zemlemerova eft al. (2013), He et al. (2014), Shinohara eft al.
(2014, 2015), Bannikova et al. (2015), He et al. (2016), Zemlemerova et al. Zemlemerova et al.
(2013) đã xây dựng cây phat sinh chủng loại của các loai chuột chũi Đông A [71. Trong nghiên cứu, để làm rõ mối quan hệ giữa các loài, các tác giả phân tích trình tự của một đoạn gen ty thé (Cytb) và hai đoạn gen nhân (RAGI và exonl1 của BRCA1) của 25 mau vật thuộc 4 loài gồm E. robusta (ngoại trừ M. robusta, cả 3 loài còn lại đều có các mẫu được ghi nhận tại Việt Nam).
Trên cơ sở về địa lý, sự khác biệt về hình thái và đi truyền, Zemlemerova et al. latouchei là một loài độc lập mà không phải là một phân loài của M. Shinohara et al. Shinohara et al.
(2015) nghiên cứu mối quan hệ phát sinh phân tử và sự đa dạng di truyền giữa 3 loài Euroscaptor ở Việt Nam (gồm E. subanura) qua phan tích các gen Cytb, 12S và RAGI [56]. Kết quả nghiên cứu cho thay mối quan hệ giữa các loài Euroscaptor ở Đông Nam A được chia thành hai nhóm với một nhóm gồm E. longirostris (từ Tây Nam Trung Quốc đến miền Bắc Việt Nam), trong khi nhóm còn lại chỉ phân bố ở Việt Nam gồm E.
Thêm vào đó, dù có cùng khu vực phân bố tại miền Bắc Việt Nam nhưng E. subanura lại không cùng nhóm với E. longirostris, mà loài này có mối quan hệ chị em với loài E. parvidens phan bố ở miền Trung Việt Nam.
Đồng thời, nghiên cứu cũng chỉ ra lịch sử phát sinh chủng loại có phần giống nhau giữa E. parvidens, và giữa E. Zemlemerova et al. Kết quả của nghiên cứu cho rang E.
longirostris chi phân bố ở Tứ Xuyên (Trung Quốc), E. orlovi phân bố ở Tây BắcViệt Nam va Vân Nam (Trung Quốc) và E. kuznetsovi phân bố ở Đông Bắc Việt Nam. Zemlemerova et al.
(2016) cũng cho thay ngoại trừ “Euroscapfor” mizura, tất cả các loài Euroscaptor khác được chia thành hai nhánh, nhánh phía đông gồm E. subanura, tách biệt hoàn toàn so với nhánh phía tây gồm E. Bùi Tuấn Hai (2022) đã phân tích quan hệ di truyền của các loài trong họ Chuột chũi Talpidae dựa trên 41 trình tự gen Cytb của 11 taxa (bao gồm 8 loài/phân loài đã xác định và 3 loài/phân loài chưa xác định) [2].