Quản lý xã hội hóa giáo dục mầm non tại Vị Xuyên, Hà Giang (2012-2020)

Nghiên cứu quản lý xã hội hóa giáo dục mầm non tại huyện Vị Xuyên, Hà Giang giai đoạn 2012-2020. Phân tích thực trạng, giải pháp nâng cao hiệu quả.

Chuyên ngành

Quản lý giáo dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2013

131
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

MỞ ĐẦU

1.1. Lý do chọn đề tài

1.2. Mục đích nghiên cứu

1.3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu

1.3.1. Khách thể nghiên cứu

1.3.2. Đối tƣợng nghiên cứu

1.4. Phạm vi nghiên cứu

1.4.1. Giới hạn về đối tƣợng nghiên cứu

1.4.2. Giới hạn và địa bàn nghiên cứu

1.4.3. Giới hạn và khách thể khảo sát

1.5. Giả thuyết khoa học

1.6. Nhiệm vụ nghiên cứu

1.6.1. Nghiên cứu, hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về XHH GDMN, quản lý công tác XHH GDMN, các nhân tố ảnh hƣởng đến công tác quản lý XHH GDMN

1.6.2. Khảo sát, đánh giá thực trạng công tác quản lý XHH GDMN trong những năm qua trên địa bàn huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang

1.6.3. Đề xuất một số giải pháp quản lý công tác XHH GDMN trên địa bàn huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang giai đoạn 2012 đến 2020

1.6.4. Khảo nghiệm nhận thức của lãnh đạo địa phƣơng, các đoàn thể, cán bộ quản lý nhà trƣờng, giáo viên, cha mẹ học sinh về tính cần thiết và khả thi của các giải pháp quản lý đã đề xuất

1.7. Phƣơng pháp nghiên cứu

1.7.1. Nhóm phƣơng pháp nghiên cứu lý thuyết

1.7.2. Nhóm phƣơng pháp nghiên cứu thực tiễn

1.7.3. Nhóm phƣơng pháp xử lý số liệu bằng toán thống kê

1.8. Dự kiến cấu trúc luận văn

1. CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI HÓA GIÁO DUC MẦM NON

1.1. Sơ lƣợc lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.2. Cơ sở lý luận về quản lý công tác XHHGD

1.3. Các khái niệm cơ bản của đề tài

1.4. Cơ sở pháp lý về quản lý xã hội hóa giáo dục

1.5. Giải pháp quản lý xã hội hóa giáo dục mầm non

1.6. Kinh nghiệm XHH GDMN và quản lý XHH GDMN ở một số nƣớc trong khu vực và trên thế giới

1.6.1. Kinh nghiệm xã hội hóa giáo dục trên thế giới

1.6.2. Kinh nghiệm quản lý xã hội hóa giáo dục mầm non trên thế giới

1.7. TIỂU KẾT CHƢƠNG 1

2. CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC MẦM NON Ở HUYỆN VỊ XUYÊN, TỈNH HÀ GIANG

2.1. Giới thiệu về tình hình tự nhiên, kinh tế, văn hóa - xã hội, giáo dục của huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang

2.1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa - xã hội, giáo dục ở huyện Vị Xuyên, Tỉnh Hà Giang

2.1.2. Khái quát tình hình giáo dục của huyện Vị Xuyên - Hà Giang

2.2. Thực trạng XHHGD mầm non huyện Vị Xuyên

2.2.1. Thực trạng tƣ tƣởng quản lý và chỉ đạo

2.2.2. Kết quả xã hội hóa nguồn kinh phí cho giáo dục mầm non

2.2.3. Công tác xã hội hóa thể hiện qua hệ thống trƣờng lớp đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý

2.2.4. Thực trạng nhận thức về xã hội hóa giáo dục

2.3. Thực trạng quản lý công tác XHHGD ở các trƣờng mầm non huyện Vị Xuyên

2.3.1. Thực trạng nhận thức về mức độ quan trọng của công tác quản lý XHH GDMN

2.3.2. Mức độ thực hiện các giải pháp quản lý XHH GDMN ở huyện Vị Xuyên

2.3.3. Kết quả của cuộc vận động công tác xã hội hóa giáo dục

2.4. Những ƣu điểm và tồn tại của công tác quản lý XHH GDMN ở huyện Vị Xuyên

2.4.1. Ƣu điểm của công tác quản lý XHH GDMN ở huyện Vị Xuyên

2.4.2. Những tồn tại và nguyên nhân của công tác quản lý XHH GDMN

2.5. TIỂU KẾT CHƢƠNG 2

3. CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC XHH GDMN Ở HUYỆN VỊ XUYÊN GIAI ĐOẠN 2012 ĐẾN 2020

3.1. Một số định hƣớng xây dựng các giải pháp quản lý XHH GDMN

3.1.1. Căn cứ vào quan điểm, chủ trƣơng của Đảng và Nhà nƣớc về XHH GDMN

3.1.2. Kế hoạch phát triển giáo dục - đào tạo ở huyện Vị Xuyên giai đoạn 2012 - 2020

3.1.3. Một số nguyên tắc xây dựng các giải pháp

3.2. Một số giải pháp quản lý công tác XHH GDMN ở huyện Vị Xuyên tỉnh Hà Giang giai đoạn 2012 đến 2020

3.2.1. Tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của mọi ngƣời về công tác XHH GDMN

3.2.2. Quản lý chặt chẽ các loại hình trƣờng, lớp mầm non trong quá trình thực hiện công tác XHH GDMN

3.2.3. Tăng cƣờng cơ chế quản lý trong công tác XHH DMN

3.2.4. Huy động sức mạnh tổng hợp và quản lý tốt các nguồn lực cộng đồng cho phát triển giáo dục mầm non

3.2.5. Tăng cƣờng vai trò kiểm tra, đánh giá trƣờng học của các tổ chức xã hội trong việc thực hiện xã hội háo giáo dục

3.2.6. Mối quan hệ giữ các giải pháp quản lý công tác XHH GDMN

3.3. Khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các giải pháp

3.4. TIỂU KẾT CHƢƠNG 3

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan xã hội hóa giáo dục mầm non Vị Xuyên hiện nay

Xã hội hóa giáo dục mầm non là một chủ trương chiến lược, có vai trò quyết định đến sự phát triển bền vững của hệ thống giáo dục quốc dân. Tại huyện Vị Xuyên, một địa bàn miền núi của tỉnh Hà Giang, công tác này càng thể hiện tầm quan trọng trong việc huy động sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội để chăm lo cho thế hệ tương lai. Chủ trương này được cụ thể hóa thông qua việc khuyến khích các tổ chức, cá nhân và cộng đồng cùng tham gia vào quá trình đầu tư giáo dục mầm non, xây dựng cơ sở vật chất, và nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ. Bản chất của xã hội hóa giáo dục mầm non Vị Xuyên không chỉ dừng lại ở việc kêu gọi đóng góp tài chính, mà còn là sự chung tay về trí tuệ, công sức, tạo ra một môi trường giáo dục toàn diện, nơi nhà trường, gia đình và xã hội có sự liên kết chặt chẽ. Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã khẳng định: “Giáo dục là sự nghiệp của toàn xã hội”. Điều này đặt ra yêu cầu phải biến quá trình giáo dục từ trách nhiệm của riêng ngành giáo dục thành nhiệm vụ chung của mọi thành phần kinh tế, mọi lực lượng xã hội. Thực tiễn tại Vị Xuyên cho thấy, khi công tác xã hội hóa được triển khai hiệu quả, hệ thống giáo dục mầm non Hà Giang nói chung và Vị Xuyên nói riêng đã có những bước tiến rõ rệt, góp phần giảm tải cho trường công lập và đáp ứng tốt hơn nhu cầu gửi trẻ của nhân dân.

1.1. Cơ sở pháp lý và vai trò của xã hội hóa giáo dục mầm non

Chủ trương xã hội hóa giáo dục được xây dựng dựa trên một hệ thống cơ sở pháp lý vững chắc. Luật Giáo dục 2005, và được sửa đổi bổ sung năm 2009, đã quy định rõ: “Phát triển giáo dục, xây dựng xã hội học tập là sự nghiệp của Nhà nước và của toàn dân”. Văn bản này nhấn mạnh vai trò chủ đạo của Nhà nước nhưng đồng thời cũng khuyến khích, huy động mọi nguồn lực xã hội tham gia. Đối với bậc học mầm non, Đề án “Phát triển giáo dục mầm non giai đoạn 2006-2015” cũng chỉ rõ quan điểm: “Đẩy mạnh xã hội hoá, tạo điều kiện thuận lợi về cơ chế, chính sách để mọi tổ chức, cá nhân và toàn xã hội tham gia phát triển giáo dục mầm non”. Tại Vị Xuyên, việc vận dụng các chính sách này vào thực tiễn đã tạo ra một hành lang pháp lý quan trọng để Phòng Giáo dục và Đào tạo Vị Xuyên triển khai các kế hoạch cụ thể, kêu gọi sự tham gia của cộng đồng. Vai trò của xã hội hóa không chỉ giúp giải quyết bài toán kinh phí mà còn thúc đẩy sự đa dạng hóa các loại hình trường lớp, nâng cao tinh thần trách nhiệm của toàn dân đối với sự nghiệp trồng người.

1.2. Mục tiêu chính của đề án xã hội hóa giáo dục tại Vị Xuyên

Mục tiêu trọng tâm của đề án xã hội hóa giáo dục tại Vị Xuyên là huy động nguồn lực xã hội một cách tối đa để cải thiện toàn diện chất lượng giáo dục mầm non. Cụ thể, đề án hướng tới việc mở rộng và phát triển mạng lưới trường lớp, đặc biệt tại các xã vùng sâu, vùng xa, đảm bảo mọi trẻ em trong độ tuổi đều có cơ hội đến trường. Một mục tiêu quan trọng khác là cải tạo, nâng cấp và xây mới cơ sở vật chất trường mầm non, trang bị thêm đồ dùng, đồ chơi, thiết bị dạy học hiện đại. Bên cạnh đó, đề án còn chú trọng đến việc nâng cao năng lực đội ngũ giáo viên thông qua các chương trình bồi dưỡng chuyên môn do các doanh nghiệp, tổ chức xã hội tài trợ. Cuối cùng, việc thực hiện xã hội hóa nhằm tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các cơ sở giáo dục công lập và ngoài công lập, từ đó thúc đẩy việc nâng cao chất lượng chăm sóc trẻ một cách bền vững.

II. Thách thức trong công tác xã hội hóa giáo dục Vị Xuyên

Mặc dù đã đạt được những kết quả ban đầu, quá trình thực hiện xã hội hóa giáo dục mầm non Vị Xuyên vẫn đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức đáng kể. Vị Xuyên là một huyện miền núi với điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều hạn chế, đời sống người dân chưa cao, gây ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng đóng góp và huy động nguồn lực xã hội. Nhận thức của một bộ phận cán bộ và người dân về bản chất của xã hội hóa còn chưa đầy đủ, đôi khi bị đồng nhất với việc huy động đóng góp tài chính đơn thuần. Luận văn của tác giả Lương Hồng Nhung (2013) chỉ ra rằng, tâm lý trông chờ, ỷ lại vào sự đầu tư của Nhà nước vẫn còn tồn tại ở nhiều nơi. Thêm vào đó, việc thu hút đầu tư vào giáo dục từ các doanh nghiệp, tổ chức ngoài địa bàn gặp nhiều trở ngại do cơ chế, chính sách chưa đủ hấp dẫn và điều kiện địa lý không thuận lợi. Hệ thống các trường mầm non tư thục Vị Xuyênnhóm trẻ độc lập tư thục phát triển còn chậm, chưa đủ mạnh để tạo ra sự cạnh tranh và chia sẻ gánh nặng với hệ thống trường công lập. Những thách thức này đòi hỏi cần có các giải pháp quản lý đồng bộ và quyết liệt hơn từ các cấp chính quyền.

2.1. Hạn chế về nhận thức và tâm lý ỷ lại của cộng đồng

Một trong những rào cản lớn nhất là nhận thức chưa đầy đủ về công tác xã hội hóa. Nhiều người vẫn hiểu phiến diện rằng đây là trách nhiệm của ngành giáo dục trong việc kêu gọi sự đóng góp bằng tiền của. Điều này dẫn đến sự tham gia còn mang tính hình thức, thiếu tự nguyện và chủ động. Theo khảo sát trong tài liệu nghiên cứu, tâm lý trông chờ vào ngân sách nhà nước vẫn còn phổ biến, người dân chưa thực sự xem việc đóng góp cho giáo dục là quyền lợi và trách nhiệm của chính mình. Sự hạn chế trong nhận thức làm giảm hiệu quả của các cuộc vận động, khiến việc huy động nguồn lực xã hội gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là các nguồn lực phi vật chất như trí tuệ, công sức và sự giám sát của cộng đồng.

2.2. Khó khăn trong việc thu hút đầu tư vào giáo dục mầm non

Việc thu hút đầu tư vào giáo dục, đặc biệt là giáo dục mầm non, tại một huyện miền núi như Vị Xuyên là một bài toán khó. Các doanh nghiệp thường ưu tiên đầu tư vào các lĩnh vực có khả năng sinh lời nhanh và cao hơn. Lợi nhuận từ giáo dục mầm non thường không hấp dẫn, trong khi yêu cầu về vốn đầu tư ban đầu cho cơ sở vật chất trường mầm non lại rất lớn. Bên cạnh đó, các chính sách khuyến khích xã hội hóa hiện tại có thể chưa đủ mạnh, thiếu các ưu đãi cụ thể về thuế, đất đai để tạo động lực cho các nhà đầu tư tư nhân. Sự thiếu vắng các nhà đầu tư lớn khiến cho việc phát triển mạng lưới trường lớp ngoài công lập diễn ra chậm, chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế.

III. Phương pháp huy động nguồn lực xã hội hóa giáo dục hiệu quả

Để vượt qua các thách thức, việc triển khai các phương pháp huy động nguồn lực một cách khoa học và sáng tạo là yêu cầu cấp thiết. Giải pháp cốt lõi cho xã hội hóa giáo dục mầm non Vị Xuyên là đẩy mạnh công tác tuyên truyền, thay đổi nhận thức của toàn xã hội. Cần làm cho mỗi người dân, mỗi tổ chức hiểu rằng đầu tư cho giáo dục chính là đầu tư cho tương lai. Các hình thức tuyên truyền cần đa dạng, từ các buổi họp thôn, bản, tọa đàm đến việc sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng. Bên cạnh đó, việc xây dựng và hoàn thiện chính sách khuyến khích xã hội hóa là yếu tố then chốt. Chính quyền địa phương cần ban hành các cơ chế cụ thể, minh bạch để tôn vinh, khen thưởng kịp thời các cá nhân, tập thể có đóng góp tích cực. Đồng thời, cần tạo điều kiện thuận lợi về thủ tục hành chính, mặt bằng cho các nhà đầu tư muốn thành lập trường mầm non tư thục Vị Xuyên. Việc công khai, minh bạch trong quản lý và sử dụng các nguồn lực huy động được sẽ củng cố niềm tin của nhân dân, từ đó tạo ra động lực to lớn cho sự phát triển của chất lượng giáo dục mầm non.

3.1. Tăng cường tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng

Công tác tuyên truyền phải được thực hiện một cách thường xuyên, liên tục và sâu rộng đến mọi tầng lớp nhân dân. Nội dung tuyên truyền cần tập trung vào ý nghĩa, mục tiêu và lợi ích thiết thực của xã hội hóa giáo dục. Phòng Giáo dục và Đào tạo Vị Xuyên cần phối hợp chặt chẽ với các ban, ngành, đoàn thể như Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Khuyến học để tổ chức các chiến dịch truyền thông hiệu quả. Cần xây dựng các mô hình điểm, các tấm gương điển hình trong công tác xã hội hóa và nhân rộng ra toàn huyện. Khi nhận thức của người dân được nâng cao, họ sẽ tự nguyện tham gia đóng góp không chỉ vật chất mà cả công sức, trí tuệ, tham gia giám sát hoạt động của nhà trường, góp phần tạo nên một môi trường giáo dục lành mạnh.

3.2. Xây dựng chính sách khuyến khích xã hội hóa minh bạch

Một hệ thống chính sách khuyến khích xã hội hóa rõ ràng và hấp dẫn là đòn bẩy quan trọng. Các chính sách này có thể bao gồm: miễn, giảm tiền thuê đất, thuế thu nhập doanh nghiệp cho các dự án đầu tư giáo dục mầm non; hỗ trợ thủ tục pháp lý nhanh gọn; công khai quy hoạch mạng lưới trường lớp để các nhà đầu tư dễ dàng tiếp cận. Ngoài ra, cần có cơ chế vinh danh, khen thưởng công khai đối với các tổ chức, cá nhân có đóng góp lớn. Sự minh bạch trong việc tiếp nhận, quản lý và sử dụng các nguồn tài trợ là yếu tố sống còn để xây dựng lòng tin. Mọi khoản đóng góp phải được công khai tài chính, báo cáo chi tiêu rõ ràng, đảm bảo nguồn lực được sử dụng đúng mục đích và hiệu quả.

IV. Giải pháp phát triển mạng lưới cơ sở giáo dục mầm non

Một trong những mục tiêu quan trọng của xã hội hóa giáo dục mầm non Vị Xuyên là đa dạng hóa các loại hình trường lớp, đáp ứng nhu cầu đa dạng của xã hội và giảm tải cho trường công lập. Để làm được điều này, cần tập trung vào hai hướng chính. Thứ nhất, thúc đẩy mô hình hợp tác công tư giáo dục (PPP). Đây là hình thức hợp tác hiệu quả, nơi Nhà nước và tư nhân cùng chia sẻ nguồn lực và trách nhiệm. Nhà nước có thể góp đất, hỗ trợ chính sách, trong khi tư nhân đầu tư xây dựng, quản lý vận hành. Mô hình này giúp tận dụng được nguồn vốn và kinh nghiệm quản lý linh hoạt của khu vực tư nhân để nhanh chóng mở rộng mạng lưới trường lớp. Thứ hai, cần tạo môi trường thuận lợi để khuyến khích sự ra đời và phát triển của các trường mầm non tư thục Vị Xuyên và các nhóm trẻ độc lập tư thục. Chính quyền cần đơn giản hóa các thủ tục thành lập, đồng thời tăng cường công tác quản lý, thanh tra, kiểm tra để đảm bảo chất lượng tại các cơ sở ngoài công lập, bảo vệ quyền lợi cho trẻ em và phụ huynh.

4.1. Thúc đẩy mô hình hợp tác công tư trong giáo dục mầm non

Mô hình hợp tác công tư giáo dục là một giải pháp chiến lược để giải quyết bài toán thiếu hụt cơ sở vật chất trường mầm non. Theo mô hình này, chính quyền huyện Vị Xuyên có thể kêu gọi các doanh nghiệp có tiềm lực cùng đầu tư xây dựng các trường mầm non đạt chuẩn. Sự hợp tác này không chỉ mang lại lợi ích về tài chính mà còn giúp du nhập các phương pháp quản lý hiện đại, các chương trình giáo dục tiên tiến vào địa phương. Để mô hình này thành công, cần có khung pháp lý rõ ràng, xác định cụ thể quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi bên, đảm bảo sự hài hòa giữa mục tiêu giáo dục và lợi ích của nhà đầu tư.

4.2. Khuyến khích thành lập trường tư thục nhóm trẻ độc lập

Sự phát triển của hệ thống trường mầm non tư thục Vị Xuyênnhóm trẻ độc lập tư thục là một chỉ dấu quan trọng cho sự thành công của công tác xã hội hóa. Các cơ sở này giúp đáp ứng nhu cầu gửi trẻ linh hoạt về thời gian và chương trình học của nhiều gia đình. Huyện cần có chính sách hỗ trợ cụ thể như cho vay vốn ưu đãi, tập huấn miễn phí về chuyên môn, nghiệp vụ cho chủ nhóm lớp và giáo viên. Đồng thời, Phòng Giáo dục và Đào tạo Vị Xuyên phải tăng cường vai trò quản lý nhà nước, thường xuyên kiểm tra, giám sát để đảm bảo các cơ sở này hoạt động đúng quy định, an toàn và hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc trẻ trên toàn địa bàn.

V. Kết quả thực tiễn xã hội hóa giáo dục mầm non Vị Xuyên

Qua một thời gian triển khai, công tác xã hội hóa giáo dục mầm non Vị Xuyên đã mang lại những kết quả tích cực, góp phần thay đổi diện mạo của giáo dục mầm non trên địa bàn. Một trong những thành tựu nổi bật nhất là sự cải thiện rõ rệt về cơ sở vật chất trường mầm non. Nhờ sự chung tay của cộng đồng, doanh nghiệp và phụ huynh, nhiều phòng học đã được xây mới, sửa chữa; sân chơi được bê tông hóa; trang thiết bị, đồ dùng dạy học được bổ sung phong phú. Điều này đã trực tiếp góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc trẻ, tạo môi trường học tập và vui chơi an toàn, thân thiện hơn. Bên cạnh đó, sự phát triển của các cơ sở ngoài công lập, dù còn khiêm tốn, cũng đã bắt đầu giúp giảm tải cho trường công lập tại các khu vực trung tâm. Quan trọng hơn, nhận thức của cộng đồng về vai trò và trách nhiệm đối với giáo dục đã được nâng lên một bước. Phụ huynh tham gia tích cực hơn vào các hoạt động của nhà trường, tạo ra mối liên kết bền chặt giữa gia đình và nhà trường trong sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ.

5.1. Cải thiện cơ sở vật chất và nâng cao chất lượng giáo dục

Nhờ huy động nguồn lực xã hội, nhiều trường mầm non tại Vị Xuyên đã có sự thay đổi ngoạn mục. Từ những phòng học tạm bợ, đến nay nhiều điểm trường đã được kiên cố hóa. Các nguồn tài trợ từ doanh nghiệp và đóng góp của phụ huynh đã giúp mua sắm thêm nhiều bộ đồ chơi ngoài trời, thiết bị nhà bếp, đồ dùng học tập theo chương trình giáo dục mầm non mới. Sự đầu tư này không chỉ cải thiện điều kiện dạy và học mà còn là động lực để đội ngũ giáo viên nỗ lực, sáng tạo hơn trong công việc, qua đó trực tiếp nâng cao chất lượng giáo dục mầm non toàn huyện.

5.2. Giảm tải áp lực cho hệ thống trường mầm non công lập

Việc khuyến khích các trường mầm non tư thục Vị Xuyên và các nhóm lớp độc lập phát triển đã góp phần san sẻ gánh nặng cho hệ thống công lập. Tại các thị trấn, khu vực đông dân cư, sự có mặt của các trường tư thục đã mang đến cho phụ huynh nhiều sự lựa chọn, giúp giảm tải cho trường công lập về sĩ số học sinh trên mỗi lớp. Điều này cho phép các trường công lập có điều kiện chăm sóc, giáo dục trẻ tốt hơn, đảm bảo chất lượng theo đúng quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Đây là một kết quả quan trọng, cho thấy hướng đi xã hội hóa là hoàn toàn đúng đắn.

22/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu cho việc xây dựng nền giáo dục của dân, do dân và vì dân. Phong trào học tập sôi nổi khắp nơi, ngƣời ngƣời đi học, nhà nhà đi học, đâu cũng có thể là trƣờng, đâu cũng có thể là lớp học xóa mù chữ. Trong bài nói chuyện tại hội nghị tổng kết phong trào thi đua: “Dạy tốt, học tốt”của ngành giáo dục phổ thông và sƣ phạm Bác Hồ đã căn dặn: “Trường học phải liên hệ chặt chẽ với gia đình, với xã hội, các đoàn thể thanh niên, phụ nữ, các cơ quan chính quyền và các cấp ủy Đảng phải thực sự quan tâm đến nhà trường, đến việc học tập của con em mình [26, tr. Thời kỳ đổi mới (Từ năm 1986 đến nay) Đất nƣớc thống nhất, cả nƣớc cùng phấn đấu cho mục tiêu chung vì sự nghiệp “dân giàu, nƣớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh”.

Đại hội Đảng lần thứ XI tiếp tục khẳng định con đƣờng đi lên chủ nghĩa xã hội là con đƣờng dân tộc ta đã chọn, cƣơng lĩnh xây dựng đất nƣớc trong thời kỳ quá độ lên xã hội chủ nghĩa quyết định chiến lƣợc “Tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc”, phát triển nhanh, bền vững, phát huy sức mạnh toàn Đảng, toàn dân tập trung xây dựng phát triển kinh tế đất nƣớc. Trong phần Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 13 quan điểm phát triển, Cƣơng lĩnh đã chỉ rõ “phát huy tối đa nhân tố con ngƣời, coi con ngƣời là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và mục tiêu của sự phát triển”. Trong Báo cáo chính trị của Đại hội, phần giáo dục đào tạo cũng đƣợc khẳng định chủ trƣơng “phát triển nguồn nhân lực chất lƣợng cao”; “Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đào tạo”, thực hiện đồng bộ các giải pháp phát triển và nâng cao chất lƣợng giáo dục và đào tạo. Nhƣ vậy, Đảng đã khẳng định rõ về chế độ chính trị mà chúng ta tiếp tục xây dựng với những cơ sở kinh tế và xã hội đặc trƣng của nó, giáo dục đào tạo là một hình thức ý thức xã hội.

Hiện nay chúng ta đang ở trong chặng đƣờng đầu tiên của thời kỳ quá độ, chuẩn bị cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội bằng việc “hoàn thiện nền kinh tế thị trƣờng theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa” trong bối cảnh toàn cầu hóa đang diễn ra sôi động. Chúng ta còn phải “vừa phát huy nội lực vừa hội nhập quốc tế”. Để đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nƣớc trong thế kỷ XXI ngành giáo dục đào tạo có nhiệm vụ đáp ứng con ngƣời. Để phục vụ cho Tổ quốc, trƣớc tiên chúng ta cần xác định “chuẩn ngƣời Việt Nam thế kỷ XXI với định hƣớng các giá trị phù hợp”, đấy là con ngƣời vừa truyền thống, vừa hiện đại, vừa có những phẩm chất đặc trƣng của ngƣời Việt Nam nhƣ: yêu nƣớc, cần cù, nhân ái… vừa có những phẩm chất của công dân quốc tế, con ngƣời hiện đại nhƣ trình độ văn hóa, cách mạng, tay nghề cao, lối sống tác phong công nghiệp, năng động, hòa nhập quốc tế.

Nhƣ vậy nền giáo dục “mở” đa dạng hóa cách thức, phƣơng thức giáo dục để nâng cao chất lƣợng, cải tiến nội dung, phƣơng pháp góp nâng cao dân trí, bồi dƣỡng nhân tài mà nghị quyết Trung ƣơng đã đề ra, chú trọng đào tạo nguồn nhân lực, nhất là bồi dƣỡng nâng cao trình độ cho cán bộ chốt cán toàn thể các ngành trong bộ máy Nhà nƣớc để bảo vệ toàn vẹn chủ toàn quyền lãnh thổ Việt Nam. Nhiệm vụ chủ chốt là trồng ngƣời, giao quyền chủ động cho giáo dục, cụ thể là các đơn vị trƣờng học trong nhiệm vụ đào tạo, chịu trách Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 14 nhiệm trƣớc xã hội về chất lƣợng, khuyến khích cạnh tranh lành mạnh về chất lƣợng giáo dục trên cơ sở những định hƣớng chung của nhà nƣớc, việc lựa chọn nội dung, phƣơng pháp đào tạo sao cho phù hợp, từ việc xây dựng chƣơng trình, nội dung, hình thức giảng dạy giáo dục con ngƣời phù hợp thời đại, cập nhập thông tin nhanh, phát huy truyền thống dân tộc, có kiến thức hội nhập, học tập suốt đời. Nhà nƣớc phát triển cân đối hệ thống giáo dục: Giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học và sau đại học, phổ cập giáo dục tiểu học và xóa mù chữ. Phát triển loại hình trƣờng quốc lập, dân lập và các loại hình giáo dục khác.

Nhà nƣớc ƣu tiên đầu tƣ cho giáo dục, khuyến khích các nguồn đầu tƣ khác. Nhà nƣớc thực hiện chính sách ƣu tiên đảm bảo phát triển giáo dục miền núi, các vùng dân tộc thiểu số và các vùng dân tộc đặc biệt khó khăn. Thực hiện công tác XHHGD, các đoàn thể nhân dân, trƣớc hết là đoàn thanh niên, các tổ chức xã hội, các tổ chức kinh tế, gia đình cùng nhà trƣờng có trách nhiệm giáo dục thế hệ thanh thiếu niên nhi đồng [50]. Đất nƣớc ta đang chuyển sang một thời kỳ mới, một thời kỳ với những thay đổi nhanh chóng của xã hội, xây dựng con ngƣời mới có tác phong công nghiệp, cập nhập tốt những biến đổi của kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội.

Một thời kỳ đổi mới cả tƣ duy lẫn hành động, đổi mới tƣ duy trên các lĩnh vực, đòi hỏi giáo dục Việt Nam phải phát triển với tốc độ cao, giáo dục phải kịp thời nắm đƣợc những biến đổi của xã hội để điều chỉnh bổ sung cho phù hợp với bối cảnh lịch sử, để đáp ứng với giai đoạn mới. Quan niệm đa dạng hóa trong công tác giáo dục vốn có đƣợc tiếp tục khơi dậy và nâng cao lên một tầm mới. Chiến lƣợc phát triển giáo dục giai đoạn 2012 đến 2020, Đảng ta đã khẳng định: Khoa học và công nghệ cùng với GD & ĐT là quốc sách hàng đầu để phát triển nguồn nhân lực, nhằm đƣa đất nƣớc ra khỏi nghèo nàn lạc hậu, sánh vai với các cƣờng quốc trên thế giới. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 15 Các kỳ họp quốc hội, các hội thảo trƣng cầu ý kiến, các văn kiện, nghị định, thông tƣ, nghị quyết của Đảng và của Nhà nƣớc, các cơ quan, các nhà khoa học, các nhà quản lý giáo dục, các hội nghị giáo dục từ trung ƣơng đến địa phƣơng đã tập trung bàn luận về công tác xã hội hóa giáo dục.TSKH Phạm Minh Hạc trong cuốn “Giáo dục Việt Nam trƣớc ngƣỡng cửa thế kỷ XXI” đã khẳng định: “Sự nghiệp giáo dục không phải chỉ của Nhà nƣớc mà là của toàn xã hội; mọi ngƣời cùng làm giáo dục, nhà nƣớc và xã hội, trung ƣơng và địa phƣơng cùng làm giáo dục”[21, tr.

Trong cuốn Những vấn đề cơ bản của giáo dục hiện đại của tác giả Thái Duy Tuyên và cuốn “XHH công tác giáo dục” do các tác giả Phạm Minh Hạc (chủ biên) và Trần Kiểm (đồng tác giả) cũng đã nhấn mạnh công tác này. Các nhà nghiên cứu khác nhƣ: Nguyễn Mậu Bành, Nguyễn Thanh Bình, Đào Duy Ngân…có nhiều bài viết về công tác xã hội hóa giáo dục. Viện khoa học giáo dục nƣớc ta nhiều năm qua đã nghiên cứu về công tác XHHGD, tổng kết kinh nghiệm, xây dựng đề án XHHGD với những giải pháp ở tầm vĩ mô, nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục ở nƣớc ta. Điểm qua vài nét về lịch sử vấn đề nghiên cứu có thể thấy XHHGD là một chủ trƣơng quan trọng, thúc đẩy sự phát triển của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia.

Tuy nhiên để công tác XHHGD có hiệu quả thì phải quản lý tốt. Trên cơ sở nhận thức ấy, tác giả tiếp thu kinh nghiệm những quan điểm, những cách làm trƣớc đó, đối chiếu với tình hình thực tiễn ở địa phƣơng để tiếp tục nghiên cứu, phát huy tác dụng của công tác XHHGD tại huyện Vị Xuyên mình. Cơ sở lý luận về quản lý công tác XHHGD 1. Các khái niệm cơ bản của đề tài 1.

Quản lý và quản lý giáo dục Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 16 - Quản lý: Quản lý trong kinh doanh hay quản lý trong các tổ chức nhân sự nói chung là hành động đƣa các cá nhân trong tổ chức làm việc cùng nhau để thực hiện, hoàn thành mục tiêu chung. Công việc quản lý bao gồm 5 nhiệm vụ (theo Henry Fayol): xây dựng kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm soát. Trong đó, các nguồn lực có thể đƣợc sử dụng và để quản lý là nhân lực, tài chính, công nghệ và thiên nhiên. Nhiệm vụ cơ bản của quản lý Hoạch định: xác định mục tiêu, quyết định những công việc cần làm trong tƣơng lai (ngày mai, tuần tới, tháng tới, năm sau, trong 5 năm sau.) và lên các kế hoạch hành động.

Tổ chức: sử dụng một cách tối ƣu các tài nguyên đƣợc yêu cầu để thực hiện kế hoạch. Bố trí nhân lực: phân tích công việc, tuyển mộ và phân công từng cá nhân cho từng công việc thích hợp Lãnh đạo/Động viên: Giúp các nhân viên khác làm việc hiệu quả hơn để đạt đƣợc các kế hoạch (khiến các cá nhân sẵn lòng làm việc cho tổ chức). Kiểm soát: Giám sát, kiểm tra quá trình hoạt động theo kế hoạch (kế hoạch có thể sẽ đƣợc thay đổi phụ thuộc vào phản hồi của quá trình kiểm tra). Quản lý là một hoạt động cần thiết cho tất cả các lĩnh vực của đời sống con ngƣời.

Ở đâu con ngƣời tạo nên nhóm xã hội là ở đó cần đến quản lí, bất kể đó là nhóm chính thức, nhóm không chính thức, là nhóm nhỏ hay nhóm lớn, là nhóm bạn bè, gia đình hay các đoàn thể, tổ chức xã hội bất kể mục đích, nội dung hoạt động của nhóm đó là gì. Tùy theo mục đích và các góc độ tiếp cận trong nghiên cứu nên khái niệm quản lý có nhiều các hiểu khác nhau. Trong luận văn này chúng tôi xin Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 17 đƣợc đƣa ra một số các quan niệm của một số nhà khoa học để sau đó đi đến thống nhất quan niệm về khái niệm quản lý. Xét về chức năng, quản lý là một hệ thống tổ chức từ các góc độ của hoạt động kinh doanh, các nhà doanh nghiệp Mỹ cho rằng: “Quản lý là đƣa những nguồn vốn về con ngƣời và của cải vào các đơn vị tổ chức và năng động để đạt đƣợc mục tiêu, mọi mặt bằng các đảm bảo thỏa mãn tối đa ngƣời hƣởng lợi, mặt khác đảm bảo tinh thần về thực hiện cho con ngƣời cấp vốn”.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ