mở đầu cho việc xây dựng nền giáo dục của dân, do dân và vì dân. Phong trào học tập sôi nổi khắp nơi, ngƣời ngƣời đi học, nhà nhà đi học, đâu cũng có thể là trƣờng, đâu cũng có thể là lớp học xóa mù chữ. Trong bài nói chuyện tại hội nghị tổng kết phong trào thi đua: “Dạy tốt, học tốt”của ngành giáo dục phổ thông và sƣ phạm Bác Hồ đã căn dặn: “Trường học phải liên hệ chặt chẽ với gia đình, với xã hội, các đoàn thể thanh niên, phụ nữ, các cơ quan chính quyền và các cấp ủy Đảng phải thực sự quan tâm đến nhà trường, đến việc học tập của con em mình [26, tr. Thời kỳ đổi mới (Từ năm 1986 đến nay) Đất nƣớc thống nhất, cả nƣớc cùng phấn đấu cho mục tiêu chung vì sự nghiệp “dân giàu, nƣớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh”.
Đại hội Đảng lần thứ XI tiếp tục khẳng định con đƣờng đi lên chủ nghĩa xã hội là con đƣờng dân tộc ta đã chọn, cƣơng lĩnh xây dựng đất nƣớc trong thời kỳ quá độ lên xã hội chủ nghĩa quyết định chiến lƣợc “Tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc”, phát triển nhanh, bền vững, phát huy sức mạnh toàn Đảng, toàn dân tập trung xây dựng phát triển kinh tế đất nƣớc. Trong phần Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 13 quan điểm phát triển, Cƣơng lĩnh đã chỉ rõ “phát huy tối đa nhân tố con ngƣời, coi con ngƣời là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và mục tiêu của sự phát triển”. Trong Báo cáo chính trị của Đại hội, phần giáo dục đào tạo cũng đƣợc khẳng định chủ trƣơng “phát triển nguồn nhân lực chất lƣợng cao”; “Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đào tạo”, thực hiện đồng bộ các giải pháp phát triển và nâng cao chất lƣợng giáo dục và đào tạo. Nhƣ vậy, Đảng đã khẳng định rõ về chế độ chính trị mà chúng ta tiếp tục xây dựng với những cơ sở kinh tế và xã hội đặc trƣng của nó, giáo dục đào tạo là một hình thức ý thức xã hội.
Hiện nay chúng ta đang ở trong chặng đƣờng đầu tiên của thời kỳ quá độ, chuẩn bị cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội bằng việc “hoàn thiện nền kinh tế thị trƣờng theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa” trong bối cảnh toàn cầu hóa đang diễn ra sôi động. Chúng ta còn phải “vừa phát huy nội lực vừa hội nhập quốc tế”. Để đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nƣớc trong thế kỷ XXI ngành giáo dục đào tạo có nhiệm vụ đáp ứng con ngƣời. Để phục vụ cho Tổ quốc, trƣớc tiên chúng ta cần xác định “chuẩn ngƣời Việt Nam thế kỷ XXI với định hƣớng các giá trị phù hợp”, đấy là con ngƣời vừa truyền thống, vừa hiện đại, vừa có những phẩm chất đặc trƣng của ngƣời Việt Nam nhƣ: yêu nƣớc, cần cù, nhân ái… vừa có những phẩm chất của công dân quốc tế, con ngƣời hiện đại nhƣ trình độ văn hóa, cách mạng, tay nghề cao, lối sống tác phong công nghiệp, năng động, hòa nhập quốc tế.
Nhƣ vậy nền giáo dục “mở” đa dạng hóa cách thức, phƣơng thức giáo dục để nâng cao chất lƣợng, cải tiến nội dung, phƣơng pháp góp nâng cao dân trí, bồi dƣỡng nhân tài mà nghị quyết Trung ƣơng đã đề ra, chú trọng đào tạo nguồn nhân lực, nhất là bồi dƣỡng nâng cao trình độ cho cán bộ chốt cán toàn thể các ngành trong bộ máy Nhà nƣớc để bảo vệ toàn vẹn chủ toàn quyền lãnh thổ Việt Nam. Nhiệm vụ chủ chốt là trồng ngƣời, giao quyền chủ động cho giáo dục, cụ thể là các đơn vị trƣờng học trong nhiệm vụ đào tạo, chịu trách Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 14 nhiệm trƣớc xã hội về chất lƣợng, khuyến khích cạnh tranh lành mạnh về chất lƣợng giáo dục trên cơ sở những định hƣớng chung của nhà nƣớc, việc lựa chọn nội dung, phƣơng pháp đào tạo sao cho phù hợp, từ việc xây dựng chƣơng trình, nội dung, hình thức giảng dạy giáo dục con ngƣời phù hợp thời đại, cập nhập thông tin nhanh, phát huy truyền thống dân tộc, có kiến thức hội nhập, học tập suốt đời. Nhà nƣớc phát triển cân đối hệ thống giáo dục: Giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học và sau đại học, phổ cập giáo dục tiểu học và xóa mù chữ. Phát triển loại hình trƣờng quốc lập, dân lập và các loại hình giáo dục khác.
Nhà nƣớc ƣu tiên đầu tƣ cho giáo dục, khuyến khích các nguồn đầu tƣ khác. Nhà nƣớc thực hiện chính sách ƣu tiên đảm bảo phát triển giáo dục miền núi, các vùng dân tộc thiểu số và các vùng dân tộc đặc biệt khó khăn. Thực hiện công tác XHHGD, các đoàn thể nhân dân, trƣớc hết là đoàn thanh niên, các tổ chức xã hội, các tổ chức kinh tế, gia đình cùng nhà trƣờng có trách nhiệm giáo dục thế hệ thanh thiếu niên nhi đồng [50]. Đất nƣớc ta đang chuyển sang một thời kỳ mới, một thời kỳ với những thay đổi nhanh chóng của xã hội, xây dựng con ngƣời mới có tác phong công nghiệp, cập nhập tốt những biến đổi của kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội.
Một thời kỳ đổi mới cả tƣ duy lẫn hành động, đổi mới tƣ duy trên các lĩnh vực, đòi hỏi giáo dục Việt Nam phải phát triển với tốc độ cao, giáo dục phải kịp thời nắm đƣợc những biến đổi của xã hội để điều chỉnh bổ sung cho phù hợp với bối cảnh lịch sử, để đáp ứng với giai đoạn mới. Quan niệm đa dạng hóa trong công tác giáo dục vốn có đƣợc tiếp tục khơi dậy và nâng cao lên một tầm mới. Chiến lƣợc phát triển giáo dục giai đoạn 2012 đến 2020, Đảng ta đã khẳng định: Khoa học và công nghệ cùng với GD & ĐT là quốc sách hàng đầu để phát triển nguồn nhân lực, nhằm đƣa đất nƣớc ra khỏi nghèo nàn lạc hậu, sánh vai với các cƣờng quốc trên thế giới. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 15 Các kỳ họp quốc hội, các hội thảo trƣng cầu ý kiến, các văn kiện, nghị định, thông tƣ, nghị quyết của Đảng và của Nhà nƣớc, các cơ quan, các nhà khoa học, các nhà quản lý giáo dục, các hội nghị giáo dục từ trung ƣơng đến địa phƣơng đã tập trung bàn luận về công tác xã hội hóa giáo dục.TSKH Phạm Minh Hạc trong cuốn “Giáo dục Việt Nam trƣớc ngƣỡng cửa thế kỷ XXI” đã khẳng định: “Sự nghiệp giáo dục không phải chỉ của Nhà nƣớc mà là của toàn xã hội; mọi ngƣời cùng làm giáo dục, nhà nƣớc và xã hội, trung ƣơng và địa phƣơng cùng làm giáo dục”[21, tr.
Trong cuốn Những vấn đề cơ bản của giáo dục hiện đại của tác giả Thái Duy Tuyên và cuốn “XHH công tác giáo dục” do các tác giả Phạm Minh Hạc (chủ biên) và Trần Kiểm (đồng tác giả) cũng đã nhấn mạnh công tác này. Các nhà nghiên cứu khác nhƣ: Nguyễn Mậu Bành, Nguyễn Thanh Bình, Đào Duy Ngân…có nhiều bài viết về công tác xã hội hóa giáo dục. Viện khoa học giáo dục nƣớc ta nhiều năm qua đã nghiên cứu về công tác XHHGD, tổng kết kinh nghiệm, xây dựng đề án XHHGD với những giải pháp ở tầm vĩ mô, nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục ở nƣớc ta. Điểm qua vài nét về lịch sử vấn đề nghiên cứu có thể thấy XHHGD là một chủ trƣơng quan trọng, thúc đẩy sự phát triển của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia.
Tuy nhiên để công tác XHHGD có hiệu quả thì phải quản lý tốt. Trên cơ sở nhận thức ấy, tác giả tiếp thu kinh nghiệm những quan điểm, những cách làm trƣớc đó, đối chiếu với tình hình thực tiễn ở địa phƣơng để tiếp tục nghiên cứu, phát huy tác dụng của công tác XHHGD tại huyện Vị Xuyên mình. Cơ sở lý luận về quản lý công tác XHHGD 1. Các khái niệm cơ bản của đề tài 1.
Quản lý và quản lý giáo dục Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 16 - Quản lý: Quản lý trong kinh doanh hay quản lý trong các tổ chức nhân sự nói chung là hành động đƣa các cá nhân trong tổ chức làm việc cùng nhau để thực hiện, hoàn thành mục tiêu chung. Công việc quản lý bao gồm 5 nhiệm vụ (theo Henry Fayol): xây dựng kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm soát. Trong đó, các nguồn lực có thể đƣợc sử dụng và để quản lý là nhân lực, tài chính, công nghệ và thiên nhiên. Nhiệm vụ cơ bản của quản lý Hoạch định: xác định mục tiêu, quyết định những công việc cần làm trong tƣơng lai (ngày mai, tuần tới, tháng tới, năm sau, trong 5 năm sau.) và lên các kế hoạch hành động.
Tổ chức: sử dụng một cách tối ƣu các tài nguyên đƣợc yêu cầu để thực hiện kế hoạch. Bố trí nhân lực: phân tích công việc, tuyển mộ và phân công từng cá nhân cho từng công việc thích hợp Lãnh đạo/Động viên: Giúp các nhân viên khác làm việc hiệu quả hơn để đạt đƣợc các kế hoạch (khiến các cá nhân sẵn lòng làm việc cho tổ chức). Kiểm soát: Giám sát, kiểm tra quá trình hoạt động theo kế hoạch (kế hoạch có thể sẽ đƣợc thay đổi phụ thuộc vào phản hồi của quá trình kiểm tra). Quản lý là một hoạt động cần thiết cho tất cả các lĩnh vực của đời sống con ngƣời.
Ở đâu con ngƣời tạo nên nhóm xã hội là ở đó cần đến quản lí, bất kể đó là nhóm chính thức, nhóm không chính thức, là nhóm nhỏ hay nhóm lớn, là nhóm bạn bè, gia đình hay các đoàn thể, tổ chức xã hội bất kể mục đích, nội dung hoạt động của nhóm đó là gì. Tùy theo mục đích và các góc độ tiếp cận trong nghiên cứu nên khái niệm quản lý có nhiều các hiểu khác nhau. Trong luận văn này chúng tôi xin Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 17 đƣợc đƣa ra một số các quan niệm của một số nhà khoa học để sau đó đi đến thống nhất quan niệm về khái niệm quản lý. Xét về chức năng, quản lý là một hệ thống tổ chức từ các góc độ của hoạt động kinh doanh, các nhà doanh nghiệp Mỹ cho rằng: “Quản lý là đƣa những nguồn vốn về con ngƣời và của cải vào các đơn vị tổ chức và năng động để đạt đƣợc mục tiêu, mọi mặt bằng các đảm bảo thỏa mãn tối đa ngƣời hƣởng lợi, mặt khác đảm bảo tinh thần về thực hiện cho con ngƣời cấp vốn”.