MỞ ĐẦU 1, Lý đo chọn để tài website hỗ trợ đạy học đạc mỡ rộng văn bân thông tin "Đọc là một hoạt động giúp tr thu nhận được một lượng từ rất lớn, liên quan chặt chẽ đến việc tích lũy vốn từ và có lợi cho sự phát triển tư duy ngôn ngữ của HS. Môn Tiếng Việt ở trường Tiểu học có nhiệm vụ vô vùng quan trọng. Trong đó hoạt động đọc, kĩ năng đọc có vị tí quan trọng hàng đầu, là nn tỉn rền luyện và pht triển kì lăng viết, nói và nghe. Hoạt động đọc, kĩ năng đọc còn phát triển cho các em.
vốn từ ngữ phong phú tạo điều kiện để các em học tốt các phân môn khác. Đọc giúp các em HS lĩnh hội được ngôn ngữ để sử dụng trong giao tiếp và hoạt động học tập: đọc à điều kiện để cho HS có khả năng tự học “Cũng trong Chương trình giáo đục phổ thông môn Ngữ văn 2018 cấp Tiểu học, 'VBTT có một vị quan trong. Vi th, một việc làm vô cũng cần thiết là hưởng HS DMR VBTT trong nhà trường để ứng dụng vào thực tiễn. Vậy ĐMR VBTT sẽ như thế nảo? Trong khi chương trình rit chú trọng đến việc đọc và viết theo đặc trưng kiểu loại VB thi cin o6 nhimg bign pháp gì để phát triển năng lực ngôn ngữ thông qua việc đọc mở rộng VBTT? Website là một công cụ dạy học thông minh dạy học trên Website không những giúp các thầy cô giảm tải các thao tác dạy học thủ công mả còn truyền tải kiến thức tối HS nhanh hơn, trực quan hơn và tương tác với học trồ mạnh mẽ hơn.
Website không chỉ ứng dụng trong giai đoạn địch Covid ảnh hưởng nặng nề đến ngành giáo dục mả còn ứng đụng lâu đài, song song trong quá trình học tập của HS tạo thói quen. đạc sách hiệu quả. Bên cạnh đó, sự bùng nỗ thông tin với sự xuất hiện của truyền hình, intertet và sắc phương iện nghe nhìn khác đã làm phong phú thêm các hình thức đọc. Các ứng dụng của CNTT đặc biệt là Intemet - Website học tập góp phần rên luyện khả năng tự học của người học.
Đây đãthực sự trở thành cầu nỗi giữa GV và HS, giữa gia đình và nhà trường, giữa GV và GV, Thể nhưng, HS đặc biệt là HS ở độ tụ uhge sẽ khó khăn tong việc tìm kiểm thông tin và các kiến thức chưa được kiểm chứng và tìm được nguồn tà liệu thụ hút được HS đó là một vấn đỀ khó khăn. Cúc website dành cho HS tra cứu, học tập, tương tác với HS vẫn còn là rất ít và chưa quan tâm nhiều đến vẫn để ự học của HS `Với những lí do tên và hy vọng có thể đồng góp một tà liệu tham khảo hữu, ích, th thực, mới mẻ cho công tắc giảng dạy, nghiên cứu, học tập môn Ti ig Việt ở các lớp đầu tiểu học nói riêng và cấp tiểu học nói chung, chúng tôi lựa chọn đề "Website hỗ trợ dạy học đọc mở rộng văn bản thông tin cho học sinh lớp Hai” nhằm. cung cắp cơ sở lí ân, cơ sở thực iễn về đọc hiểu và ĐMRR cũng như tình bảy cách thức xây dựng, nội dung của website hỗ trợ dạy học ĐMR VBTT trong hoạt động dạy học môn Tiếng Việc Bing thoi n hành thử nghiệm để khẳng định tính khả th của việc dạy ĐMR VBT với sự hỖ trợ của trang website 2. Tổng quan về nghiên cứu website hỗ trợ dạy học đọc mở rộng văn bản thông tin cho học sinh lớp Hai 2.
Những nghiên cứu trên thể giới về hỗ trợ dạy học đọc mở rộng 2 hững nghiên cứu về dạy đọc mỡ rộng Có rất nhiều công tình nghiên cứu về đọc của các tác giả nước ngoài như Descartes (1596 ~ 1650), A. Họ đều cho rằng đọc như là một hoạt động nhận thức có quá trình tử đọc đến hiểuý nghĩa của VB. Hiện nay, có khá nhiều những quan niệm về đọc được các tic gia dara: Theo ‘Smith (1971) thì: Đọc là quá trình giải ma VB, việc chuyển từ chữ viết sang âm thanh là hoạt động có tính chất cầu nỗi. Ông đã khẳng định đích đến cuối cùng của đọc đó là truy tìm ý nghĩa, thông điệp của VB.
‘Theo Frank Smith (Understanding reading, 2004, trang.13) thì nghĩa gốc của tht nga “doc” reading) li giải thích, hiểu (imterpretation) đùng để những hành động nhằm để hiểu, kiến tạo nghĩa cho những gì chúng ta thấy, diễn ra xung quanh chúng tá Còn Langer (Envisioning Literature, 1995) thi nhẫn mạnh rằng với những thức riêng của mỗi người đọc thì có những hình dung, tưởng tượng (envisionment) khác nhau về cùng một VB. Tiên đề cơ bản của ĐMR là người học đọc càng nhiều càng tốt từ các tà liệu mà họ lựa chọn, Theo Richard Day đã chỉ ra các nguyên lý bỗ sung của ĐMR, về cách chọn t liệu đọc, tạo hứng thú khi đọc. Harold Palmer (1917/1964, được trích dẫn trong Day và Bamford 1998) được chi nhận là người dầu tiên sử dụng cum từ ĐMR để chỉ một phương pháp giảng dạy ngôn ngữ, trong đó người học đọc nhiều tà liệu dễ hiểu bằng ngôn ngữ mới và đã định nghĩa phương pháp ĐMR như sau idly, book after book and with a focus on the meaning and not the language of the text, hiểu đơn giản ĐMR là quá trình đạc nhiều nhất có thể và được phép bỏ qua những yếu tổ nhỏ trong quá trình đọc "Những định nghĩa của Palmer chỉ nhằm phân biệt giữa ĐMR và đạc chuyên sâu Mặc dù dường như không thể phủ nhận rằng để trở thành một người đọc tốt thì người đọc phải đọ ắt nhiễu, Willams va Moran (1989) chira ing hi hỗt hồi giam trên lớp được dành cho việc đọc chuyên sâu = đọc các VD tương đối ngắn do GV lựa chọn. Sau đó đặt câu hỏi 1mhiểu nghĩa của từ và các hoạt động khác, có rất ít thời gian cho phép HS đọc các VB tự chọn để hiểu chung mà không cần boạt động bổ sung.
Kết quả là HS không thích đọc vi nó khó và do đó HS sé it doc hon, cai ma Chri ine Nuttall (1982) gọi là “vong luẫn quản” của việc đọc, HS có những trải nghiệm thành công với những VB mà cùng với sự khuyến khích sẽ din dit HS đọc nhiều hơn nữa rang 127, “Trong một ấn phẩm của tiến sĩ Peter Watkins, các câu hỏi về ĐMR được giải thich MR hay Extensive reading c6 nghla là đọc theo sở thích "Đọc mỡ rộng (Extensive reading) duge b &t dén rong rai trong gan hai thap ky ở lại đây và khá phố biến ở các quốc cia trên thể giới. Những nhà nghiên cứu ởcác nước đã nêu ra định nghĩa DMK, lợi ích DMR va vin dụng phương pháp DMR. Nghiên cứu tác động và nhận thức của người học thông qua ĐMR của tạp chí. Ngôn ngữ học ứng dung A Âu đã chỉ r rằng: Phương pháp DMIR dã tắc động tích cựe đến khả năng đạc ri chảy và kiến thúc từ vụng của người học; cho thấy mỗi tương quan thuận giữa lượng đọc, khả năng đọc trôi chảy và kiến thức từ vựng.
"Để đọc tốt, cách tốt nhất là đọc nhiều (Nutal, 1982, 127). DMR cung cắp các manh mỗi được ngữ cảnh hón để đọc hiểu ốt hơn (Krahen, 1982) và đầu vào m ngữ đáng kể (Bel, 1998) cần thiết cho sự phát tiễn ngôn ngữ. Một số nghiên cứu đã phát hiện rà mỗi tương quan giữa kỷ năng ĐMR và các kỹ năng ngôn ngữ cụ th bao gốm nhiễu hựa chọn dọc, cải thiện kỹ năng viết, giao tiếp bằng miệng dễ dàng và cải thiện các khía cạnh khác của ngôn ngữ. Mô DMR trong The Electronic Journal for English as a Second Language, tập 22, s6 1, thang 5 - 2018 Thomas Robb (Dai hoc Kyoto Sangyo) HS phai doe rất nhiều Phải dễ đọc Doe cân bằng, Phải thúvị Có thể đọc nhanh.
Đọc chuyên sâu Sử dụng từ điển nhỏ | Í_ Chủ yếu trên lớp, 'Mô hình đục mở rộng HS đọc một khối lượng lớn tà liệu, HS có thể đọc gắp 10 hoặc 100 lẫn số từ các em gặp khi đọc chuyên sâu. Bên cạnh đó, nội dung phải thú vị để HS muốn đọc thêm, Để đảm bảo những điều trên, in có nhiều tài liệu đa dạng để HS có thể lựa chọn bài đọc mà mình hồng thú. Tài liệu cằn phải dễ đọc để HS không bị mắc kợt trong việc giải mã ngôn ngữ. HS có thể đọc nhanh với mức độ hiểu vừa phải mà không cần phải tra cứu từ điễn.
ĐMR không nhằm mục đích thay thể việc đọc chuyên su mà nhằm mục đích đạt được sự cân bằng giữa bai việc đồ à: Việc đọc chuyên sâu thường được thực hiện twong lớp. mặc dù bài tập về nhà là một phẳn thường xuyên được giao. Mặt khác, vì thường không có đủ thời gian để HS đọc một lượng lớn tủ liều một cách độc lập tưong giờ học nên HS nên đọc bên ngoài lớp học làlý tưởng nhất. Nối về vai tr cia DMR, Nuttall (1996) trong "Teaching reading skills in a {foreign language” &3 cho ring ĐMI là một rong bai cách tốt nhấtđể tăng lượng kiến thúc và phátriển khả năng sử dụng ngôn ngỡ (rang 136-141) “Thứ nhất: ĐMR không c] ait lâm giàu vốn từ, cải tiến tốc độ đọc mà còn gt php, phat triển kỹ năng viết và hình thành thôi quen đọc cho người học.
“Thứ hai là nhiều công trình nghiên cứu trên thể giới, trong đó phải kể đến như: Bamford va Day (2006) trong tensive Reading Activities for Teaching Language” 3 chi ra ring DMR giúp người đọc cải thiện tốc độ đọc rõ rật nhờ vào đọc một số lượng t iệ lớn ở cấp độ đơn giản (dưới cấp độ ngôn ngữ của họ) Điều này khiến người đọc có thể nhanh chóng đạt được sự trôi chây trong thời gian không lâu (rang 136) “Thứ ba là ĐMR có thể giúp người đọc hình thành thói quen đọc. Điễu này rất có ý nghĩa với đối tượng HS, những người đang được đánh giá là chưa có thói quen căng như văn hôa đọc trong cả tiếng mẹ để lẫn tiếng nước ngoài Theo Julian Bamford va Richard R, Day trong Extensive Reading Activites {for Teaching Language để hoạt động ĐMR mang lại những hiệu quả thì người tổ chức và tham gia ĐMR cần tuân theo những nguyên tắc dưới đây: 1. Tà liệu phải dễ đọc, không guá khó so với khả năng ngôn ngữ của người đọc, 2. Tà iệu đọc phải đa dạng về loi hình nhằm tạo hứng thú cho người đọc, Trong ĐMR, tải liệu đọc phải thật đa dạng vẻ loại hình cũng như cắp độ để người đọc.
có thê chọn được tài liệu mà họ thích. Khuyén khích đọc càng nhiễu càng tốt vì điều này có ích cho việc phát tiề khá năng ngôn ngữ của. Theo các nhà nghiên cửu, nên đọc mỗi tuần 1 cuốn.