CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Một số thuật ngữ/ khái niệm liên quan 1. Phát triển năng lực 1. Năng lực Năng lực là một vấn đề phức tạp, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về năng lực, cụ thể: Theo N.
Trong tác phẩm “Những cơ sở của tâm lý học đại cương”, X. Rubinstein cho rằng “Năng lực là toàn bộ những thuộc tính tâm lý làm cho con người thích hợp với một loại hoạt động nhất định”[21]. Theo Phạm Minh Hạc “Năng lực là những đặc điểm tâm lý cá nhân đáp ứng được những đòi hỏi của hoạt động nhất định nào đó và là điều kiện để thực hiện có hiệu quả hoạt động đó” [8]. Theo Bùi Văn Huệ (2021) “Năng lực là tổ hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân, phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo việc hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy” [9].
Theo CTGDPT 2018, “Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,… thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể”[1]. Từ những quan niệm trên đây, chúng tôi thống nhất sử dụng quan niệm của CTGDPT 2018 để làm cơ sở lý luận trong đề tài. Phát triển năng lực Theo Từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê (2003), “Phát triển là sự biến đổi hoặc làm cho biến đổi từ ít đến nhiều, từ hẹp đến rộng, từ thấp đến cao, từ 10 đơn giản đến phức tạp”[12]. Theo tài liệu đó, chúng ta có thể hiểu, phát triển cũng là sự biến đổi của sự vật, hiện tượng từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn, sự lớn lên theo khuynh hướng tăng dần về lượng dẫn đến sự biến đổi về chất.
Trong cuốn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê nin định nghĩa “Phát triển là sự lớn lên, tăng tiến trong lĩnh vực nào đó. Nó không chỉ đơn giản là sự tăng lên về lượng mà còn là sự biến đổi cả về chất của phạm trù được phân tích. Phát triển là khuynh hướng vận động của sự vật hiện tượng từ mức độ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện thông qua việc giải quyết các mâu thuẫn. Quá trình vận động đó diễn ra vừa dần dần, vừa nhảy vọt để đưa tới sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ.
Sự phát triển là kết quả của quá trình thay đổi dần về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất, quá trình diễn ra theo đường xoắn ốc và hết mỗi chu kỳ sự vật lặp lại dường như sự vật ban đầu nhưng ở mức (cấp độ) cao hơn”[2]. Đây cũng là khái niệm được sử dụng trong luận văn. - Phát triển năng lực người học: Từ khái niệm năng lực, khái niệm phát triển, có thể rút ra khái niệm phát triển năng lực người học như sau: “Phát triển năng lực là sự biến đổi, tích lũy, hoàn thiện và củng cố năng lực đã được hình thành ở người học từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn, vững chắc hơn. Phát triển khả năng thực hiện thành công một loại hoạt động trong bối cảnh nhất định nhờ sự huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí… Để đạt được mức độ nhuần nhuyễn và thuần thục, điều kiện tiên quyết là phải có sự luyện tập và luyện tập thường xuyên”.
Công cụ và phương tiện học toán Theo Phan Trọng Ngọ (2005), “Công cụ và phương tiện dạy học là toàn bộ sự vật, hiện tượng trong thế giới, tham gia vào quá trình dạy học, đóng vai trò là công cụ hay điều kiện để GV và học viên sử dụng làm khâu trung gian tác động vào đối tượng dạy học. CCPT dạy học có chức năng khơi dậy, dẫn 11 truyền và làm tăng sức mạnh tác động của người dạy vào người học đến đối tượng dạy học” [13]. Khái niệm CCPT dạy học được hạn chế ở những thiết bị có khả năng chứa đựng hoặc chuyển tải những thông tin về nội dung dạy học và về sự điều khiển quá trình dạy học. Với quan niệm này thì mô hình, hình vẽ, sách giáo khoa, phiếu học tập, máy vi tính,.
là những ví dụ về CCPT dạy học. không phải là phương tiện dạy học theo nghĩa này bởi vì chúng không có khả năng chứa đựng hay chuyển tải thông tin liên quan đến quá trình dạy học. Theo Đặng Thị Thu Thủy và các cộng sự (2011), “Phương tiện dạy học là phương tiện hỗ trợ GV, HS trong quá trình dạy học nhằm đạt được mục đích dạy học. Phương tiện dạy học bao gồm các mô hình, tranh ảnh, dụng cụ, băng, đĩa ghi âm, ghi hình, phần mềm dạy học, máy vi tính, máy chiếu.
Theo Bernd Meier, Nguyễn Văn Cường (2014), “Phương tiện dạy học là tất cả các phương tiện vật chất mà người dạy và người học sử dụng, để thông hiểu về các mục đích, chủ đề và phương pháp dạy học. Chúng có chức năng trung gian của các thông tin trong việc truyền thụ và lĩnh hội tri thức” [3]. Theo Đỗ Đức Thái và các cộng sự (2018), “Phương tiện, thiết bị dạy học là các phương tiện vật chất, sự vật, hiện tượng chứa đựng hoặc chuyển tải những thông tin về nội dung dạy học hỗ trợ GV, tổ chức HS tiến hành hợp lý, có hiệu quả quá trình dạy học”[16]. Chẳng hạn, bảng (hoặc tấm bìa) có vẽ hình hoặc sơ đồ hoặc viết công thức liên quan đến nội dung dạy toán học; các mô hình (mô hình hình học phẳng và không gian), các công cụ, phương tiện đo đạc, biểu diễn (thước đo góc, thước cuộn, tranh ảnh, biểu đồ, .); các hình minh họa trong sách giáo khoa Toán; các loại phiếu phục vụ dạy học và kiểm tra, đánh giá; các đồ dùng dạy học (dùng cho GV) và các đồ dùng học (dùng cho HS).
Đây là khái niệm được sử dụng chính trong luận văn. Như vậy, ta có thể hiểu “Những công cụ và phương tiện dạy học toán ở Tiểu học nói chung và ở lớp 2 nói riêng gồm: 1) Những công cụ vật chất và công cụ số; 2) Có khả năng chứa đựng hoặc chuyển tải những thông tin về nội dung dạy học và về sự điều khiển quá trình dạy học môn Toán; 3) Hỗ trợ thầy và trò đạt mục tiêu dạy học môn Toán, theo cách tiếp cận dạy học PTNL học toán thông qua phát triển các thành tố của nó, mỗi một thành tố cần được biểu hiện cụ thể bằng các tiêu chí, chỉ báo”. Năng lực sử dụng công cụ, phương tiện học toán Năng lực sử dụng CCPTHT là một trong năm thành phần của năng lực Toán học trong Chương trình GDPT môn Toán 2018. Theo mô tả ở chương trình tổng thể môn Toán, chúng tôi hiểu rằng: “Năng lực sử dụng công cụ, phương tiện học toán là khả năng sử dụng nhiều loại phương tiện hỗ trợ khác nhau (bao gồm cả công cụ công nghệ thông tin) có thể trợ giúp cho hoạt động toán học, biểu hiện ở việc biết rõ tên gọi, chức năng, công dụng cũng như một số hạn chế của những loại công cụ đó”.
Có thể nói năng lực sử dụng CCPTHT góp phần quan trọng trong việc nhận thức nội dung toán học cũng như thực hành vận dụng tri thức giải quyết vấn đề toán học đối với HS. Sử dụng CCPTHT là quá trình kết hợp giữa cái cụ thể và trừu tượng nghĩa là tổ chức hướng dẫn HS nắm bắt được kiến thức trừu tượng, khái quát của môn toán dựa trên những cái cụ thể gần gũi với HS, sau đó vận dụng những quy tắc, khái niệm trừu tượng để giải quyết những vấn đề đặt ra trong học tập và đời sống. Thông qua việc sử dụng các công cụ, phương tiện trong dạy Toán học sẽ giúp HS có căn cứ trực quan để tiếp cận và tìm hiểu kiến thức toán học, từng bước PTNL nhận thức và hình thành nhân cách người học. Học sinh tự 13 phát hiện và tự giải quyết nhiệm vụ của bài học, tự chiếm lĩnh kiến thức mới, hình thành được các phương pháp học tập đặc biệt là phương pháp tự học.
Năng lực sử dụng CCPTHT sẽ hỗ trợ cho sự PTNL giải quyết vấn đề ở mức độ cao. Các CCPTHT có tác dụng to lớn trong việc học của HS đặc biệt đồ dùng dạy học thường có lợi thế về hình ảnh, màu sắc, và cho kết quả chính xác về các phản hồi. Tuy nhiên, việc quá lạm dụng công cụ và phương tiện dạy học đôi khi dẫn đến phản tác dụng. Vì vậy GV cần phải dựa vào nội dung dạy học và mức độ cần thiết với đối tượng học tập cụ thể để lựa chọn công cụ và phương tiện thích hợp.
Định hướng phát triển năng lực sử dụng công cụ, phương tiện học toán cho HS lớp 2 Định hướng phát triển năng lực sử dụng công cụ, phương tiện học toán cho học sinh lớp 2 theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo - Tạo cơ hội để HS sử dụng các phương tiện từ đơn giản đến hiện đại, kể cả thiết bị dạy học và phương tiện công nghệ. Đặc biệt là máy tính điện tử và máy tính cầm tay hỗ trợ quá trình học tập, tìm tòi, khám phá kiến thức, giải quyết vấn đề toán học đơn giản trong học tập và áp dụng trong đời sống. - Chương trình môn Toán lớp 2 cần hình thành, phát triển ở HS năng lực học toán với các thành tố: tư duy và lập luận toán học; mô hình hóa toán học; giải quyết vấn đề toán học; giao tiếp toán học; sử dụng CCPTHT. Đồng thời, môn Toán góp phần hình thành, phát triển ở HS các phẩm chất chủ yếu và năng lực chung đã quy định trong Chương trình tổng thể; giúp HS bước đầu xác định được năng lực, sở trường của bản thân nhằm định hướng và lựa chọn nghề nghiệp, rèn luyện nhân cách để trở thành người lao động và người công dân có trách nhiệm.
- Cần sử dụng đủ và hiệu quả các phương tiện, thiết bị dạy học tối thiểu theo quy định đối với môn Toán. Coi trọng việc sử dụng các phương tiện truyền thống, tăng cường thiết bị dạy học tự làm đồng thời khuyến khích sử 14 dụng các phương tiện nghe nhìn, phương tiện kĩ thuật hiện đại hỗ trợ quá trình dạy học.