đặt vấn đề về mối quan hệ văn hoá giữa Thái Lan và Campuchia, tác giả chỉ xem đây như một chiếc chìa khoá để dẫn dắt chúng ta bước vào cánh cửa lịch sử của hai quốc gia này với những thăng trầm của đế quốc Khmer và của các quốc gia cổ từng tồn tại trên lãnh thổ Thái Lan trong suốt chặng đường dài của lịch sử. Từ chỗ xác định nền nghệ thuật của cả Thái Lan và Campuchia – đặc biệt là nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc đều được khơi nguồn cảm hứng từ hai tôn giáo là đạo Phật và đạo Hinđu, tác giả đã cho thấy được phần nào về sức ảnh hưởng của hai tôn giáo này đối với lịch sử phát triển đầy biến động của Thái Lan và Campuchia. Đặc biệt, thông qua việc khảo cứu và mô tả những di tích đền tháp cổ nổi tiếng ở Thái Lan như đền Prasat Phimai, Prasat Phnom Rung, Prasat Muang Tam. cho thấy sự hiện diện vô cùng phổ biến hình tượng vị thần Vishnu trong hầu hết các đền tháp Hinđu của Thái Lan.
Những hình tượng của Vishnu trong thần thoại như: Vishnu nằm thiền định định trên biển Anata trong câu chuyện về “giấc ngủ ngủ sáng tạo” của Vishnu hay những thần tích của Vishnu khi giáng thế cứu thế gian (Avatara), hoặc những kỳ tích của Vishnu trong những lần hoá thân thành Rama hay Krishna. đều xuất hiện rất phổ biến trong các đền tháp Hinđu, có khi xuất hiện dưới hình thức ảnh tượng, khi lại hiện diện trên các mảng phù điêu hay các chạm khắc trên mi cửa của ngôi đền. Như vậy, nếu như sự tôn thờ Vishnu ở Thái Lan được O’Connor chứng minh bằng sự phong phú của các pho tượng thì Charuwan Phungtian đã củng cố thêm niềm tin về sự tồn tại của hình thức tôn thờ này bằng những kiến trúc đền tháp luan an 16 mang đậm dấu ấn Vishnu. Tất cả những bằng chứng trên chứng tỏ trên lãnh thổ Thái Lan, trong một thời kỳ lịch sử lâu dài, đã từng hiện diện sự tôn thờ Vishnu rất phổ biến – một hình thức biểu hiện của Vishnu giáo.
Năm 1997, ba nhà xuất bản lớn là National gallery of Art Washingtong (Mỹ), Thames and Hudson (London, Anh) và Réunion des musées nationaus (Paris, Pháp) đã phối hợp để xuất bản quyển “Scupture of Angkor and Ancient Cambodia (Millennium of Glory)” (Tượng Angkor và Campuchia cổ đại – Một thiên niên kỷ vinh quang) do hai tác giả Helen I. Z editors làm chủ biên. Đây được xem là một công trình khá đồ sộ, mô tả rất cụ thể về những dấu ấn lịch sử và văn hoá của Campuchia trong suốt tiến trình lịch sử. Ngoài việc khái quát lịch sử Campuchia từ buổi đầu cho đến hết giai đoạn Angkor, tác phẩm còn khai thác những khía cạnh về tôn giáo – tín ngưỡng, về văn bia, về các biểu tượng tôn giáo và các loại hình kiến trúc tôn giáo của người Khmer trong suốt thời kỳ cổ - trung đại.
Tuy nhiên, các tác giả gần như dành đến 2/3 quyển sách để giới thiệu về những thành tựu đặc sắc của nghệ thuật điêu khắc Campuchia trong suốt một “thiên niên kỷ vinh quang” – từ thế kỉ VII cho đến hết giai đoạn Angkor và hậu Angkor. Có thể nói, gần như tất cả những tinh hoa của nghệ thuật tiếu tượng Khmer đã được toả sáng trên từng trang sách của tác giả với những pho tượng thần, phật sáng đẹp, lung linh, rực rỡ. Không chỉ minh hoạ bằng những hình ảnh đẹp chân thực, các tác giả còn trình bày khá chi tiết về nguồn gốc xuất xứ, địa điểm phát hiện cũng như xác định phong cách nghệ thuật và định niên đại cho từng pho tượng. Do đó, không khó để nhận ra trong số những pho tượng đặc sắc này, có không ít những pho tượng Vishnu và các vị thần quen thuộc trong thần điện Vishnu giáo như Laskmi, Harihara, Krishna, Rama hay Garuda.
Những pho tượng này đều mang những phong cách nghệ thuật đặc sắc và cũng là những tiêu bản đẹp trong lịch sử nghệ thuật Campuchia. Vì vậy, với những kết quả đã được nghiên cứu và trình bày công phu, quyển sách đã phần nào mang lại những bằng chứng thuyết phục về sự hiện hữu của Vishnu giáo trong lịch sử Campuchia. luan an 17 Năm 2003, tác giả James. Khoo đã chủ biên cho một ấn phẩm rất có giá trị đối với việc nghiên cứu về Phù Nam: “Art and Archaeology of Fu Nan – Pre-Khmer Kingdom of the Lower Mekong Valley” (Nghệ thuật và khảo cổ Phù Nam – vương quốc Tiền Khmer ở lưu vực sông Mê Kông).
Mặc dù, ngay việc dùng tên gọi “vương quốc Tiền Khmer” để gọi vương quốc Phù Nam đã phản ánh phần nào sự hạn chế nhất định của tác giả trong việc nhận thức về lịch sử Phù Nam và mối quan hệ lịch sử của nó với quốc gia của người Khmer khi xem Phù Nam là một giai đoạn trong lịch sử của người Khmer và đất nước Khmer. Tuy nhiên, ngoài hạn chế này thì quyển sách đã mang lại những hiểu biết vô cùng quan trọng về lịch sử và văn hoá của vương quốc Phù Nam – một vương quốc ra đời sớm nhất ở ĐNA và từng phát triển hùng mạnh trong những thế kỉ đầu Công nguyên. Tác phẩm đã tổng hợp kết quả nghiên cứu của rất nhiều học giả nổi tiếng trên thế giới – những người dành rất nhiều thời gian và tâm huyết cho việc nghiên cứu về Phù Nam – Óc Eo nói riêng và cổ sử ĐNA nói chung như: Miriam. Stark với “Angkor Borei and the Archaeology of Cambodia’s Mekong Delta”, John N.
Miksic với “The Begining of Trade in Ancient Southeast Asia: The role of Oc Eo and the Lower Mekong River”, Heidi Tan với “Observations on the Pottery of Oc Eo”, C. Kwa với “Historiography and Definition of Pre-Angkorian Art”. Tuy nhiên, ý nghĩa chính của công trình này gần như tập trung trong nghiên cứu của TS. Võ Sĩ Khải về “The Kingdom of Fu Nan and the Culture of Oc Eo” (Vương quốc Phù Nam và văn hoá Óc Eo) vì đây là kết quả mà ông cùng các cộng sự của mình như GS.
Hà Văn Tấn, TS. Đào Linh Côn, Trịnh Thị Hoài và nhóm nghiên cứu thuộc Trường KHXH&NV đã mất gần 25 năm để xác định 90 địa điểm khảo cổ thuộc Phù Nam – Óc Eo và hơn 20 địa điểm được khai quật. Có thể nói Võ Sĩ Khải và nhóm nghiên cứu của ông đã phác hoạ một bức tranh khá toàn diện về đời sống vật chất và tinh thần của cư dân cổ Phù Nam – Óc Eo dựa trên các phát hiện, khai quật khảo cổ học trên hàng trăm di tích rải rác khắp Nam bộ Việt Nam. Điều đặc biệt là khi nhận định về đời sống tôn giáo của cư dân Phù Nam, nhóm nghiên cứu này cho rằng người Phù Nam thừa nhận cả hai vị thần: Vishnu là vị thần bảo vệ tài sản và cuộc sống của họ còn Shiva luan an 18 trừng phạt những tệ nạn trong xã hội, tuy nhiên, ở đây Vishnu được tôn thờ nhiều hơn, có lẽ do Shiva trong hình thức của các Linga là biểu tượng của quyền lực hoàng gia và của tầng lớp quý tộc, binh lính còn Vishnu là vị thần của những người bình dân mà người Phù Nam chủ yếu là nông dân, thợ thủ công và thương nhân.
Như một sự thống nhất về mặt quan điểm và học thuật với Võ Sĩ Khải, GS. Khoo và Ha Du Canh trong bài viết “Some Observations on Religious Sculptures in the Mekong Delta” cũng đã khẳng định rằng: từ số lượng rất lớn những pho tượng Vishnu được tìm thấy cho thấy rằng Vishnu giáo chiếm ưu thế trong đời sống văn hoá và tôn giáo của người Phù Nam. Các nghiên cứu của học giả trong nước Từ sau năm 1975 trở lại đây, việc nghiên cứu về lịch sử - văn hoá của ĐNA đã thu hút được nhiều sự quan tâm của các học giả, các nhà nghiên cứu Việt Nam và họ đã có nhiều đóng góp đáng kể đối với sự nghiệp nghiên cứu về lịch sử - văn hoá của khu vực. Quá trình nghiên cứu này có lẽ được bắt đầu từ việc khảo sát, khai quật, phát hiện và nghiên cứu về các di chỉ thuộc nền văn hoá Óc Eo ở khu vực ĐBSCL nói riêng và Nam bộ nói chung.
Từ các kết quả phát hiện và nghiên cứu, các nhà khoa học Việt Nam đã có được cái nhìn bước đầu về đời sống văn hoá – xã hội, tôn giáo – tín ngưỡng của cư dân cổ ở các giai đoạn Tiền Óc Eo, Óc Eo và Hậu Óc Eo. Hàng loạt những công trình lần lượt được công bố như Văn hoá Óc Eo và các văn hoá cổ ở ĐBSCL (1984), Văn hoá Óc Eo ở đồng bằng Nam bộ (1988) – Tư liệu Viện KHXH, Tp.HCM, “Văn hoá cư dân ĐBSCL” của Nguyễn Công Bình, Lê Xuân Diệm, Mạc Đường (1990), “Văn hoá Óc Eo những khám phá mới” của Lê Xuân Diệm, Đào Linh Côn, Võ Sĩ Khải (1995), “Theo dấu chân các văn hoá cổ” của Hà Văn Tấn (1997), “Một số vấn đề khảo cổ học ở miền Nam Việt Nam” của Trung tâm Khảo cổ học – Viện KHXH tại TP. Từ những nghiên cứu này, các nhà nghiên cứu đã xác định được các trung tâm chính trị, kinh tế, tôn giáo thông qua việc tìm hiểu, nghiên cứu các di tích kiến trúc đền đài, mộ táng, khu đô thị cổ, hệ thống kênh đào, các trung tâm tạc luan an 19 tượng. Từ đó đi đến nhận định xã hội thời Óc Eo – Phù Nam đã khá phát triển như tổ chức nhà nước đã hình thành, đã phân chia đẳng cấp, hoạt động tôn giáo – tín ngưỡng, nghệ thuật đạt được trình độ cao và khá đa dạng.
Qua đó cũng phần nào cho thấy được sự tôn thờ Vishnu của Phù Nam là khá phổ biến, như một hiện tượng đặc biệt cần được quan tâm nghiên cứu. Sau năm 1975, nhiều cuộc khảo sát, thám sát, khai quật khảo cổ học đã được thực hiện. Trong các cuộc khảo sát và khai quật này đã có thêm những phát hiện mới. Các tượng Vishnu và các di vật liên quan đến vị thần này được phát hiện ngày càng nhiều, nhất là ở khu vực miền Nam Việt Nam – địa bàn chính của vương quốc cổ Phù Nam và văn hoá Óc Eo trước đây.
Chúng được thu thập trong các di tích qua các cuộc thám sát, khai quật khảo cổ hoặc do dân địa phương phát hiện. Các nhà khoa học trong và ngoài nước đã lần lượt công bố những phát hiện mới trong các báo cáo khai quật, phát hiện mới về khảo cổ học, các thông báo khoa học, các địa chí, luận án chuyên ngành khảo cổ học.