Mở đầu 1 1. Lý do nghiên cứu của đề tài Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã làm cho mọi mặt của nước ta có nhiều thay đổi. Năm 2015, quy mô nền kinh tế đã đạt khoảng 204 tỷ USD, thu nhập bình quân đầu người đạt gần 2. Kim ngạch xuất khẩu giai đoạn 2011-2015 tăng 18%/năm.
Sau ba mươi năm đổi mới, Việt Nam đã thiết lập được nhiều quan hệ đối tác chiến lược về kinh tế với một số nước trong khu vực và trên thế giới, tích cực xây dựng Cộng đồng ASEAN 2015 và hoàn thiện thị trường trong nước đầy đủ hơn theo cam kết WTO (Tapchicongsan. Những chính sách đổi mới trong nhiều lĩnh vực đã tạo nên sự khác biệt giữa hai vùng thành thị, nông thôn và ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống xã hội đã tạo thành làn sóng di dân từ nhiều nơi khác đến các trung tâm đô thị và thành phố lớn đặc biệt là Hà Nội và Hồ Chí Minh. Dòng người di cư từ nông thôn ra thành thị có xu hướng tăng nhanh trong những năm qua trong đó có trẻ em. Vì thế ngày càng có nhiều trẻ em nông thôn bỏ học, rời bỏ làng quê đến các vùng đô thị lao động kiếm sống bằng những nghề khác nhau (Nguyễn Phương Thảo, 2000).
Lúc này, hiện tượng nhập cư tự do vào TP.HCM không chỉ đơn thuần là sự di chuyển dân cư từ các vùng nông thôn vào đô thị mà thực chất đó còn là hiện tượng xã hội của sự thu hút cả nông dân lẫn thị dân ở các vùng kém phát triển vào thành phố này – với tính cách là cực phát triển mạnh nhất với một lực lượng hấp dẫn đô thị mạnh nhất của cả nước (Nguyễn Quới, 1996). Người dân di cư về thành phố tìm việc làm không chỉ vì bản thân mình mà đó còn là chiến lược quan trọng của các hộ gia đình ở quê quán. Theo kết quả cuộc điều tra dân số giữa năm 2004 tại TP.HCM, toàn thành phố có 1.548 người diện KT3 và KT4 đến từ các tỉnh thành trong cả nước (chiếm 30,1%). Mỗi năm trung bình, nơi đây tăng thêm khoảng 200.000 người; dự báo đến năm 2025 thành phố có khoảng 10 triệu người và đến năm 2050 là 2 15 triệu (Lê Văn Thành).
Trong nhiều nhóm người di cư tới thành phố thì trẻ em là đối tượng chiếm tỷ trọng khá lớn. Theo số liệu của Sở Lao động Thương binh xã hội năm 2017, TP.HCM hiện có 13 triệu người riêng trẻ em có 1.734 trẻ em độ tuổi 0-16 tuổi.054 trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; 35.097 trẻ em đang có nguy cơ rơi vào hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; 25.030 trẻ em sống trong các hộ cận nghèo và 350.000 trẻ sống trong các hộ nhập cư và chỉ có đăng ký tạm trú. Cũng theo nguồn báo cáo trên, có hơn 400.000 trẻ em ở TP.HCM được coi là người nhập cư “tạm thời” là những em di cư từ các tỉnh thành khác đến thành phố cùng cha mẹ hoặc tự di cư. Chúng phải đối mặt với nguy cơ bị gạt ra ngoài cuộc sống xã hội do các em không được đăng ký cư trú tại nơi ở mới.
Thiếu giấy tờ chứng minh tình trạng cư trú khiến cho những trẻ em này không được tiếp cận được với các dịch vụ công thiết yếu như y tế, giáo dục và thường phải đối mặt với nguy cơ bị bóc lột và xâm hại cao. Ngay cả đối với các gia đình nhập cư có đăng ký và có hộ khẩu (KT3, KT4) con em họ vẫn không được ưu tiên bằng những em có hộ khẩu thường trú hoặc được sinh ra ở thành phố (KT1, KT2) trong các vấn đề chăm sóc sức khỏe và giáo dục. Trẻ em di cư thường có nguy cơ bị bóc lột tình dục vì mục đích thương mại và dễ bị dụ dỗ, khống chế hơn bởi các em thường không có chỗ nương tựa hay nhờ cậy. Các em rất cần tiền và rất bỡ ngỡ trong môi trường mới.
Theo kết quả xử lý dữ liệu từ phòng quản lý tệ nạn xã hội – Sở công an Tp.HCM (2009), mười quận huyện có số lượng người nhập cư đông nhất bao gồm quận 7, quận 8, quận 9, quận 12, quận Bình Tân, quận Tân Phú, quận Tân Bình, quận Bình Thạnh, huyện Bình Chánh và huyện Hóc Môn. Chỉ riêng quận 7, tỉ lệ người nhập cư đứng thứ 3 sau quận 12 và quận Bình Tân (chiếm 40,4% số người nhập cư so với dân số quận 7) và 5,8 % tổng số người nhập cư của cả nước. Cơ cấu dân số có KT3 và KT4 tại quận chiếm 37,8%. Quận 7 là một trong những nơi có tốc độ đô thị hóa nhanh, vì vậy ngày càng tạo sức ép trong giải quyết các vấn đề xã hội tại địa phương.
Hiện nay trên địa bàn 3 quận đã và đang có sự tham gia của một số các tổ chức xã hội, dự án vừa và nhỏ nhằm hỗ trợ cho những nhóm yếu thế trong xã hội đặc biệt là trẻ em di cư. Dự án Phát triển xã hội cộng đồng Cầu Hàn (gọi tắt là dự án Cầu Hàn, xem thêm phần phụ lục) nằm trên địa bàn phường Tân Thuận Tây, quận 7, với mô hình hoạt động hướng đến sự phát triển bền vững dựa vào cộng đồng. Từ năm 2000 đến nay, trung bình mỗi năm dự án hỗ trợ trực tiếp cho 50 đến 70 trẻ em tại lớp học tình thương và khoảng 300 trẻ em trên cộng đồng. Tuy nhiên có một thực trạng tác giả nhận thấy, có rất nhiều trẻ em đi làm cho dù ở độ tuổi đang đi học hay bỏ học và làm nhiều công việc khác nhau như rửa xe, trông em, bán hàng tạp hóa, bán đồ ăn, bán café, bán vé số, công nhân thời vụ…với mức lương thấp, thời gian làm việc kéo dài và không được hưởng các chế độ theo luật lao động.
Trước thực trạng trên, tác giả quyết định chọn“Việc làm của trẻ em di cư tại Thành phố Hồ Chí Minh” nghiên cứu tại dự án phát triển xã hội cộng đồng Cầu Hàn làm đề tài luận văn. Tổng quan tài liệu Trong khoảng hai thập kỷ gần đây, vấn đề di cư ngày càng thu hút sự quan tâm của cộng đồng trong nước và quốc tế. Vấn đề trên không chỉ giới hạn trong phạm vi về đạo đức, xã hội và pháp lý ở mỗi một quốc gia mà đã và đang trở thành yếu tố có sự ảnh hưởng trên quy mô toàn cầu. Tại Việt Nam, đặc biệt là TP.HCM hiện tượng nhập cư tự do không chỉ đơn thuần là sự di chuyển dân cư từ các vùng nông thôn vào đô thị mà thực chất đó còn là hiện tượng xã hội của sự thu hút cả nông dân lẫn thị dân ở các vùng kém phát triển vào thành phố này.
Trong phần này tác giả sẽ tổng quan tài liệu bao gồm những nghiên cứu về trẻ em di cư; việc làm của người di cư nói chung và nhóm trẻ em nói riêng. 4 Một số nghiên cứu về trẻ em di cư Di cư là một trong những mối quan tâm lớn của ngành xã hội học, các nhà quản lý trong và ngoài nước. Từ năm 1966, tác giả Lee đã có những nghiên cứu liên quan về lực đẩy và lực hút trong vấn đề di dân. Di cư luôn chịu sự tác động của yếu tố “nhân tố đẩy” và “nhân tố kéo” hay quá trình di cư xảy ra khi có sự khác biệt về đặc trưng giữa hai vùng: vùng đi và vùng đến.
Nhân tố đẩy bao gồm những yếu tố như điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa ở nơi đi như do điều kiện sống khó khăn, thiếu việc làm …Cùng với nó là nhân tố kéo như những điều kiện, yếu tố thuận lợi về tự nhiên, kinh tế, xã hội, chính trị…và sự hấp dẫn về việc làm, cơ hội có thu nhập và mức sống cao ở nơi đến (Điều tra dân số và Nhà ở giữa kỳ 2014). Di cư là yếu tố quan trọng, là động lực tích cực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, góp phần phân bổ lại dân cư, chuyển dịch cơ cấu lao động kinh tế lao động, giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, là một bộ phận của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội bền vững của chính phủ các nước. Nhưng nó đồng thời cũng tạo ra chi phí và rủi ro nhất định cho xã hội (Jon Sward và Nitya Rao, 2009). Vào năm 2012, “Nâng cao khả năng tiếp cận giáo dục của trẻ em các gia đình nhập cư vào TP.HCM” được tác giả Nguyễn Văn Trinh thực hiện cuộc nghiên cứu những gia đình nhập cư đến TP.HCM dưới 5 năm cho thấy tỉ lệ đến trường của nhóm trẻ em thuộc gia đình nhập cư ở các cấp thấp hơn nhóm trẻ em bản địa.
Loại hình trường học, nơi học sinh theo học chủ yếu là trường tình thương tại địa bàn. Đồng quan điểm trong hướng nghiên cứu trên, Hechmann và cộng sự (2008) cũng chứng minh được tỉ lệ trẻ em nhập cư nhập học đúng độ tuổi thấp hơn trẻ em các gia đình bản địa; tỉ lệ bỏ học và ngưng học của trẻ em nhập cư cũng ở mức cao hơn. Trẻ em trong gia đình nhập cư chịu nhiều thiệt thòi trong tiếp cận giáo dục. Các gia đình nhập cư ngoài việc thiếu vốn làm ăn còn thiếu vốn xã hội.
Cuộc nghiên cứu trên liên quan đến tình trạng tiếp cận giáo dục của trẻ em nhập cư ở các quốc gia châu Âu. 5 Một cuộc nghiên cứu bằng phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết, phương pháp điều tra bảng hỏi, phương pháp thống kê toán học và phỏng vấn sâu trên 114 trẻ em di cư lao động sớm tại 3 quận nội thành ở TP. Tác giả đã tìm hiểu được cách ứng phó trẻ sử dụng nhiều nhất là các cách ứng phó trong thay đổi tình cảm thể hiện ra bên ngoài như chán ăn và khóc; bên trong cảm thấy buồn chán. Những trẻ em di cư từ các tỉnh về thành phố thường không có thói quen chia sẻ những khó khăn của mình với bố mẹ và thường xuyên chọn cách ứng phó “tình bạn”.
Như vậy, các nghiên cứu trên đã đề cập đến sự tiếp cận giáo dục của trẻ em đang sống trong các gia đình nhập cư và cách ứng phó về tâm lý khi tham gia lao động tại các thành phố lớn…Tuy vậy, chưa có nghiên cứu nào tập trung về vấn đề việc làm của trẻ em di cư. Một số nghiên cứu về việc làm của người di cư Việc làm của người di cư Một số tác giả trong nước quan tâm tới nhóm người nhập cư làm công việc bán hàng rong tại TP.HCM qua nghiên cứu “Khảo sát tình hình buôn bán hàng rong tại quận 10, TP.