CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VI PHẠM HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA TRƯỚC THỜI HẠN 1.1 Khái niệm vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa HĐMBHH là loại hợp đồng song vụ, theo đó người bán và người mua đều có nghĩa vụ lẫn nhau. Người bán thì có nghĩa vụ giao hàng và chứng từ đúng số lượng, chất lượng, cách thức đóng gói, bảo quản cũng như giao hàng đúng địa điểm, đúng thời gian đã thỏa thuận và người bán cũng có nghĩa vụ bảo đảm hàng hóa không bị tranh chấp bởi bên thứ ba hoặc hàng hóa phải hợp pháp. Trong khi đó người mua có nghĩa vụ thực hiện những công việc hợp lý để nhận hàng theo thời gian và địa điểm đã thỏa thuận với người bán. Và quan trọng hơn hết trong tất cả nghĩa vụ của người mua là nghĩa vụ thực hiện thanh toán theo đúng trình tự, thủ tục, thời gian, địa điểm cho người bán.
Một khi HĐMBHH được xác lập theo qui định của pháp luật thì các nghĩa vụ nói trên phải được người bán và người mua thực hiện nghiêm túc. Tuy nhiên, nếu một bên không thực hiện, thực hiện không đúng nghĩa vụ theo thỏa thuận giữa các bên thì hành vi này được gọi là vi phạm hợp đồng (khoản 12 Điều 3 LTM). BLDS 2015 không có khái niệm trực tiếp thế nào là vi phạm hợp đồng hay vi phạm HĐMBHH. Tuy nhiên tại khoản 1 Điều 351 BLDS 2015, Bộ luật này có nhắc đến “trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ” rằng vi phạm nghĩa vụ là việc một bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nội dung của nghĩa vụ.
Trong CISG, ngoài khái niệm thế nào là vi phạm cơ bản hay vi phạm trước thì không có khái niệm vi phạm HĐMBHH. Nhưng thông qua các điều khoản khác, CISG cũng đã hàm chứa thế nào là vi phạm HĐMBHH. Tại khoản 1 Điều 45 CISG đã nói lên người bán đã không thực hiện một nghĩa vụ nào đó của họ phát sinh từ HĐMBHH thì người mua có căn cứ để thực hiện những quyền hạn của mình và đòi bồi thường thiệt hại. Tương tự khoản 1 Điều 61 CISG qui định nếu người mua không thực hiện một nghĩa vụ nào đó theo theo HĐMBHH thì người bán có thể thực hiện quyền của mình và đòi bồi thường thiệt hại.
Như vậy vi phạm HĐMBHH trong CISG là không thực hiện một nghĩa vụ nào đó phát sinh từ hợp đồng, nhưng khác với pháp luật Việt Nam, không thực hiện nghĩa vụ ở đây đã bao hàm việc thực hiện không đúng nghĩa vụ, chậm thực hiện nghĩa vụ. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Từ những qui định của LTM, BLDS 2015 và CISG, Người viết có thể đưa ra một khái niệm chung rằng vi phạm HĐMBHH là việc một bên hoặc các bên không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ phát sinh từ HĐMBHH. Tuy nhiên một vấn đề được đặt ra là thời điểm không thực hiện, thực hiện không đầy đủ và thực hiện không đúng là khi nào. Hiện nay có hai thuyết được đưa ra, thuyết truyền thống cho rằng hành vi vi phạm HĐMBHH chỉ xảy ra khi đến hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên có nghĩa vụ không thực hiện, thực hiện không đầy đủ, thực hiện không đúng nghĩa vụ.
Thuyết này có thể được minh chứng thông qua Điều 1186 Bộ luật dân sự Pháp, theo đó người có quyền không thể yêu cầu thực hiện một nghĩa vụ có thời hạn trước khi đến thời hạn đó; người có nghĩa vụ không thể đòi lại những lợi ích mà mình đã chuyển giao trước thời hạn hay tại khoản 1 Điều 351 BLDS 2015 vừa nêu ở trên rằng vi phạm nghĩa vụ là việc một bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn. Ngược lại, thuyết thứ hai cho rằng hành vi vi phạm có thể xảy ra trước thời điểm phải thực hiện nghĩa vụ. Cụ thể thuyết thứ hai này ra sao thì sẽ được phân tích ở những nội dung tiếp theo sau đây.2 Khái niệm, lịch sử và đặc điểm vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa trước thời hạn 1.1 Khái niệm vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa trước thời hạn Trước khi đi vào định nghĩa vi phạm HĐMBHH trước thời hạn, người viết xin đưa ra một ví dụ như sau: ngày 03/09/2016, Công ty A và Công ty B ký kết hợp đồng mua bán phụ gia thực phẩm để Công ty B sản xuất cà phê hòa tan, các bên cho phép giao hàng vào ngày 30/09/2016. Tuy nhiên đến ngày 12/09/2016, cơ quan an toàn vệ sinh thực phẩm kết luận và thông báo trên các phương tiện truyền thông rằng các sản phẩm của Công ty A, trong đó có loại phụ gia thực phẩm mà Công ty B cần mua bị nhiễm độc chì, nếu sử dụng thì có thể gây ung thư cho người tiêu dùng.
Công ty B nắm bắt được thông tin và thông báo không tiếp tục thực hiện hợp đồng vì Công ty B cho rằng dù chưa đến thời hạn Công ty A thực hiện nghĩa vụ giao hàng nhưng tại thời điểm cơ quan an toàn vệ sinh thực phẩm kết luận, Công ty B biết chắc chắn rằng Công ty A không thể giao hàng đúng như hợp đồng được nữa. Trong CISG, ví dụ này sẽ được bắt gặp tại khoản 1 Điều 71 CISG: Một bên có thể ngừng việc thực hiện nghĩa vụ của mình nếu có dấu hiệu cho thấy rằng sau khi hợp đồng được ký kết, bên kia sẽ không thực hiện một phần chủ yếu những nghĩa vụ của họ bởi lẽ một sự khiếm khuyết nghiêm trọng trong khả năng thực hiện hay trong khi thực hiện hợp đồng hoặc cung cách sử dụng của bên kia trong việc chuẩn TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 bị thực hiện hay trong khi thực hiện hợp đồng. Và khoản 1 Điều 72 CISG: Nếu trước ngày qui định cho việc thi hành hợp đồng, mà thấy hiển nhiên rằng một bên sẽ gây ra một vi phạm chủ yếu đến hợp đồng, bên kia có thể tuyên bố hợp đồng bị hủy. Hai qui định này có điểm chung là một nghĩa vụ hay một số nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng mua bán hàng hóa sẽ không được thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng.
Từ “sẽ” ở đây nói lên thời gian trong tương lai, tức là nghĩa vụ chưa đến hạn phải thực hiện nhưng được “dự đoán” chắc chắn sẽ không được thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng bởi mối quan hệ nhân quả từ sự khiếm khuyết nghiêm trọng trong khả năng thực hiện hoặc cung cách sử dụng trong việc chuẩn bị thực hiện. Hậu quả của mối quan hệ nhân quả này có thể khác nhau tùy vào mức độ khiếm khuyết trong khả năng hay trong cung cách, hậu quả có thể là một phần chủ yếu những nghĩa vụ sẽ không được thực hiện hoặc có thể là một vi phạm chủ yếu đến hợp đồng. Và ứng với hậu quả sẽ xảy ra, bên bị vi phạm sẽ áp dụng các biện pháp bảo hộ như ngừng thực hiện nghĩa vụ của mình hoặc tuyên bố hủy hợp đồng. Vi phạm hợp đồng trước thời hạn cũng được đề cập trong Bộ nguyên tắc Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế 2004.3 của Bộ nguyên tắc này thì một bên có căn cứ để hủy hợp đồng nếu, trước thời hạn, rõ ràng sẽ có việc không thực hiện chủ yếu từ phía bên kia.
Giống như CISG, thời điểm “trước thời hạn” được nhấn mạnh để nói lên việc sẽ không thực hiện nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng và nghĩa vụ sẽ không thực hiện này phải là nghĩa vụ chủ yếu của hợp đồng. Và dấu hiệu để một bên nhận biết bên kia không thực hiện nghĩa vụ chủ yếu rõ ràng và hợp lý, nói cách khác là phải có mối quan hệ nhân quả của dấu hiệu này và việc không thực hiện nghĩa vụ chủ yếu, tránh trường hợp một bên lợi dụng một dấu hiệu chưa rõ ràng, hợp lý để trục lợi từ việc hủy hợp đồng. Ở Việt Nam, khái niệm vi phạm hợp đồng trước thời hạn lần đầu xuất hiện vào năm 2005 thông qua BLDS 2005 tại khoản 1 Điều 415, theo đó bên phải thực hiện nghĩa vụ trước có quyền hoãn thực hiện nghĩa vụ, nếu tài sản của bên kia đã bị giảm sút nghiêm trọng đến mức không thể thực hiện được nghĩa vụ như đã cam kết cho đến khi bên kia có khả năng thực hiện được nghĩa vụ hoặc có người bảo lãnh. So với khoản 1 Điều 71 CISG thì qui định này nêu nguyên nhân cụ thể là tài sản bị giảm sút nghiêm trọng thay vì qui định bao quát là sự khiếm khuyết nghiêm trọng trong khả năng thực hiện hay cung cách của một bên như CISG đã đề cập.
Còn lại giống như CISG, vẫn là sự tiên liệu và dự đoán nghĩa vụ sẽ không thể thực hiện như TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 đã cam kết, sở dĩ nói là tiên liệu và dự đoán là do có khoản cách thời gian trước sau để thực hiện nghĩa vụ của các bên, ở đây nghĩa vụ của bên bị vi phạm thực hiện trước, còn nghĩa vụ của bên vi phạm thực hiện sau hay chưa tới thời gian thực hiện. Ngoài ra chế tài áp dụng là ngừng thực hiện hay tạm hoãn nghĩa vụ và điều kiện để bên tuyên bố tạm hoãn tiếp tục thực hiện là bên kia có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình trở lại. Việc qui định cụ thể nguyên nhân dẫn đến vi phạm hợp đồng trước thời hạn là sự giảm sút nghiêm trọng của tài sản như BLDS 2005 nêu trên sẽ gây bó hẹp về phạm vi áp dụng vi phạm hợp đồng trước thời hạn. Sở dĩ bó hẹp vì nguyên nhân dẫn đến vi phạm trong HĐMBHH rất đa dạng, có thể liên quan đến chất lượng sản phẩm, nghĩa vụ giao hàng đúng thời hạn,…Có lẽ thấy được hạn chế này nên các nhà làm luật ở Việt Nam đã điều chỉnh lại như BLDS 2015.
Tại khoản 1 Điều 411 BLDS 2015 qui định bên phải thực hiện nghĩa vụ trước có quyền hoãn thực hiện nghĩa vụ, nếu khả năng thực hiện nghĩa vụ của bên kia đã bị giảm sút nghiêm trọng đến mức không thể thực hiện được nghĩa vụ như đã cam kết cho đến khi bên kia có khả năng thực hiện được nghĩa vụ hoặc có biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. So sánh hai Bộ luật này, chúng ta có thể thấy rõ sự thay thế cụm từ “tài sản của bên kia đã bị giảm sút nghiêm trọng” bằng cụm từ “khả năng thực hiện nghĩa vụ của bên kia đã bị giảm sút nghiêm trọng”.