Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp đại học ngành Cử nhân Báo chí của tác giả Trần Thị Ánh, được thực hiện tại Khoa Ngữ văn thuộc Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng vào tháng 5 năm 2022 dưới sự hướng dẫn khoa học của ThS. Đặng Hồng Cam Vũ. Đề tài tập trung vào chủ đề: “Vấn đề vi phạm đạo đức nghề báo trên báo mạng điện tử Việt Nam (Khảo sát những sai phạm được dư luận quan tâm qua các trang báo mạng điện tử: Thanh Niên, Tuổi Trẻ, Dân Trí, Vnexpress, Vietnamnet từ năm 2016-2021)”.

Về bối cảnh thực tiễn và lý do chọn đề tài, tác giả phân tích rằng báo chí đóng vai trò thiết yếu trong đời sống tinh thần, định hướng dư luận xã hội và nâng cao dân trí. Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin và mạng Internet đã đưa báo mạng điện tử trở thành kênh truyền thông có tốc độ tiếp cận nhanh và tầm ảnh hưởng sâu rộng. Tuy nhiên, trước sức ép cạnh tranh thông tin khốc liệt từ các nền tảng mạng xã hội như Facebook, Twitter, Instagram, TikTok, nhiều cơ quan báo chí và người làm báo đã bộc lộ những sai phạm nghiêm trọng về pháp luật lẫn đạo đức nghề nghiệp. Những biểu hiện tiêu cực như nhũng nhiễu doanh nghiệp, vi phạm bản quyền tác giả, đưa tin sai sự thật, khai thác quá đà các yếu tố giật gân, soi mói đời tư, đăng tải vụ án bạo lực nhằm mục đích "câu view" đã gây ảnh hưởng tiêu cực đến tư tưởng, tình cảm của cộng đồng và làm suy giảm lòng tin của công chúng vào báo chí chính thống.

Văn bản xác định mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:

  • Mục tiêu nghiên cứu (gồm 02 mục tiêu):
    1. Nghiên cứu thực trạng vi phạm đạo đức nhà báo trên báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay.
    2. Từ những phân tích, đánh giá về thực trạng, đưa ra những nhận định và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao đạo đức nghề nghiệp của nhà báo nói chung và báo mạng điện tử nói riêng.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu (gồm 03 nhiệm vụ):
    1. Tìm kiếm, phân tích và thẩm thấu các tài liệu liên quan đến nghiệp vụ báo chí và đạo đức nghề báo, cũng như các vấn đề liên quan đến báo mạng điện tử để có kiến thức nền tảng thuận lợi trong việc đánh giá, làm rõ các vấn đề về cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài.
    2. Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng vi phạm đạo đức nghề nghiệp của nhà báo trên báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay và tiếp nhận của người đọc để làm nguyên liệu cho quá trình nghiên cứu.
    3. Khái quát và chỉ ra nguyên nhân, đưa ra các nhận định; đồng thời đề xuất những giải pháp nhằm hạn chế những biểu hiện vi phạm đạo đức nhà báo, nâng cao đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ làm báo nói chung và báo mạng điện tử nói riêng.

Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề cơ sở lý luận về vi phạm đạo đức nghề báo nói chung và các sai phạm đáng lưu ý trên báo mạng điện tử Việt Nam nói riêng.
  • Phạm vi nghiên cứu: Khảo sát các tin bài vi phạm đạo đức nghề báo trên 03 trang báo mạng điện tử độc lập (VnExpress.net, VietNamNet, Dân Trí) và 02 phiên bản điện tử của cơ quan báo in gồm Báo Thanh Niên (thanhnien.vn) và Báo Tuổi Trẻ (tuoitre.vn) trong quãng thời gian 06 năm, từ năm 2016 đến năm 2021.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên các khái niệm chuyên ngành, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và các bộ quy tắc đạo đức báo chí:

  • Khung lý thuyết và khái niệm: Tác giả dẫn dụng định nghĩa báo mạng điện tử theo chuyên khảo của TS. Nguyễn Thị Trường Giang (2011), xác định báo mạng điện tử là loại hình báo chí được xây dựng dưới hình thức trang web và phát hành trên mạng Internet. Tác phẩm phân biệt các cách gọi tiền thân như Online Newspaper, Cyber Newspaper, Internet Newspaper, Electronic Journal. Về phạm trù đạo đức và đạo đức nghề báo, khóa luận kế thừa quan điểm từ giáo trình của Dương Xuân Sơn – Đinh Văn Hường – Trần Quang (2011), PGS. Nguyễn Văn Dững (2013) và PGS. Hoàng Đình Cúc (2013).
  • Văn bản quy chuẩn pháp lý và nghề nghiệp: Căn cứ pháp lý cốt lõi là Luật Báo chí năm 2016 (Luật số 103/2016/QH13), trọng tâm là Điều 25, Khoản 3, Điểm e quy định nghĩa vụ của người làm báo phải tuân thủ đạo đức nghề nghiệp. Về quy chuẩn nghề nghiệp, khóa luận sử dụng 10 điều Quy định đạo đức nghề nghiệp người làm báo Việt Nam (được Hội Nhà báo Việt Nam thông qua ngày 15/12/2016, có hiệu lực từ ngày 01/01/2017) và Quy tắc sử dụng mạng xã hội của người làm báo Việt Nam (gồm 3 chương, 7 điều). Ngoài ra, tác giả đối chiếu với công trình khảo sát 100 bản quy tắc đạo đức nghề báo trên thế giới của TS. Nguyễn Thị Trường Giang (2014) để so sánh các nguyên tắc phổ quát và tính đặc thù của báo chí cách mạng Việt Nam.
  • Phương pháp nghiên cứu:
    • Phương pháp điều tra dữ liệu sơ cấp: Tác giả tiến hành khảo sát bảng hỏi đối với nhóm công chúng tiếp nhận thông tin báo mạng điện tử bằng kỹ thuật chọn mẫu thuận tiện (mẫu phi xác suất) với quy mô mẫu là 150 người. Bên cạnh đó, tác giả sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu các đối tượng gồm phóng viên, biên tập viên, nhà quản lý báo chí, chuyên gia nghiên cứu và công chúng để ghi nhận các đánh giá chuyên môn về thực trạng vi phạm đạo đức.
    • Phương pháp điều tra dữ liệu thứ cấp: Đọc và tổng hợp tài liệu lý luận; phương pháp phân tích nội dung (Content Analysis) áp dụng cho các sản phẩm báo chí vi phạm (tin bài, hình ảnh, video, âm thanh) và bình luận tương tác của độc giả; phương pháp thống kê, tổng hợp dữ liệu các bài báo vi phạm trên 5 trang báo mạng điện tử từ năm 2016 đến năm 2021.
  • Nguồn dữ liệu: Dữ liệu sơ cấp trích xuất từ 150 phiếu điều tra công chúng và các biên bản phỏng vấn sâu; dữ liệu thứ cấp thu thập từ Báo cáo đánh giá công tác báo chí năm 2021 của Bộ Thông tin và Truyền thông, các ấn phẩm báo chí lưu trữ trên mạng Internet và các tài liệu chuyên khảo chuyên ngành báo chí.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Lý luận chung về báo mạng điện tử và đạo đức nghề báo

Chương 1 hệ thống hóa toàn diện các tiền đề lý thuyết về lịch sử hình thành, đặc trưng loại hình và các chuẩn mực đạo đức báo chí:

  1. Lịch sử phát triển báo mạng điện tử Việt Nam: Khóa luận ghi nhận mốc nối mạng Internet quốc gia ngày 19/11/1997 (sau mạng thử nghiệm VARINET năm 1993) và chia tiến trình phát triển thành 3 giai đoạn:
    • Giai đoạn 1997 - 2001: Tạp chí Quê hương điện tử (quehuongonline.vn) ra đời ngày 31/12/1997 là tờ báo mạng đầu tiên; tiếp đó là Báo Nhân Dân điện tử (21/6/1998), VOVNews (03/2/1999) và VTV (01/9/2000). Giai đoạn này tốc độ mạng chậm, giao diện đơn giản, nội dung lệ thuộc báo in.
    • Giai đoạn 2001 - 2005: Báo in mở phiên bản điện tử và đầu tư mạnh (báo Thanh Niên chi 5 - 6 tỷ đồng/năm và đặt máy chủ phiên bản tiếng Anh tại New York; báo Công an Nhân dân, Tuổi Trẻ TP.HCM). Các báo mạng độc lập chính thức xuất hiện: VnExpress (ra mắt 26/2/2002, cấp phép 25/11/2002), VietNamNet (cấp phép 23/1/2003), VnMedia (06/8/2003), Dân Trí (thành lập 15/7/2005).
    • Giai đoạn 2005 đến nay: Báo mạng điện tử thoát ly báo in, tự sản xuất nội dung, giao diện hiện đại. Ngày 20/10/2007 ghi nhận thỏa thuận bản quyền giữa 5 báo (Lao Động, Thanh Niên, Tuổi Trẻ, Sài Gòn Giải Phóng, Tiền Phong). Số liệu thống kê của Bộ Thông tin và Truyền thông tính đến ngày 30/11/2021 cho thấy cả nước có 816 cơ quan báo chí (114 báo và 116 tạp chí thực hiện hai loại hình, 557 báo/tạp chí in, 29 báo/tạp chí điện tử).
  2. Đặc trưng ưu việt của báo mạng điện tử: Tác giả chỉ rõ 3 đặc trưng cốt lõi: Khả năng đa phương tiện (Multimedia tích hợp văn bản, hình ảnh tĩnh, hình ảnh động, âm thanh, đồ họa); Tính tức thời và phi định kỳ (tạo nên khái niệm "báo giờ", "bài báo mở"); Tính tương tác đa chiều (bình luận, email, diễn đàn, chia sẻ mạng xã hội).
  3. Chuẩn mực đạo đức nghề báo: Khóa luận trình bày toàn văn 10 điều Quy định đạo đức nghề nghiệp người làm báo Việt Nam (2016); so sánh với khảo sát 100 bộ quy tắc đạo đức trên thế giới (98/100 bản quy định tôn trọng sự thật; 87/100 quy định đính chính công khai; 95/100 quy định tính khách quan; 98/100 tôn trọng quyền riêng tư; 89/100 bảo vệ nguồn tin; 76/100 bảo vệ trẻ em). Tác giả chỉ ra điểm khác biệt: Báo chí Việt Nam đặt điều 1 là trung thành với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, và điều 9 nhấn mạnh giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.
  4. Đạo đức nghề báo trong kỷ nguyên số: Tác giả trích dẫn Điều 3 (những điều cần làm) và Điều 4 (những điều không được làm) trong Quy tắc sử dụng mạng xã hội của người làm báo Việt Nam; xác định 5 tiêu chuẩn nghề nghiệp gồm: tính chính xác, tính độc lập, công bằng, tính bảo mật và tính nhân văn.
  5. Mối liên hệ giữa công nghệ và vi phạm đạo đức: Tác giả nhận định môi trường số hóa và ưu thế cập nhật nhanh tạo điều kiện thuận lợi cho tác nghiệp nhưng cũng dung dưỡng tính lười biếng, làm nảy sinh trào lưu "nhà báo salon", tình trạng "sáng đăng, chiều gỡ", giật tít sai lệch và hiện tượng đưa tin sai sự thật không thực hiện đính chính.

Chương 2: Thực trạng vi phạm đạo đức nghề báo trên báo mạng điện tử Việt Nam

Chương 2 tập trung phân tích các biểu hiện và vụ việc sai phạm cụ thể được dư luận quan tâm từ năm 2016 đến 2021 qua các trang báo khảo sát:

  1. Các biểu hiện vi phạm đạo đức nghề báo:
    • Đưa tin sai sự thật: Chia làm hai dạng là nội dung hoàn toàn sai sự thật và giật tít câu view định hướng sai lệch bản chất vấn đề.
    • Tiêu cực hóa thông tin: Đăng tải tràn lan và mô tả chi tiết các vụ án mạng, khai thác mặt trái xã hội; xâm phạm tính riêng tư và danh dự của nhân vật; lợi dụng các đề tài nhạy cảm về tình dục, đời tư để lôi kéo lượt truy cập.
    • Hiện tượng “Nhà báo salon” trên xa lộ mạng: Phóng viên không đi thực tế hiện trường mà chỉ ngồi phòng làm việc tổng hợp, sao chép tin tức chưa kiểm chứng từ mạng xã hội.
    • Đưa tin sai không đính chính: Khi phát hiện sai sót, tòa soạn âm thầm gỡ bỏ bài viết mà không công khai xin lỗi hoặc đính chính theo quy định.
  2. Dữ liệu thực nghiệm và các trường hợp sai phạm điển hình: Khóa luận phản ánh thái độ công chúng qua Biểu đồ 1 (trang 42 trong văn bản) về đánh giá thông tin trên báo mạng điện tử, đồng thời đưa ra các hình ảnh minh chứng cho những vụ việc sai phạm nổi cộm:
STT Cơ quan báo chí Nội dung sai phạm được khảo sát Vị trí minh chứng trong văn bản
1 Báo điện tử Dân Trí Đưa thông tin sai sự thật về vụ việc "Nam sinh 22 tuổi tử vong khi mắc covid-19" Hình 1 (Trang 51)
2 Báo Tuổi Trẻ Online Thông tin sai sự thật về việc Chủ tịch nước đồng ý ban hành Luật biểu tình Hình 2 (Trang 53)
3 Báo Tuổi Trẻ Online Đăng tải thông tin không chính xác về việc họa sĩ khuyết tật Lê Minh Châu được khắc tên trên đại lộ danh vọng Hình 3 (Trang 72)
4 Báo mạng điện tử Sử dụng hình ảnh giả mạo về dàn siêu xe gắn biển xanh giả để minh họa bài viết Hình 4 (Trang 73)

Chương 3: Một số khuyến nghị hạn chế tình trạng vi phạm đạo đức nghề báo trên báo mạng điện tử Việt Nam

Chương 3 tổng hợp các nguyên nhân dẫn đến vi phạm từ kết quả khảo sát và đề xuất hệ thống giải pháp:

  1. Hệ thống nguyên nhân của sai phạm:
    • Nguyên nhân chủ quan: Bản lĩnh chính trị của một bộ phận người làm báo chưa vững vàng; thiếu hụt kiến thức nghiệp vụ báo chí chuyên nghiệp; sự lạm dụng mạng xã hội và tư duy tác nghiệp nóng vội.
    • Nguyên nhân khách quan: Sức ép cạnh tranh thông tin khốc liệt giữa báo điện tử và mạng xã hội; xu hướng thương mại hóa báo chí, áp lực doanh thu quảng cáo phụ thuộc trực tiếp vào lượt xem (view).
    • Dữ liệu điều tra xã hội học hỗ trợ phân tích nguyên nhân: Khóa luận thể hiện các kết quả điều tra qua Biểu đồ 2 (Xu hướng theo dõi tin tức của công chúng trên các nền tảng, trang 78), Biểu đồ 3 (Tỉ lệ các nguyên nhân của sai phạm, trang 80), Biểu đồ 4 (Nguyên nhân ảnh hưởng đến uy tín của các tờ báo, trang 88), Biểu đồ 5 (Thái độ, nhận thức của công chúng trước những thông tin vi phạm, trang 89), và Biểu đồ 6 (Nguyện vọng của công chúng đối với việc tiếp cận thông tin trên báo mạng điện tử, trang 106).
  2. Hệ thống khuyến nghị:
    • Nhóm giải pháp đối với nhà quản lý và cơ quan báo chí: Áp dụng xu hướng "làm báo chậm" (Slow Journalism) để ưu tiên chất lượng, tính xác thực và chiều sâu phân tích; nâng cao năng lực đội ngũ lãnh đạo, ban biên tập; hoàn thiện quy chế khen thưởng và kỷ luật nghiêm minh; đề xuất sửa đổi, bổ sung Luật Báo chí; thiết lập môi trường tác nghiệp an toàn, minh bạch.
    • Nhóm giải pháp đối với nhà báo – phóng viên: Đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo báo chí tại các trường đại học; đề cao ý thức tự giác, trách nhiệm xã hội và chuẩn mực ứng xử trên không gian mạng.
    • Nhóm giải pháp đối với công chúng: Nâng cao nhận thức truyền thông, trang bị kỹ năng chọn lọc thông tin, chủ động phản ánh và tẩy chay các nội dung vi phạm chuẩn mực.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả nghiên cứu cụ thể gắn liền với dữ liệu thực tế:

  • Số liệu thực chứng: Khóa luận ghi nhận bức tranh toàn cảnh ngành báo chí tính đến ngày 30/11/2021 với 816 cơ quan báo chí cả nước; thu thập và phân tích dữ liệu khảo sát từ 150 độc giả tiếp nhận thông tin báo mạng; tiến hành các phỏng vấn sâu với đội ngũ biên tập viên, nhà báo và chuyên gia; xây dựng 6 biểu đồ định lượng về xu hướng, nguyên nhân sai phạm, mức độ sụt giảm uy tín và nguyện vọng của công chúng; ghi nhận 4 trường hợp minh họa vi phạm thực tế từ các báo lớn (Dân Trí, Tuổi Trẻ Online).
  • Đề xuất giải pháp: Tác giả đưa ra các kiến nghị mang tính hệ thống cho 3 nhóm chủ thể (cơ quan quản lý/tòa soạn, phóng viên và công chúng). Đáng chú ý là việc khuyến nghị chuyển dịch phương thức tác nghiệp sang xu hướng "làm báo chậm" (Slow Journalism) nhằm giảm thiểu rủi ro sai phạm do chạy theo tốc độ.
  • Đóng góp mới của đề tài: Tác giả chỉ ra rằng so với các công trình nghiên cứu trước đây (tiêu biểu là nghiên cứu năm 2015 của Hoàng Minh Hạnh chỉ dựa trên 9 điều quy định năm 2005 và các số liệu cũ), khóa luận này đã cập nhật khung pháp lý và quy chuẩn mới nhất gồm Luật Báo chí 2016, 10 điều Quy định đạo đức nghề nghiệp năm 2016 và Quy tắc sử dụng mạng xã hội của Hội Nhà báo Việt Nam. Đồng thời, đề tài bao quát giai đoạn biến động mạnh mẽ của truyền thông số từ năm 2016 đến 2021.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài: Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện phi xác suất với cỡ mẫu điều tra xã hội học còn khiêm tốn (n = 150 người), chưa phản ánh toàn diện cơ cấu nhân khẩu học của công chúng trên quy mô toàn quốc. Khách thể khảo sát thực tế tập trung vào 5 tờ báo mạng điện tử lớn (VnExpress, VietNamNet, Dân Trí, Thanh Niên, Tuổi Trẻ), chưa mở rộng sang hệ thống các tạp chí điện tử chuyên ngành và các trang tin điện tử tổng hợp.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng phạm vi và quy mô điều tra xã hội học bằng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên xác suất; khảo sát thêm các dạng thức vi phạm đạo đức trên các trang thông tin điện tử tổng hợp và tạp chí điện tử; nghiên cứu sâu tác động của các thuật toán phân phối nội dung tự động đối với hành vi tác nghiệp của nhà báo số.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho sinh viên, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Báo chí học, Truyền thông đại chúng trong việc nghiên cứu các học phần như Đạo đức báo chí, Pháp luật báo chí và Tác nghiệp báo mạng điện tử. Nội dung khóa luận cũng cung cấp tư liệu thực tế cho các phóng viên, biên tập viên tại các tòa soạn báo điện tử nhằm nhận diện các ranh giới vi phạm trong quá trình xử lý tin tức nhanh.

Phần nội dung có giá trị tham khảo nổi bật là Chương 1 với hệ thống so sánh chi tiết giữa 100 bộ quy tắc đạo đức báo chí thế giới và quy định của Việt Nam, cùng với Chương 2 phân tích các ca sai phạm cụ thể được dư luận quan tâm trong giai đoạn 2016 - 2021.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận khảo sát thực trạng vi phạm đạo đức nghề báo trên những trang báo mạng nào và trong giai đoạn nào?
Khóa luận khảo sát các tin bài vi phạm trên 03 trang báo mạng điện tử độc lập (VnExpress.net, VietNamNet, Dân Trí) và 02 phiên bản điện tử của báo in là Báo Thanh Niên (thanhnien.vn) và Báo Tuổi Trẻ (tuoitre.vn) trong giai đoạn 06 năm, từ năm 2016 đến năm 2021.

2. Quy mô mẫu điều tra xã hội học của tác giả là bao nhiêu và được thực hiện bằng phương pháp nào?
Khóa luận sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện (mẫu phi xác suất) để tiến hành điều tra bảng hỏi với quy mô cỡ mẫu là 150 người đọc báo mạng điện tử, kết hợp với phương pháp phỏng vấn sâu một số phóng viên, biên tập viên, nhà quản lý báo chí và nhà nghiên cứu.

3. Văn bản đã đưa ra những hình ảnh minh chứng cho các trường hợp vi phạm thực tế cụ thể nào?
Khóa luận đưa ra 4 hình ảnh minh chứng cụ thể gồm: Báo điện tử Dân Trí đưa tin sai về nam sinh 22 tuổi tử vong khi mắc Covid-19 (Hình 1, trang 51); Báo Tuổi Trẻ Online thông tin sai về việc Chủ tịch nước đồng ý ban hành Luật biểu tình (Hình 2, trang 53); Báo Tuổi Trẻ Online đăng tin không chính xác về họa sĩ khuyết tật Lê Minh Châu được khắc tên trên đại lộ danh vọng (Hình 3, trang 72); và hình ảnh giả mạo dàn siêu xe gắn biển xanh giả (Hình 4, trang 73).

4. Đề tài kế thừa và cập nhật khung văn bản quy phạm đạo đức nghề báo nào?
Khóa luận căn cứ trên Luật Báo chí năm 2016 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2017), 10 điều Quy định đạo đức nghề nghiệp người làm báo Việt Nam (được Hội Nhà báo Việt Nam ban hành ngày 15/12/2016) và Quy tắc sử dụng mạng xã hội của người làm báo Việt Nam, thay thế cho bản quy định 9 điều cũ năm 2005.

5. Khóa luận đề xuất mô hình làm báo nào để hạn chế tình trạng chạy đua thông tin thiếu kiểm chứng?
Tác giả đề xuất các cơ quan báo chí và người làm báo áp dụng xu hướng "làm báo chậm" (Slow Journalism), chuyển hướng ưu tiên vào tính kiểm chứng, tính chính xác và chất lượng chiều sâu của sản phẩm báo chí thay vì chạy theo số lượng và tốc độ đưa tin thuần túy.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Trần Thị Ánh đã khái quát hóa một cách có hệ thống cơ sở lý luận về báo mạng điện tử và chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của người làm báo trong bối cảnh truyền thông số. Thông qua việc kết hợp giữa phân tích nội dung các vụ việc sai phạm nổi cộm từ năm 2016 đến 2021 và số liệu điều tra xã hội học trên 150 công chúng, tác giả đã chỉ rõ các biểu hiện vi phạm đạo đức phổ biến cùng hệ thống nguyên nhân chủ quan và khách quan. Trên cơ sở đó, công trình đề xuất các giải pháp đồng bộ cho cơ quan quản lý, tòa soạn, phóng viên và công chúng nhằm hạn chế sai phạm và củng cố uy tín cho báo mạng điện tử Việt Nam.