Chương 1: Tổng quan nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận về dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng về dịch vụ ngân hàng số Chương 3: Nghiên cứu thực trạng về sự hài lòng của khách hàng đối với việc sử dụng ứng dụng VCB Digibank của ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam Chương 4: Giải pháp nâng cao sự hài lòng của khách hàng đối với ứng dụng VCB Digibank của ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam 4 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ VÀ SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG SỐ 2.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ DỊCH VỤ: 2. Khái niệm về dịch vụ: Theo Philip Kotler: “Dịch vụ là bất kỳ hoạt động hay lợi ích nào mà chủ thể này có thể cung cấp cho chủ thể kia. Trong đó đối tượng cung cấp nhất định phải mang tính vô hình và không dẫn đến bất kỳ quyền sở hữu một vật nào cả. Còn việc sản xuất dịch vụ có thể hoặc không cần gắn liền với một sản phẩm vật chất nào” Còn Zeithaml và Bitner (2000) cho rằng: “Dịch vụ là những hành vi, quá trình và cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo ra giá trị sử dụng cho khách hàng làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng”.
Từ điển Bách khoa Việt Nam, tại trang 167 giải thích: “Dịch vụ là các hoạt động phục vụ, nhằm thỏa mãn những nhu cầu sản xuất kinh doanh và sinh hoạt.” Như vậy có thể thấy cách quan niệm về dịch vụ khá thống nhất giữa các nhà nghiên cứu mặc dù cách phát biểu là khác nhau.Trong nghiên cứu này, dịch vụ được định nghĩa là những hoạt động, tiện ích mà doanh nghiệp cung cấp cho khách hàng để đáp ứng nhu cầu của họ thông qua việc tiếp xúc với nhà cung cấp (nhân viên) hoặc hệ thống của nhà cung cấp (dịch vụ viễn thông, internet). Đặc điểm của dịch vụ: Dịch vụ gồm 4 đặc điểm cơ bản như sau: (Phan & cộng sự, 2006) Tính vô hình: dịch vụ là vô hình và không tồn tại vật chất. Do đó, các dịch vụ không thể cảm nhận bằng các giác quan. Đây là đặc điểm nổi bật nhất của một dịch vụ và là đặc điểm cơ bản phân biệt nó với một sản phẩm.
Ngoài ra, nó cũng đặt ra một thách thức riêng cho những người tham gia tiếp thị một dịch vụ vì họ cần phải gắn các thuộc tính hữu hình vào một sản phẩm vô hình khác (Nghiên cứu Quản lý, 2008). Đặc điểm vô hình giúp các công ty dịch vụ có thể mở rộng ra toàn cầu vì dịch vụ không có dạng vật chất và do đó có thể được phân biệt và sử dụng để tạo lợi thế. Tính không đồng nhất: Tính không đồng nhất, do bản chất của dịch vụ, là một hàng hóa được thể hiện phức tạp hơn, nó khác nhau đối với mỗi người 5 mà nó được cung cấp, làm cho nó không đồng nhất. Các dịch vụ hoàn toàn có thể thay đổi.
Rama (2011) tuyên bố rằng hầu như không thể có các dịch vụ tương tự từ cùng một người bán vào lần thứ hai, mặc dù khách hàng trải nghiệm nó ngay lập tức; không có hai khách hàng nào có thể nhận được các dịch vụ giống hệt nhau. Tính không thể tách rời: một dịch vụ không thể tách rời khỏi nguồn cung cấp ra nó. Có nghĩa là, sản xuất và tiêu dùng sẽ xảy ra đồng thời với dịch vụ (Botten và Neil, 1946). Đây là lý do tại sao Lovelock và Wirtz (2004) nhận định rằng việc thực hiện nhiệm vụ kém của khách hàng có thể ảnh hưởng đến năng suất, làm hỏng trải nghiệm dịch vụ và hạn chế lợi ích vì khách hàng tương tác với thiết bị, cơ sở và hệ thống của nhà cung cấp.
Tính không lưu trữ được: “Hầu hết các dịch vụ đều dễ hư hỏng, nghĩa là chúng không thể được sản xuất và lưu trữ trước khi tiêu dùng; chúng chỉ tồn tại vào thời điểm chúng được sản xuất ”(Raymond và Fisk, 2008, tr. Các dịch vụ không giống như sản phẩm không thể được lưu trữ hoặc phục hồi, chúng chỉ tồn tại khi hành động đang được thực hiện 2. Khái niệm dịch vụ ngân hàng số: Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: “Ngân hàng số là mô hình ngân hàng hoạt động dựa trên nền tảng quy trình công nghệ để cung cấp toàn bộ các dịch vụ cho khách hàng thông qua các thiết bị số kết nối trên môi trường internet, mạng viễn thông di động hoặc chi nhánh tự phục vụ” Như vậy, ngân hàng số khác ngân hàng điện tử, ngân hàng điện tử (bao gồm các dịch vụ internet banking, SMS Banking, mobile banking) chỉ là kênh cung cấp dịch vụ cho khách hàng dựa trên nền tảng quy trình nghiệp vụ xử lý hiện có của ngân hàng. Trong khi ngân hàng số là ngân hàng hoạt động dựa trên việc số hóa hầu hết các hoạt động ngân hàng: từ số hóa các kênh phân phối truyền thống và phát triển các kênh phân phối hiện đại đến tự động hóa các quy trình hoạt động kinh doanh, ứng dụng phân tích dữ liệu lớn phục vụ quá trình ra quyết định và kiến tạo các sản phẩm số, ứng dụng các sản phẩm có tính sáng tạo.
Ứng dụng VCB Digibank của ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam: 2.1 Ứng dụng VCB Digibank: Theo ngân hàng Vietcombank: “VCB Digibank là dịch vụ Ngân hàng số phiên bản mới do Vietcombank phát triển và cung cấp trên website, ứng dụng ngân hàng di động để khách hàng có thể thực hiện giao dịch với ngân hàng mọi lúc mọi nơi thông qua các thiết bị có kết nối Internet như máy tính, máy tính bảng, thiết bị di động.2 Điểm mới của ứng dụng: Cũng theo Vietcombank: “VCB Digibank là dịch vụ đồng nhất giữa hai dịch vụ Internet Banking và Mobile Banking hiện tại của Vietcombank, mang lại trải nghiệm đồng nhất và hoàn toàn mới cho khách hàng về giao diện, thông tin đăng nhập, hạn mức, phí dịch vụ, tính năng, tiện ích, cho phép khách hàng thực hiện liền mạch các giao dịch tài chính và các tiện ích số trên các kênh ngân hàng số của Vietcombank. CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ VÀ SỰ HÀI LÒNG KHÁCH HÀNG: 2. Cơ sở lý thuyết về chất lượng dịch vụ: 2. Khái niệm về chất lượng dịch vụ: Theo Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN ISO 9000:2000: “Chất lượng dịch vụ là mức độ của một tập hợp các đặc tính vốn có của dịch vụ thỏa mãn các nhu cầu, mong đợi của khách hàng và các bên có liên quan”.
Các yếu tố cấu thành nên chất lượng dịch vụ: Công cụ SERVQUAL đo lường năm khía cạnh của chất lượng Dịch vụ. Bao gồm: tính hữu hình, độ tin cậy, khả năng đáp ứng, sự đảm bảo và sự đồng cảm. Tính hữu hình: Đó là cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhân sự và tài liệu truyền thông. Độ tin cậy: Đó là khả năng thực hiện dịch vụ đã hứa một cách đáng tin cậy và chính xác.
Khả năng đáp ứng: Đó là sự sẵn sàng giúp đỡ khách hàng và cung cấp dịch vụ nhanh chóng. Sự đảm bảo: Nó có nghĩa là để truyền cảm hứng và sự tự tin. Sự đảm bảo được định nghĩa là kiến thức của nhân viên về phép lịch sự và khả năng của công ty và nhân viên của công ty trong việc truyền cảm hứng và sự tự tin. 7 Sự đồng cảm: Nó có nghĩa là cung cấp sự quan tâm chăm sóc cá nhân mà công ty cung cấp cho khách hàng của mình.
Cơ sở lý thuyết về sự hài lòng khách hàng: 2. Khái niệm sự hài lòng khách hàng: Theo Bachelet (1995), “Sự hài lòng của khách hàng là một phản ứng mang tính cảm xúc của khách hàng đáp lại kinh nghiệm của họ đối với một sản phẩm hay dịch vụ”. Oliva, Oliver và Bearden (1995) cho rằng “Sự chênh lệch, hay mối quan hệ của giá trị sản phẩm, dịch vụ mà khách hàng nhận được so với những sản phẩm dịch vụ trước đó sẽ cho thấy sự hài lòng của khách hàng”. Tương tự, Oliver (1997) nêu quan điểm, “Sự hài lòng của khách hàng là sự phản ứng của người tiêu dùng đối với việc đáp ứng những mong muốn của họ”.
Chung quan điểm này, Zeithaml và Bitner (2000) cho rằng, “Sự hài lòng của khách hàng là sự đánh giá của khách hàng thông qua một sản phẩm hoặc dịch vụ đáp ứng được mong muốn và yêu cầu của họ”. Theo Kotler (2001), “Sự hài lòng của khách hàng là mức độ trạng thái cảm giác của một người bắt nguồn từ việc so sánh kết quả thu được từ việc tiêu dùng sản phẩm/dịch vụ và những kỳ vọng của khách hàng”. Bên cạnh đó, Quan & cộng sự (2020) cũng đã chỉ ra “sự hài lòng điện tử sẽ tạo nên lòng trung thành điện tử đối với các khách hàng tham gia vào mua sắm trực tuyến”. Sự hài lòng khách hàng trong nghiên cứu này được hiểu là sự hài lòng của khách hàng về kỳ vọng của họ đối với dịch vụ họ được cung cấp.
Chất lượng dịch vụ được coi là đạt yêu cầu nếu khách hàng sử dụng nó cảm nhận bằng hoặc vượt mức kỳ vọng họ mong đợi. Chất lượng dịch vụ không đạt yêu cầu nếu khách hàng đánh giá dịch vụ không đạt kỳ vọng của họ trước khi sử dụng nó. Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng: Đã có hàng nghìn nghiên cứu thực nghiệm về sự hài lòng của khách hàng. Vậy nên, có rất nhiều cách tiếp cận để đạt được sự hài lòng của khách hàng cũng như nhiều cách để đo lường sự hài lòng.
Năm 2001, Bel và Chiao đã tuyên bố rằng chất lượng sản phẩm, chất lượng dịch vụ và giá cả là yếu tố quyết định đến sự hài lòng của khách hàng. Mặt khác, theo Zeithaml và Bitner (2000) đã chứng minh rằng sự hài lòng của khách hàng không chỉ bị ảnh hưởng bởi chất lượng sản phẩm và dịch vụ và giá cả mà còn bởi các yếu tố tình huống và yếu tố cá nhân. Theo lý thuyết đó Zeithaml và Bitner (2000) đã phát triển một mô hình thỏa mãn khách hàng, cũng là mô hình về các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng: 8 2. Mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng khách hàng: Chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng đã được nhiều người nghiên cứu, và kết quả cho thấy rằng cả hai thực sự độc lập, nhưng lại liên quan chặt chẽ với nhau, ngụ ý rằng yếu tố này gia tăng thì yếu tố còn lại cũng tăng và ngược lại (Sureshchandar et al.
Theo Zeithaml và Bitner (2003), sự hài lòng và chất lượng dịch vụ về cơ bản là khác nhau về nguyên nhân và kết quả của chúng.