Văn hóa ứng xử nữ truyện Nôm bác học TK 18-19 - Nguyễn Thị Thanh Nhụy

Phân tích văn hóa ứng xử của nhân vật nữ trong truyện Nôm bác học cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19, khám phá các giá trị đạo đức, xã hội.

Chuyên ngành

Văn học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2018

93
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài

2. Lịch sử vấn đề

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu

3.2. Phạm vi nghiên cứu

4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1. Mục đích nghiên cứu

4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

5. Phương pháp nghiên cứu

6. Cấu trúc của luận văn

7. Đóng góp của đề tài

1. CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1. Một số khái niệm và thuật ngữ liên quan

1.1.1. Khái niệm văn hóa ứng xử

1.2. Văn hóa ứng xử của người Việt dưới ảnh hưởng của Đạo giáo, Phật giáo, Nho giáo

1.2.1. Văn hóa truyền thống của người Việt

1.2.2. Văn hóa ứng xử người Việt dưới sự ảnh hưởng của Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo

1.3. Khái niệm về giới

1.4. Quan điểm văn hoá về nữ giới ở Việt Nam thời trung đại

1.5. Nữ giới trong văn học viết Việt Nam thế kỷ XVIII – XIX

1.6. Khái quát về tác giả, tác phẩm

1.6.1. Phạm Thái và tác phẩm Sơ Kính Tân Trang

1.6.2. Nguyễn Du và tác phẩm Truyện Kiều

2. CHƯƠNG 2: VĂN HÓA ỨNG XỬ TRONG TÌNH YÊU CỦA NHÂN VẬT NỮ CHÍNH TRONG HAI TRUYỆN NÔM BÁC HỌC TIÊU BIỂU CUỐI TK XVIII ĐẦU THẾ KỶ XIX

2.1. Tình yêu chủ động, chân thành, mạnh mẽ

2.1.1. Tình yêu chủ động, chân thành, mạnh mẽ của nhân vật Quỳnh Thư trong Sơ kính tân trang

2.1.2. Tình yêu chủ động, chân thành, mạnh mẽ của nhân vật Thúy Kiều trong Truyện Kiều

2.2. Tình yêu thủy chung, son sắt của nhân vật nữ chính

2.2.1. Tình yêu thủy chung của Quỳnh Thư trong Sơ kính tân trang

2.2.2. Tình yêu thủy chung son sắt của nhân vật Thúy Kiều trong Truyện Kiều

3. CHƯƠNG 3: VĂN HÓA ỨNG XỬ TRONG GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI CỦA NHÂN VẬT NỮ CHÍNH TRONG HAI TRUYỆN NÔM BÁC HỌC TIÊU BIỂU CUỐI TK XVIII ĐẦU THẾ KỶ XIX

3.1. Văn hóa ứng xử đề cao chữ hiếu

3.1.1. Văn hóa ứng xử đề cao chữ hiếu của nhân vật Quỳnh Thư trong Sơ kính tân trang

3.1.2. Văn hóa ứng xử đề cao chữ hiếu của nhân vật Thúy Kiều trong Truyện Kiều

3.2. Văn hóa ứng xử đề cao chữ tâm trong ứng xử xã hội của nhân vật nữ trong truyện nôm bác học

3.2.1. Văn hóa ứng xử đề cao chữ tâm trong các mối quan hệ xã hội của nhân vật Quỳnh Thư trong Sơ kính tân trang

3.2.2. Văn hóa ứng xử đề cao chữ tâm trong các mối quan hệ xã hội của nhân vật Thúy Kiều trong Truyện Kiều

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Văn Hóa Ứng Xử Nhân Vật Nữ Truyện Nôm Giới Thiệu Chung 55 ký tự

Văn hóa luôn là lĩnh vực được quan tâm hàng đầu, biểu hiện sức sống và vị thế của dân tộc. Trong đó, văn hóa ứng xử đóng vai trò quan trọng, tạo nên các mối quan hệ tốt đẹp trong cộng đồng. Tuy nhiên, do biến động xã hội, văn hóa ứng xử đang bị xem nhẹ. Nghiên cứu văn hóa ứng xử trong văn hóa truyền thống là cách ôn cố tri tân, học hỏi những nét ứng xử của cổ nhân, lưu giữ và phát huy lối ứng xử tinh tế, loại bỏ lối ứng xử thiếu văn hóa. Con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội, và văn hóa ứng xử thể hiện bản chất con người. Trong lịch sử phát triển của văn học dân tộc, truyện Nôm, đặc biệt là truyện Nôm Bác học, chiếm vị trí vô cùng quan trọng. Truyện Nôm bác học phát triển nở rộ vào cuối thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX, với các tác phẩm tiêu biểu như Sơ Kính Tân TrangTruyện Kiều. Văn hóa ứng xử của các nhân vật nữ trong truyện Nôm bác học mang đặc điểm chung của văn hóa ứng xử truyền thống Việt Nam, vừa có nét riêng độc đáo của từng nhân vật, từng tác phẩm. Việc nhìn nhận và đánh giá nó trong sự phát triển thể loại truyện Nôm, qua hệ thống các nhân vật nữ trong một số truyện Nôm bác học tiêu biểu, trong tổng thể văn hóa dân tộc là vấn đề cần được đặt ra. Nghiên cứu này hi vọng có thể góp thêm một góc nhìn mới trong việc học tập và nghiên cứu một số tác phẩm truyện Nôm bác học tiêu biểu cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX. Mỗi quốc gia, dân tộc trên thế giới, văn hóa luôn là một trong lĩnh vực được quan tâm hàng đầu. Bởi, văn hóa biểu hiện sức sống, sức sáng tạo, sức mạnh tiềm tàng và vị thế, tầm vóc dân tộc. Một trong những yếu tố của lĩnh vực văn hóa đó là văn hóa ứng xử. Văn hoá ứng xử của người Việt đã được hình thành, vận động và biến đổi trong suốt thời gian 4000 năm dựng nước và giữ nước. Nét đẹp trong văn hoá ứng xử được cha ông ta lưu truyền lại từ đời này sang đời khác. Ngày nay, mặc dù xã hội đã có nhiều thay đổi nhưng văn hóa ứng xử vẫn giữ vai trò đặc biết quan trọng. Nó tạo nên các mối quan hệ tốt đẹp có văn hóa, có đạo đức trong cộng đồng dân cư, trong tình bạn, trong tình yêu, trong gia đình, …

1.1. Tầm quan trọng của văn hóa ứng xử truyền thống

Văn hóa ứng xử được xem nhẹ, có biểu hiện sa sút. Một số thành phần trong xã hội có lối sống, lối suy nghĩ, ứng xử thiếu văn hóa đi ngược lại truyền thống văn hóa và bản sắc văn hóa tốt đẹp của người Việt. Vì vậy, nghiên cứu văn hóa ứng xử trong văn hóa truyền thống là một trong những cách “ôn cố tri tân” để có thể học tập những nét ứng xử của cổ nhân. Từ đó, lưu giữ và phát huy lối ứng xử tinh tế của cha ông từ ngàn xưa và loại bỏ lối ứng xử thiếu văn hóa. Con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội và văn hóa ứng xử thể hiện bản chất con người.

1.2. Vị trí của truyện Nôm Bác học trong văn học Việt Nam

Trong lịch sử phát triển của văn học dân tộc, truyện Nôm – đặc biệt là truyện Nôm bác học – chiếm một vị trí vô cùng quan trọng. Nó đánh dấu sự phát triển đến đỉnh cao của văn học quốc âm nói riêng và văn học trung đại Việt Nam nói chung. Truyện Nôm bác học phát triển nở rộ vào cuối thế kỉ XVIII – đầu thế kỉ XIX, trong đó phải kể đến những tác phẩm tiêu biểu có giá trị như Sơ kính tân trang (Phạm Thái) và Truyện Kiều (Nguyễn Du).

II. Thách Thức Quan Niệm Nho Giáo và Văn Hóa Ứng Xử Phụ Nữ 58 ký tự

Trong xã hội phong kiến, quan niệm Nho giáo về “Tam tòng”, “Tứ đức” đã ăn sâu vào tiềm thức của toàn xã hội, tạo ra áp lực buộc người phụ nữ vào những khuôn phép khắc nghiệt. Bên cạnh phần tích cực là giúp người phụ nữ tự rèn mình theo tiêu chuẩn để hướng tới cái đẹp thì “Tam tòng” đã tạo ra áp lực buộc chặt người phụ nữ vào những khuôn phép khắc nghiệt, khiến họ phải chịu nhiều khổ đau, bất hạnh. Ở Việt Nam, thuyết tam tòng, tứ đức được pháp luật phong kiến Việt Nam thừa nhận và đề cao giai cấp phong kiến đã sử dụng quyền chuyên chính để đe dọa và trừng trị những người phụ nữ muốn thoát ra khỏi vòng trói buộc của chế độ tông pháp và lễ giáo Nho giáo. Họ không chỉ chịu sự đàm tiếu của dư luận mà còn phải chịu những hình phạt hà khắc như đánh bằng gậy, thích vào mặt, lưu đày, tử hình. Bên cạnh đó, thuyết tam tòng, tứ đức được xây dựng theo xu hướng Nho giáo hóa và thể hiện dưới hình thức gia huấn ca, hương ước làng xã Việt Nam và văn học dân gian tiêu biểu là ca dao, tục ngữ, dân ca nhằm giáo dục đạo đức cho người phụ nữ. Thậm chí, vẻ đẹp cũng bị chối từ, những tài năng, khát vọng hạnh phúc, tình yêu, nhu cầu bản năng bị chà đạp, khước từ. Không được nâng niu trân trọng và sống thật với chính mình, người phụ nữ thường rơi vào bi kịch khổ đau. Quan điểm về “Tam tòng”, “Tứ đức”, quan niệm về trinh tiết, về vẻ đẹp ngoại hình, về đời sống bản năng của người phụ nữ là những quan điểm tiêu biểu mang đặc trưng này. ",trong GIA HUẤN CA, Nguyễn Trãi cũng khuyên con gái:“Hình dung đừng ve vuốt ngắm trông.Một vừa hai phải thì xong.”Theo quan niệm truyền thống, vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam thể hiện ở "duyên ngầm", ở cách đi đứng nói năng “ra thưa vào gửi”, không được nói to, đi mạnh, không được nói trước khi chưa ai hỏi.

2.1. Ảnh hưởng của Tam tòng Tứ đức tới phụ nữ

Tuân theo “Tứ đức”, người phụ nữ bị kìm hãm trong không gian gia đình, không có điều kiện hoạt động trong không gian xã hội. Họ chỉ được khen ngợi khi là người nội trợ khéo, là dâu thảo, vợ hiền nhưng không được khuyến khích phát triển tài năng. Tài năng hay vẻ đẹp đều không được công nhận, trở thành một tai họa, không được trân trọng. Không được nâng niu trân trọng và sống thật với chính mình, người phụ nữ thường rơi vào bi kịch khổ đau.

2.2. Văn học phản ánh bi kịch của người phụ nữ

Những người phụ nữ trong xã hội phong kiến thường không được làm chủ cuộc đời mình, không được sống theo cách mình mong muốn mà luôn bị sự chi phối của hàng loạt những quy tắc, chuẩn mực đạo đức được áp đặt ăn sâu bám rễ trong nhận thức của con người thời đại ấy. Xã hội phong kiến luôn yêu cầu rất nhiều ở người phụ nữ nhưng lại chẳng cho người phụ nữ một thứ quyền lợi nào xứng đáng với những yêu cầu ấy.

III. Giải Pháp Tình Yêu Tự Do Tiếng Nói Cá Nhân Mạnh Mẽ 59 ký tự

Trong bối cảnh đó, Sơ Kính Tân TrangTruyện Kiều là số ít tác phẩm nêu cao khát vọng yêu đương, khát vọng hạnh phúc cá nhân. Những cô gái như Quỳnh Thư, Thúy Kiều đã vượt ra ngoài lễ giáo phong kiến khi dám thể hiện cảm xúc, dám đi theo tiếng gọi của tình yêu tự do – một điều rất mới mẻ mang tính chất bứt phá, đi ngược với quy chuẩn thời bấy giờ của xã hội phong kiến. Quan niệm về tam tòng tứ đức, trinh tiết hay quan niệm về tình yêu hôn nhân một cách cứng nhắc đều bị gạt bỏ, thay thế vào đó là con người sống theo bản năng tự nhiên nhất. Đây là quan niệm mới mẻ đáng ghi nhận trong tiến trình phát triển của văn học trung đại Việt Nam. Tình yêu tự do luôn mang màu sắc tự do, phóng túng. Những con người trẻ tuổi trong tác phẩm đã chạy theo tiếng gọi của cảm xúc, của trái tim, bất chấp những khuôn khổ chật hẹp của lễ giáo phong kiến. Cách ứng xử trước tình yêu của nhân vật Quỳnh Thư mang theo một khát khao của cả một thời đại, khát khao được yêu, được sống đúng với cảm xúc của bản thân. Nàng mạnh mẽ, kiên quyết sống hết lòng vì mối tình son sắt đó, có thể thấy đó là hành động táo bạo chưa từng có ở nữ nhi thời đại đó.

3.1. Quỳnh Thư Biểu tượng tình yêu tự do trong truyện Nôm

Nếu xã hội tuổi trẻ và tình yêu trong Truyện Hoa tiên của Nguyễn Huy Tự còn vướng víu về sự ràng buộc bởi ý thức hệ phong kiến trong tình yêu và hôn nhân, thì phải nói xã hội tuổi trẻ và tình yêu trong cuốn tự truyện của Phạm Thái là hoàn toàn cởi mở và phóng khoáng, đắm say mà không buông tuồng, réo rắt véo von như điệu thơ nốt nhạc. Trong xã hội phong kiến, ngay cả công chúa cũng không thể tự mình vượt quyền cha mẹ mà nhận lời thề nguyền, hẹn ước hay lấy người mình yêu thương. Thế nhưng Quỳnh Thư, chỉ mới đọc thư Phạm Kim đã tự nhủ “Người phong lưu phải phong lưu đãi người”. Đó là ý tưởng tự nguyện, là ước mơ, là nỗi lòng của giai nhân đã gặp tài tử.

3.2. Thúy Kiều Vượt lễ giáo theo đuổi hạnh phúc

Trong câu chuyện tình yêu với Kim Trọng, Kiều là người luôn luôn chủ động. Bắt đầu từ giây phút ban đầu lưu luyến “ngàn năm đâu dễ mấy ai quên” Kiều đã chủ động: Kiều nhìn thấy Kim Trọng từ xa và đến khi rõ mặt thì đã cảm nhận được tất cả những gì sang trọng và cao khiết tỏa ra từ con người chàng. Tình yêu đến với Kiều bất ngờ, nhẹ nhàng, nó khiến người con gái ấy “nửa tỉnh nửa mê”, buộc nàng phải “ghé” mắt trông theo. Đó là tình yêu ngay từ cái nhìn đầu tiên, thứ tình cảm đến bằng những rung động đầu đời của một thiếu nữ mới chớm tuổi xuân.

IV. Phân Tích Ứng Xử Của Kiều Trong Đêm Thề Nguyền 57 ký tự

Đêm trăng thề nguyền là kết tinh cho mối tình Kim Trọng – Thúy Kiều. Nàng hoàn toàn chủ động trong việc trao trái tim cho người khác, nàng cũng sẽ chủ động để xây đắp cho mối tình đấy, cho hạnh phúc đời mình: “Nhà lan thanh vắng một mình Ngẫm cơn hội ngộ đã dành hôm nay Thời trân thức thức sẵn bày Gót sen thoăn thoắt dạo ngay mé tường” Hành động “gót sen thoăn thoắt” đó quả thật còn làm ngơ ngác nhiều thiếu nữ ngày nay, bởi vì nó hồn nhiên, nó táo bạo quá. Và hành động “ xăm xăm băng lối vườn khuya một mình” là minh chứng rõ nét nhất cho sự táo bạo, chủ động trong lòng Kiều. Trong xã hội bấy giờ, hành động tự tình của Thúy Kiều và Kim Trọng trong đêm trăng thề hẹn đó là điều cấm kị. Thế nhưng, trong quan niệm nhân văn về con người đó lại là vấn đề rất đẹp, rất nhân văn khi con người, đặc biệt là người phụ nữ được sống thật là mình.

4.1. Hành động Gót sen thoăn thoắt Sự táo bạo của Kiều

Hành động “gót sen thoăn thoắt” đó quả thật còn làm ngơ ngác nhiều thiếu nữ ngày nay như Hoài Thanh nói, bởi vì nó hồn nhiên, nó táo bạo quá.Và hành động “ xăm xăm băng lối vườn khuya một mình” là minh chứng rõ nét nhất cho sự táo bạo, chủ động trong lòng Kiều.Nhà nho nghiêm khắc sẽ nhìn một hành vi như thế với con mắt nào? Đạo đức lễ giáo sẽ nói thế nào trước một hành động cảm tính như thế ?

4.2. Đêm thề nguyền Khoảnh khắc sống thật với chính mình

Chế độ phong kiến không cho phép con người có được tình cảm yêu đương mãnh liệt như vậy, đó là quyền của chế độ phong kiến, nhưng cuộc sống lại có quy luật riêng của nó, và con người lại có cách ứng xử của riêng mình. Nàng có một trái tim sôi nổi, mãnh liệt không dung nổi trong khuôn khổ chật hẹp của chế độ đó, và điều đó chi phối cách ứng xử với tình yêu. Sự táo bạo của nàng không phải để thách thức với chế độ, lễ giáo hà khắc, mà để xây dựng cho mối tình thêm đằm thắm vững chắc. Xét cho cùng, nàng đi theo tiếng gọi của con tim, và cách hành xử đó là phút Kiều sống thật với lòng mình nhất.

V. Đánh Giá Giá Trị Nhân Văn và Cái Nhìn Cởi Mở Về Giới 58 ký tự

Với những phân tích trên, có thể thấy, văn hóa ứng xử của các nhân vật nữ trong Truyện Nôm Bác học TK 18-19, tiêu biểu như Quỳnh Thư và Thúy Kiều, đã thể hiện tinh thần nhân văn cao cả, dám đi ngược lại những giá trị truyền thống để theo đuổi tình yêu tự do và hạnh phúc cá nhân. Các tác giả đã thể hiện cái nhìn cởi mở về giới và trân trọng những khát vọng bản năng của con người, góp phần vào sự phát triển của văn học Việt Nam.

5.1. Tinh thần nhân văn trong văn học trung đại

Việc đề cao cái đẹp nội dung đạt đến "chuẩn mực" của người phụ nữ phải là sự cam chịu, an phận, không được phản kháng.Điều này ảnh hưởng sâu sắc tới các nhà văn nhà thơ trung đại, hình mẫu người phụ nữ được ca ngợi trong văn học là mẫu phụ nữ tuân thủ mọi quy tắc ứng xử, hành động ngôn ngữ đều có lễ nghi, phép tắc, những người phụ nữ phản diện là người đi ngược mọi phép tắc đó.

5.2. Cái nhìn cởi mở về giới và giá trị bản năng

Khi quan niệm trung đại hạn chế và coi thường tính dục cũng như đời sống bản năng của người phụ nữ, những hành động thể hiện tình yêu với đối phương của người phụ nữ bị đánh giá là tà dâm, thất lễ thì Quỳnh Thư lại tự do thể hiện tình cảm với đối phương, gạt bỏ mọi quy chuẩn khắt khe về giới. Sắc đẹp là thứ để tôn vinh ngắm nhìn, và tình yêu là thứ phải thể hiện để người mình yêu biết.

02/10/2025
Luận văn thạc sĩ văn hóa ứng xử của các nhân vật nữ trong truyện nôm bác học cuối thế kỷ xviii đầu thế kỷ xix

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Một số khái niệm và thuật ngữ liên quan. Khái niệm văn hóa Văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra bằng lao động và hoạt động thực tiễn trong quá trình lịch sử của mình, biểu hiện trình độ phát triển xã hội trong từng thời kỳ lịch sử nhất định. Khi nghiên cứu quy luật vận động và phát triển của xã hội loài người, C.Ăngghen đã khái quát các hoạt động của xã hội thành hai loại hình hoạt động cơ bản là "sản xuất vật chất" và "sản xuất tinh thần".

Do đó, văn hóa bao gồm cả văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần. Văn hóa vật chất là năng lực sáng tạo của con người được thể hiện và kết tinh trong sản phẩm vật chất. Văn hóa tinh thần là tổng thể các tư tưởng, lý luận và giá trị được sáng tạo ra trong đời sống tinh thần và hoạt động tinh thần của con người. Đó là những giá trị cần thiết cho hoạt động tinh thần, những tiêu chí, nguyên tắc chi phối hoạt động nói chung và hoạt động tinh thần nói riêng, chi phối hoạt động ứng xử, những tri thức, kỹ năng, giá trị khoa học, nghệ thuật được con người sáng tạo và tích lũy trong lịch sử của mình; là nhu cầu tinh thần, thị hiếu của con người và những phương thức thỏa mãn nhu cầu đó.

Với vai trò vô cùng quan trọng, văn hóa đã và đang được toàn xã hội quan tâm và nó đã trở thành một trong những đối tượng nghiên cứu chính của khoa học nhân văn. Khái niệm văn hóa là một trong những khái niệm đã tạo nên sự tranh luận hết sức phong phú. Khái niệm văn hóa khởi nguồn từ thế kỉ XIX trong cuốn sách Văn hóa nguyên thủy (1871) của E. Trong cuốn sách này, ông xác định văn hóa là “một toàn thể phức tạp bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, luân lý, luật pháp, phong tục và tất thảy những năng lực khác mà con người hoạt động với tư cách là thành viên của xã hội.14] download by : skknchat@gmail.com 8 Có nhiều cách phân loại định nghĩa về văn hóa.

Thứ nhất là phân loại theo các nhóm: về mặt thuật ngữ khoa học, các định nghĩa miêu tả, các định nghĩa lịch sử, các định nghĩa chuẩn mực, các định nghĩa tâm lý học, các định nghĩa cấu trúc và các định nghĩa nguồn gốc. Thứ hai là phân loại theo các hướng chính: hướng định nghĩa xã hội học văn hóa, hướng định nghĩa tâm lý học văn hóa, hướng chịu ảnh hưởng của thuyết thông tin và thuyết giá trị, hướng đồng nhất văn hóa với cấu trúc và biểu trưng. Tuy nhiên, những cách phân loại và những hướng nghiên cứu định nghĩa văn hóa như trên có những ưu điểm và hạn chế riêng của nó và chúng tôi cảm thấy hài lòng với định nghĩa về văn hóa mà UNESCO đưa ra: “Văn hóa là tổng hợp các hệ thống bao gồm các mặt tình cảm, tri thức, vật chất, tinh thần của xã hội. Văn hóa không thuần túy bó hẹp trong hoạt động sáng tạo nghệ thuật mà còn bao hàm cả phương thức sống, những quyền cơ bản của con người, truyền thống, tín ngưỡng” [25, tr.

Đây là định nghĩa mang tính tổng quát, nó nhấn mạnh đến tính riêng biệt của mỗi nền văn hóa nhưng vẫn đảm bảo mang đầy đủ nội hàm định nghĩa về văn hóa. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng dành sự quan tâm lớn của mình đối với văn hóa. Năm 1942, Người đã đưa ra định nghĩa về văn hóa: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích về cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hàng ngày, ăn, mặc, ở cũng như các phương thức sử dụng. Toàn bộ sáng tạo và phát minh tức là văn hóa.

Văn hóa là tổng thể của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã phải sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống mà đòi hỏi của sự sinh tồn” [28, tr. Trong định nghĩa này, Hồ Chí Minh đã xem văn hóa là toàn bộ các hoạt động diễn ra trong đời sống cộng đồng. Nó thể hiện bản sắc dân tộc Việt. Đây là một định nghĩa rộng và mang tính khái quát cao.

Như vậy, từ các khái niệm trên, chúng ta có thể hiểu văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội. Song, chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người, duy trì sự bền vững và trật tự xã hội. Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa. Nó được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội của download by : skknchat@gmail.com 9 con người.

Văn hóa là trình độ phát triển của con người và của xã hội được biểu hiện trong các kiểu, các hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần mà do con người tạo ra. Khái niệm văn hóa ứng xử Ứng xử là từ ghép gồm “ ứng” và “ xử”. “ Ứng” là ứng đối nghĩa là lấy cái đẹp để giáo hóa con người. Sau đó xuất hiện nhiều định nghĩa văn hóa khác nhau: Theo E.Henriotte, “ứng” là ứng phó, “Xử” là xử thế, xử lí, xử sự.

Ứng xử là phản ứng của con người đối với sự tác động của người khác đến mình trong một tình huống cụ thể nhất định. Ứng xử là phản ứng có lựa chọn tính toán, là cách nói năng tuỳ thuộc vào tri thức, kinh nghiệm và nhân cách của mỗi người nhằm đạt kết quả cao nhất trong giao tiếp. Tác giả Phạm Thế Hùng đã phân tích rất rõ: “Cách ứng xử của người Việt Nam chúng ta khác với người Châu Âu. Người Việt Nam chúng ta ứng xử duy tình (nặng về tình cảm).

Một trăm cái lí không bằng một tí cái tình. Đó là đặc trưng của nền văn minh nông nghiệp lúa nước, làng nghề thôn dã” [41. Họ trọng tình anh em, họ hàng, tình làng nghĩa xóm. Xem bữa cơm gia đình như để cởi mở, thân thiện.Từ xa xưa, người Việt luôn coi trọng văn hóa ứng xử bởi nó thể hiện trình độ văn hóa, văn minh.

Hành vi ứng xử của mỗi người được biểu hiện qua lối sống, nếp nghĩ, cách xử lý trước những vấn đề trong cuộc sống. Đó là cách con người đối xử với bản thân, với xã hội, cộng đồng xung quanh. Mỗi cá nhân đều sử dụng lăng kính chủ quan của mình để nhìn nhận thực tế và đưa ra hành vi ứng xử được cho là phù hợp đúng đắn nhất. Tuy nhiên, ứng xử đó có văn hóa hay không lại là một vấn đề khác, nó đòi hỏi sự rèn luyện, học tập, trải nghiệm và trưởng thành của mỗi cá nhân trong xã hội.

Hành vi ứng xử văn hóa được coi là các giá trị văn hóa, đạo đức, thẩm mỹ của mỗi cá nhân được thể hiện thông qua thái độ, hành vi, cử chỉ, lời nói của mỗi cá nhân đó. Chính vì tầm quan trọng của nó, văn hóa ứng xử được rất nhiều các nhà nghiên cứu quan tâm. Mỗi người lại đưa ra những cách định nghĩa và cách hiểu về văn hóa ứng xử. Theo Đỗ Long trong cuốn Tâm lý học văn hóa ứng xử, ông cho rằng: “Văn hóa ứng xử là một hệ thống thái độ hành vi được xác định để xử lý các mối quan hệ giữa download by : skknchat@gmail.com 10 người với người trên các căn cứ pháp luật đạo lý nhằm thúc đẩy nhanh sự phát triển của cộng đồng người, của xã hội” [31, tr.

Còn Trần Thùy Anh thì cho rằng: “Văn hóa ứng xử là toàn bộ những tín điều, truyền thống,…hướng dẫn hành xử mà cá nhân trong xã hội được xã hội đó trao truyền bằng nhiều hình thức học tập” [32, tr. Như vậy, văn hóa ứng xử là khía cạnh giá trị mang yếu tố tích cực, được chắt lọc thành các kinh nghiệm, quy tắc xã hội, chuẩn mực đạo đức thể hiện ở các tình huống ứng xử văn hóa trong đời sống của một cồng đồng, dân tộc. Văn hóa ứng xử của người Việt dưới ảnh hưởng của Đạo giáo, Phật giáo, Nho giáo. Văn hóa truyền thống của người Việt Trong cuộc sống hàng ngày, người Việt luôn đề cao vai trò của văn hóa ứng xử.

Người Việt sống thiên về tình hơn về lý vì vậy ứng xử của người Việt hay người phương Đông nói chung khác với người phương Tây. Truyền thống văn hóa của người Việt trước hết thể hiện ở tinh thần yêu nước nồng nàn. Tinh thần đó thấm nhuần và trở thành chuẩn mực đạo đức của cả dân tộc.Lịch sử dựng nước và giữu nước hào hùng đã trở thành minh chứng rõ nét nhất cho truyền thống đó. Ý thức dựng nước và giữ nước ấy lại được nảy sinh và phát triển trong cái khung xã hội Việt Nam cổ truyền, đó là Nhà – Làng – Nước, trên nền kinh tế - xã hội: nông dân – nông thôn – nông nghiệp.

Trong cái khung đó, người Việt thể hiện được sự văn hóa trong cách ứng xử. Yêu nước chính là tín nghĩa đầu tiên của một người con đất Việt, được truyền từ đời này sang đời khác, và trở thành thước đo đạo đức. Yêu nước như một thứ tín ngưỡng, mà mỗi đứa trẻ sinh ra, điều đầu tiên được giáo dục đó là ái quốc. Truyền thống quý báu đó bám rễ trong tiềm thức của người Việt bắt nguồn từ gia đình quê hương và mở rộng ra cả dân tộc, đất nước.

Từ đó, hình thành một lối ứng xử theo kiểu “thân tộc hóa” các quan hệ xã hội. Văn hóa ứng xử của người Việt cũng thể hiện rõ ở tính cộng đồng, ở văn hóa làng xã. Họ đề cao tập thể, coi trọng những mỗi quan hệ họ hàng, làng xã, mối quan hệ đó khăng khít bền vững và xây dựng theo quy ước chung. Ở Phương Tây, các gia đình sống download by : skknchat@gmail.com 11 gần nhau cũng có quan hệ với nhau, nhưng quan hệ lỏng lẻo, chỉ mang tính chất xã giao.

Họ đề cao cá nhân hơn tập thể. Còn ở Việt Nam thì khác: “Thứ nhất để đối phó với môi trường tự nhiên, đáp ứng nhu cầu cần đông người của nghề trồng lúa nước mang tính thời vụ, người dân Việt Nam truyền thống không chỉ đẻ nhiều mà còn làm đổi công với nhau. Thứ hai, để đối phó với môi trường xã hội (nạn trộm cướp…), cả làng phải hợp sức mới có hiệu quả.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ