CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Một số khái niệm và thuật ngữ liên quan. Khái niệm văn hóa Văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra bằng lao động và hoạt động thực tiễn trong quá trình lịch sử của mình, biểu hiện trình độ phát triển xã hội trong từng thời kỳ lịch sử nhất định. Khi nghiên cứu quy luật vận động và phát triển của xã hội loài người, C.Ăngghen đã khái quát các hoạt động của xã hội thành hai loại hình hoạt động cơ bản là "sản xuất vật chất" và "sản xuất tinh thần".
Do đó, văn hóa bao gồm cả văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần. Văn hóa vật chất là năng lực sáng tạo của con người được thể hiện và kết tinh trong sản phẩm vật chất. Văn hóa tinh thần là tổng thể các tư tưởng, lý luận và giá trị được sáng tạo ra trong đời sống tinh thần và hoạt động tinh thần của con người. Đó là những giá trị cần thiết cho hoạt động tinh thần, những tiêu chí, nguyên tắc chi phối hoạt động nói chung và hoạt động tinh thần nói riêng, chi phối hoạt động ứng xử, những tri thức, kỹ năng, giá trị khoa học, nghệ thuật được con người sáng tạo và tích lũy trong lịch sử của mình; là nhu cầu tinh thần, thị hiếu của con người và những phương thức thỏa mãn nhu cầu đó.
Với vai trò vô cùng quan trọng, văn hóa đã và đang được toàn xã hội quan tâm và nó đã trở thành một trong những đối tượng nghiên cứu chính của khoa học nhân văn. Khái niệm văn hóa là một trong những khái niệm đã tạo nên sự tranh luận hết sức phong phú. Khái niệm văn hóa khởi nguồn từ thế kỉ XIX trong cuốn sách Văn hóa nguyên thủy (1871) của E. Trong cuốn sách này, ông xác định văn hóa là “một toàn thể phức tạp bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, luân lý, luật pháp, phong tục và tất thảy những năng lực khác mà con người hoạt động với tư cách là thành viên của xã hội.14] download by : skknchat@gmail.com 8 Có nhiều cách phân loại định nghĩa về văn hóa.
Thứ nhất là phân loại theo các nhóm: về mặt thuật ngữ khoa học, các định nghĩa miêu tả, các định nghĩa lịch sử, các định nghĩa chuẩn mực, các định nghĩa tâm lý học, các định nghĩa cấu trúc và các định nghĩa nguồn gốc. Thứ hai là phân loại theo các hướng chính: hướng định nghĩa xã hội học văn hóa, hướng định nghĩa tâm lý học văn hóa, hướng chịu ảnh hưởng của thuyết thông tin và thuyết giá trị, hướng đồng nhất văn hóa với cấu trúc và biểu trưng. Tuy nhiên, những cách phân loại và những hướng nghiên cứu định nghĩa văn hóa như trên có những ưu điểm và hạn chế riêng của nó và chúng tôi cảm thấy hài lòng với định nghĩa về văn hóa mà UNESCO đưa ra: “Văn hóa là tổng hợp các hệ thống bao gồm các mặt tình cảm, tri thức, vật chất, tinh thần của xã hội. Văn hóa không thuần túy bó hẹp trong hoạt động sáng tạo nghệ thuật mà còn bao hàm cả phương thức sống, những quyền cơ bản của con người, truyền thống, tín ngưỡng” [25, tr.
Đây là định nghĩa mang tính tổng quát, nó nhấn mạnh đến tính riêng biệt của mỗi nền văn hóa nhưng vẫn đảm bảo mang đầy đủ nội hàm định nghĩa về văn hóa. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng dành sự quan tâm lớn của mình đối với văn hóa. Năm 1942, Người đã đưa ra định nghĩa về văn hóa: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích về cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hàng ngày, ăn, mặc, ở cũng như các phương thức sử dụng. Toàn bộ sáng tạo và phát minh tức là văn hóa.
Văn hóa là tổng thể của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã phải sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống mà đòi hỏi của sự sinh tồn” [28, tr. Trong định nghĩa này, Hồ Chí Minh đã xem văn hóa là toàn bộ các hoạt động diễn ra trong đời sống cộng đồng. Nó thể hiện bản sắc dân tộc Việt. Đây là một định nghĩa rộng và mang tính khái quát cao.
Như vậy, từ các khái niệm trên, chúng ta có thể hiểu văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội. Song, chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người, duy trì sự bền vững và trật tự xã hội. Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa. Nó được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội của download by : skknchat@gmail.com 9 con người.
Văn hóa là trình độ phát triển của con người và của xã hội được biểu hiện trong các kiểu, các hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần mà do con người tạo ra. Khái niệm văn hóa ứng xử Ứng xử là từ ghép gồm “ ứng” và “ xử”. “ Ứng” là ứng đối nghĩa là lấy cái đẹp để giáo hóa con người. Sau đó xuất hiện nhiều định nghĩa văn hóa khác nhau: Theo E.Henriotte, “ứng” là ứng phó, “Xử” là xử thế, xử lí, xử sự.
Ứng xử là phản ứng của con người đối với sự tác động của người khác đến mình trong một tình huống cụ thể nhất định. Ứng xử là phản ứng có lựa chọn tính toán, là cách nói năng tuỳ thuộc vào tri thức, kinh nghiệm và nhân cách của mỗi người nhằm đạt kết quả cao nhất trong giao tiếp. Tác giả Phạm Thế Hùng đã phân tích rất rõ: “Cách ứng xử của người Việt Nam chúng ta khác với người Châu Âu. Người Việt Nam chúng ta ứng xử duy tình (nặng về tình cảm).
Một trăm cái lí không bằng một tí cái tình. Đó là đặc trưng của nền văn minh nông nghiệp lúa nước, làng nghề thôn dã” [41. Họ trọng tình anh em, họ hàng, tình làng nghĩa xóm. Xem bữa cơm gia đình như để cởi mở, thân thiện.Từ xa xưa, người Việt luôn coi trọng văn hóa ứng xử bởi nó thể hiện trình độ văn hóa, văn minh.
Hành vi ứng xử của mỗi người được biểu hiện qua lối sống, nếp nghĩ, cách xử lý trước những vấn đề trong cuộc sống. Đó là cách con người đối xử với bản thân, với xã hội, cộng đồng xung quanh. Mỗi cá nhân đều sử dụng lăng kính chủ quan của mình để nhìn nhận thực tế và đưa ra hành vi ứng xử được cho là phù hợp đúng đắn nhất. Tuy nhiên, ứng xử đó có văn hóa hay không lại là một vấn đề khác, nó đòi hỏi sự rèn luyện, học tập, trải nghiệm và trưởng thành của mỗi cá nhân trong xã hội.
Hành vi ứng xử văn hóa được coi là các giá trị văn hóa, đạo đức, thẩm mỹ của mỗi cá nhân được thể hiện thông qua thái độ, hành vi, cử chỉ, lời nói của mỗi cá nhân đó. Chính vì tầm quan trọng của nó, văn hóa ứng xử được rất nhiều các nhà nghiên cứu quan tâm. Mỗi người lại đưa ra những cách định nghĩa và cách hiểu về văn hóa ứng xử. Theo Đỗ Long trong cuốn Tâm lý học văn hóa ứng xử, ông cho rằng: “Văn hóa ứng xử là một hệ thống thái độ hành vi được xác định để xử lý các mối quan hệ giữa download by : skknchat@gmail.com 10 người với người trên các căn cứ pháp luật đạo lý nhằm thúc đẩy nhanh sự phát triển của cộng đồng người, của xã hội” [31, tr.
Còn Trần Thùy Anh thì cho rằng: “Văn hóa ứng xử là toàn bộ những tín điều, truyền thống,…hướng dẫn hành xử mà cá nhân trong xã hội được xã hội đó trao truyền bằng nhiều hình thức học tập” [32, tr. Như vậy, văn hóa ứng xử là khía cạnh giá trị mang yếu tố tích cực, được chắt lọc thành các kinh nghiệm, quy tắc xã hội, chuẩn mực đạo đức thể hiện ở các tình huống ứng xử văn hóa trong đời sống của một cồng đồng, dân tộc. Văn hóa ứng xử của người Việt dưới ảnh hưởng của Đạo giáo, Phật giáo, Nho giáo. Văn hóa truyền thống của người Việt Trong cuộc sống hàng ngày, người Việt luôn đề cao vai trò của văn hóa ứng xử.
Người Việt sống thiên về tình hơn về lý vì vậy ứng xử của người Việt hay người phương Đông nói chung khác với người phương Tây. Truyền thống văn hóa của người Việt trước hết thể hiện ở tinh thần yêu nước nồng nàn. Tinh thần đó thấm nhuần và trở thành chuẩn mực đạo đức của cả dân tộc.Lịch sử dựng nước và giữu nước hào hùng đã trở thành minh chứng rõ nét nhất cho truyền thống đó. Ý thức dựng nước và giữ nước ấy lại được nảy sinh và phát triển trong cái khung xã hội Việt Nam cổ truyền, đó là Nhà – Làng – Nước, trên nền kinh tế - xã hội: nông dân – nông thôn – nông nghiệp.
Trong cái khung đó, người Việt thể hiện được sự văn hóa trong cách ứng xử. Yêu nước chính là tín nghĩa đầu tiên của một người con đất Việt, được truyền từ đời này sang đời khác, và trở thành thước đo đạo đức. Yêu nước như một thứ tín ngưỡng, mà mỗi đứa trẻ sinh ra, điều đầu tiên được giáo dục đó là ái quốc. Truyền thống quý báu đó bám rễ trong tiềm thức của người Việt bắt nguồn từ gia đình quê hương và mở rộng ra cả dân tộc, đất nước.
Từ đó, hình thành một lối ứng xử theo kiểu “thân tộc hóa” các quan hệ xã hội. Văn hóa ứng xử của người Việt cũng thể hiện rõ ở tính cộng đồng, ở văn hóa làng xã. Họ đề cao tập thể, coi trọng những mỗi quan hệ họ hàng, làng xã, mối quan hệ đó khăng khít bền vững và xây dựng theo quy ước chung. Ở Phương Tây, các gia đình sống download by : skknchat@gmail.com 11 gần nhau cũng có quan hệ với nhau, nhưng quan hệ lỏng lẻo, chỉ mang tính chất xã giao.
Họ đề cao cá nhân hơn tập thể. Còn ở Việt Nam thì khác: “Thứ nhất để đối phó với môi trường tự nhiên, đáp ứng nhu cầu cần đông người của nghề trồng lúa nước mang tính thời vụ, người dân Việt Nam truyền thống không chỉ đẻ nhiều mà còn làm đổi công với nhau. Thứ hai, để đối phó với môi trường xã hội (nạn trộm cướp…), cả làng phải hợp sức mới có hiệu quả.