phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Nội dung của Luận văn gồm ba chƣơng: Chƣơng 1: Những vấn đề về văn hóa, văn hóa Nam Bộ và nhà văn Phi Vân (Trang 16). Chúng tôi khái lƣợc lý thuyết văn hóa, bao gồm khái niệm về văn hóa, mối quan hệ giữa văn hóa và văn học, đặc điểm của văn hóa Nam Bộ. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng trình bày tóm lƣợc cuộc đời, sự nghiệp và quan niệm nghệ thuật của Phi Vân. Đây là cơ sở cho việc nghiên cứu những đặc trƣng của văn hóa Nam Bộ trong tác phẩm Phi Vân ở các chƣơng tiếp theo.
Chƣơng 2: Văn hóa Nam Bộ qua cảnh và ngƣời trong tác phẩm Đồng quê, Dân quê và Tình quê của Phi Vân qua phƣơng thức sinh hoạt văn hóa và ngƣời nông dân Nam Bộ trong tác phẩm của Phi Vân. Luận văn hƣớng đến một số phƣơng diện nổi bật của cảnh và ngƣời Nam Bộ dƣới góc nhìn văn hóa trong Đồng quê, Dân quê và Tình quê nhƣ văn hóa ứng xử, văn hóa sinh hoạt và con ngƣời, thiên nhiên, phong tục tập quán lối sống, tình yêu của ngƣời nông dân Nam Bộ (Trang 30). Chƣơng 3: Văn hóa Nam Bộ qua nghệ thuật sáng tác của Phi Vân. Chúng tôi hƣớng đến một số phƣơng diện nổi bật của nghệ thuật sáng tác của Phi Vân nhƣ nghệ thuật xây dựng kết cấu, nghệ thuật trần thuật, nghệ thuật xây dựng ngôn từ (Trang 64).
9 CHƢƠNG 1 VĂN HÓA NAM BỘ VÀ NHÀ VĂN PHI VÂN 1.1 Văn hóa Nam Bộ trong dòng chảy lịch sử dân tộc 1.1 Lịch sử văn hóa Nam Bộ Trong đời sống tự nhiên và xã hội của con ngƣời, văn hóa tồn tại dƣới nhiều hình thức khác nhau. Vì thế, định nghĩa văn hóa là không dễ dàng mặc dù đã có rất nhiều định nghĩa về văn hóa. Đó là vì khái niệm văn hóa đƣợc dùng trong nhiều lĩnh vực xã hội và đƣợc sử dụng với những nội hàm không giống nhau. Ví dụ, văn hóa dùng dể chỉ trình độ học vấn; văn hóa để chỉ một lối sống, cách ứng xử trong giao tiếp giữa cá nhân với cộng đồng xã hội, giữa cá nhân với môi trƣờng tự nhiên.
Có thể hiểu theo nghĩa chuyên biệt văn hóa để chỉ những thành tựu của con ngƣời về vật chất và tinh thần ví dụ “văn hóa Đông Sơn”, “văn hóa Sa Huỳnh”. Văn hóa là một lĩnh vực rất rộng lớn, vô cùng phong phú và đa dạng, có mặt thấm sâu trong toàn bộ đời sống xã hội và đời sống con ngƣời, vì thế có rất nhiều định nghĩa, cách hiểu cũng nhƣ cách khai thác khác nhau về văn hóa. Trong quá trình đi tìm định nghĩa và nội hàm của văn hóa, đã có những tìm tòi khoa học có giá trị sâu sắc, tiếp sức nhau đạt tới những nhận thức ngày càng hoàn chỉnh hơn của con ngƣời về một lĩnh vực rất độc đáo do chính con ngƣời và chỉ có con ngƣời sáng tạo nên. Khi đặt văn hóa trong một giai đoạn cụ thể của đời sống xã hội và nhìn đời sống ấy trên nhiều lĩnh vực khác nhau, có quan hệ chặt chẽ với nhau thì văn hóa, hiểu theo nghĩa cụ thể và các quan hệ cụ thể, là một trong các lĩnh vực chính, giữ vị trí rất quan trọng, cùng với chính trị, kinh tế và xã hội tạo nên diện mạo, trình độ, chất lƣợng và đặc điểm xã hội trong một giai đoạn phát triển nhất định.
Nghị quyết Trung ƣơng V của Đại hội Đảng khóa VIII nhấn mạnh thêm văn hóa còn bao hàm cả giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ, văn học, nghệ thuật và cả công tác tƣ tƣởng cũng đƣợc xem là một bộ phận quan trọng của toàn bộ hoạt động văn hóa. 10 Theo cách hiểu hạn hẹp hơn và đƣợc sử dụng thông thƣờng và khá phổ biến, khi tách giáo dục, khoa học ra thành các lĩnh vực, các ngành có đặc trƣng riêng, văn hóa còn đƣợc coi chủ yếu là các loại hình hoạt động cụ thể của ngành văn hóa nhƣ bảo tồn, bảo tàng, thƣ viện, xuất bản, báo chí, đời sống văn hóa cơ sở, lễ hội, phong tục, tập quán, tín ngƣỡng,… “và các loại hình sáng tạo văn học, nghệ thuật – một lĩnh vực đƣợc coi là nhạy cảm nhất, mang tính sáng tạo đậm đặc và là bƣớc phát triển cao của văn hóa” (Đinh Xuân Dũng, 2004). Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổng hợp những thành tố về văn hóa nhƣ sau: “Vì lẽ sinh tồn cũng nhƣ mục đích của cuộc sống, loài ngƣời mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phƣơng thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó là văn hóa.
Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phƣơng thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài ngƣời đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” (Hồ Chí Minh toàn tập, 2000). Vị trí địa lý Nam Bộ hôm nay là địa bàn thuộc lãnh thổ của các tỉnh Đồng Nai, Bình Dƣơng, Bình Phƣớc, Tây Ninh, Bà Rịa - Vũng Tàu thuộc miền Đông Nam Bộ và các tỉnh Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Đồng Tháp, Cần Thơ, Sóc Trăng, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu và Cà Mau thuộc miền Tây Nam Bộ và thành phố Hồ Chí Minh. Nói đến nền văn hóa Nam Bộ là nói đến văn hóa của các tộc ngƣời ở đây. Ngoại trừ các tộc ngƣời sống ở vùng đồng bằng miền Đông, nhƣ đã nói ở trên, các tộc ngƣời Việt, Khơme, Chăm, Hoa đều không phải là cƣ dân bản địa ở đây.
Vì thế, văn hóa của họ là văn hóa ở vùng đất mới. Gần nhƣ là một quy luật, văn hóa của lƣu dân ở vùng đất mới dù là của tộc ngƣời nào, cũng đều là sự kết hợp giữa truyền thống văn hóa trong tiềm thức, trong dòng máu và điều kiện tự nhiên, lịch sử của vùng đất mới, nó phát triển trong điều kiện cách xa vùng đất cội nguồn cả về không gian và thời gian. Bên cạnh đó, Nam Bộ là vùng văn hóa có nhiều tôn giáo tín ngƣỡng cùng đan xen tồn tại. Nói cách khác là diện mạo tôn giáo tín ngƣỡng Nam Bộ khá đa dạng và phức tạp.
Ngoài các tôn giáo lớn ở ngoài du nhập vào nhƣ Phật 11 giáo, Công giáo, Tin Lành, Hồi giáo, Nam Bộ còn là quê hƣơng của tôn giáo tín ngƣỡng địa phƣơng nhƣ Cao Đài, Hòa Hảo, nhƣ các ông đạo, các tín ngƣỡng dân gian nhƣ thờ Tổ tiên, Thổ thần, thờ Thành hoàng, thờ Mẫu, thờ Bà Chúa Xứ. Trong ứng xử với thiên nhiên, các tộc ngƣời ở Nam Bộ cũng có những nét khác biệt so với các vùng văn hóa khác. Dù là ngƣời Việt hay ngƣời Khơme, ngƣời Chăm, ngƣời Hoa v. khi tới vùng này sinh sống, họ đều đứng trƣớc một thiên nhiên vừa có phần lạ lẫm, vừa có phần huyền bí.
Ứng xử với thiên nhiên của ngƣời Việt có thể coi là thái độ tiêu biểu nhất. Khác với đồng bằng sông Hồng, Nam Bộ, dù có tới 4900 km kênh rạch, dù có hai dòng sông lớn. Dựa theo chế độ thủy triều, hệ thống thủy lợi ở Nam Bộ đƣa nƣớc ngọt từ sông lớn vào sông nhỏ, vào kênh rạch rồi lên mƣơng, lên vƣờn. Nghĩa là một thái độ ứng xử hoàn toàn khác với ở Bắc Bộ.
Thái độ ứng xử với thiên nhiên còn đƣợc thể hiện- qua việc ăn và mặc. Ngô Đức Thịnh từng nhận xét: "món ăn Nam Bộ là sản phẩm độc đáo của miền đất mới, là kết quả của sự giao tiếp với nhiều dân tộc, với các làng văn hóa Đông Tây” (Ngô Đức Thịnh, 2019). Trên hết chúng tôi nghĩ rằng, cội nguồn của vấn đề vẫn là một thái độ ứng xử với thiên nhiên. Dân cƣ từ nhiều nguồn, nhiều phƣơng trời tụ họp lại, vì thế làng Việt Nam Nam Bộ sẽ không có chất kết dính chặt chẽ, quan hệ dòng họ sẽ khác với chính nó ở đồng bằng Bắc Bộ.
Mặt khác, sự cƣ trú cúa cƣ dân Nam Bộ không thành một đơn vị biệt lập với rặng tre quanh làng nhƣ ở đồng bằng Bắc Bộ, mà cƣ trú theo tuyến, theo kiểu sinh sống dọc hai bên bờ kinh rạch, trục lộ giao thông. Tóm lại, Nam Bộ có nhiều nét riêng so với các vùng khác. Vùng đất vừa có bề dày trong diễn trình lịch sử của văn hóa Việt Nam, lại là vùng đất giàu sức trẻ của cả các tộc ngƣời ở đây. Vị thế địa chính trị, địa văn hóa của Nam Bộ khiến nó trở thành trung tâm mà quá trình tiếp biến văn hóa diễn ra nhanh chóng cả về bề mặt lẫn bề sâu, cả về lƣợng và chất, tạo cho vùng văn hóa Nam Bộ có những đặc thù riêng và trở thành một gƣơng mặt riêng khó lẫn trong diện mạo các vùng văn hóa ở nƣớc ta.
Nhƣ vậy, có thể nói văn hóa Việt Nam vốn là sự kết tinh những giá trị truyền thống tốt đẹp trong quan hệ giữa con ngƣời với con ngƣời, giữa con ngƣời với thế giới tự nhiên. Và một tác phẩm văn học có giá trị là tác phẩm văn học ấy 12 chứa đựng bên trong những giá trị đích thực về chính nền văn hóa của quê hƣơng đất nƣớc mình về phong tục và lối sống.2 Những nét đặc trƣng về văn hóa Nam Bộ Mỗi một vùng miền đều có những nét văn hóa, bản sắc rất riêng và ấn tƣợng, đã góp phần tạo nên một bức tranh văn hóa Việt Nam vô cùng đa dạng, phong phú, mang những đặc trƣng khác biệt mà không một quốc gia nào trên thế giới có đƣợc. Một trong những yếu tố tạo nên bản sắc độc đáo đó chính là đặc trƣng về văn hóa Nam Bộ. Theo nhà nghiên cứu Ngô Đức Thịnh việc phân vùng văn hóa đƣợc chia làm 7 vùng văn hóa trong đó văn hóa Nam Bộ là vùng thứ 7.
Việc phân vùng văn hóa dựa trên dựa trên mối quan hệ giữa văn hóa lịch sử và địa lý của một vùng mà gọi tắt là vùng văn hóa. Vậy “văn hóa lãnh thổ hay văn hóa vùng là một dạng thức văn hóa, mà ở đó trong một không gian địa lý xác định, các cộng đồng ngƣời do cùng sống trong một môi trƣờng tự nhiên nhất định, trong những điều kiện phát triển xã hội tƣờng đồng, và nhất là các mối quan hệ giao lƣu văn hóa sống động, nên trong quá trình lịch sử lâu dài đã hình thành những đặc trƣng văn hóa chung” (Ngô Đức Thịnh, 2019).