Tổng quan nghiên cứu

Làng Quảng Xá thuộc xã Tân Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình là một làng quê cổ thuần Việt có lịch sử khai khẩn hơn 450 năm, hình thành và phát triển từ thế kỷ XVI. Trải qua các giai đoạn biến thiên của lịch sử, diện tích tự nhiên của làng đã mở rộng từ 102 ha trước năm 1945 lên 300 ha ở giai đoạn hiện đại, trong đó diện tích đất canh tác nông nghiệp đạt 132,7 ha, chiếm tỷ trọng trọng yếu trong cơ cấu sinh kế của hơn 80% hộ dân địa phương. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn tập trung vào việc giải quyết mâu thuẫn giữa bảo tồn các giá trị di sản văn hóa truyền thống và nhu cầu đổi mới nông thôn trước áp lực của tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa.

Mục tiêu cụ thể của công trình là hệ thống hóa toàn diện các giá trị văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần, thiết chế xã hội của làng Quảng Xá từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến năm 2011; đồng thời phân tích thực trạng thực hiện phong trào xây dựng làng văn hóa. Phạm vi nghiên cứu giới hạn trong không gian địa lý của làng Quảng Xá, nơi tiếp giáp dòng sông Kiến Giang và đầm phá Hạc Hải. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc khi cung cấp hệ thống luận cứ khoa học để hoàn thiện mô hình làng văn hóa kiểu mẫu, đánh giá tác động của danh hiệu làng văn hóa mà địa phương đạt được trong 13 năm liên tục, đặc biệt là 5 lần liên tiếp giữ vững danh hiệu làng văn hóa cấp Tỉnh theo Quyết định số 3355/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Bình.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết văn hóa học hệ thống và cách tiếp cận khu vực học đa ngành của Việt Nam học nhằm phân tích văn hóa như một chỉnh thể hữu cơ gồm các giá trị vật chất và tinh thần. Nghiên cứu tích hợp lý thuyết biến đổi văn hóa và lý thuyết cấu trúc chức năng để xem xét sự chuyển dịch của các thiết chế xã hội nông thôn truyền thống sang mô hình tổ chức hành chính hiện đại. Ba khái niệm trung tâm được chuẩn hóa làm nền tảng phân tích gồm:

  • Văn hóa: Hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua hoạt động thực tiễn tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội.
  • Văn hóa làng: Toàn bộ các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể do cộng đồng cư dân làng sáng tạo, dung hợp và trao truyền qua nhiều thế hệ, đóng vai trò chuẩn mực điều chỉnh hành vi cộng đồng.
  • Làng văn hóa: Mô hình kiến tạo không gian sống nông thôn mới dựa trên sự kết hợp hài hòa giữa kế thừa truyền thống tốt đẹp và tiếp thu các giá trị văn minh hiện đại theo định hướng phát triển bền vững.
  • Vốn xã hội nông thôn: Mạng lưới liên kết phi chính thức thông qua dòng họ, hội đồng hương và hương ước nhằm củng cố trật tự trị an và thúc đẩy hợp tác cộng đồng.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp liên ngành kết hợp giữa nghiên cứu thư tịch lịch sử, địa chí học và điều tra xã hội học thực địa:

  • Nguồn dữ liệu sơ cấp và thứ cấp: Kế thừa tư liệu từ địa bạ triều Nguyễn năm Gia Long thứ 13, 14, 15, Ô Châu Cận lục năm 1555, kết hợp thống kê hành chính từ Ủy ban nhân dân xã Tân Ninh và Phòng Văn hóa - Thông tin huyện Quảng Ninh.
  • Cỡ mẫu và kỹ thuật chọn mẫu: Khảo sát xã hội học với quy mô mẫu 150 hộ gia đình trên tổng số các cụm dân cư của làng Quảng Xá. Mẫu được lựa chọn theo phương pháp phân tầng ngẫu nhiên dựa trên các tiêu chí: nhóm tuổi, giới tính, nghề nghiệp và nhánh dòng tộc (họ Dương, họ Nguyễn, họ Trần). Nghiên cứu thực hiện phỏng vấn sâu 25 nhân chứng gồm già làng, nghệ nhân dân gian, cựu giáo chức và cán bộ quản lý cơ sở.
  • Phương pháp phân tích: Sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích tổng hợp và so sánh lịch sử. Lý do lựa chọn phương pháp này nhằm định lượng hóa mức độ biến đổi của các tập tục, đồng thời lý giải sâu sắc căn nguyên văn hóa tâm linh trong đời sống nông dân miền Trung.
  • Timeline nghiên cứu: Quá trình khảo sát điền dã, thu thập tư liệu và xử lý số liệu được thực hiện liên tục trong giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2011.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nghiên cứu chứng minh cơ cấu kinh tế làng Quảng Xá có sự kết hợp chặt chẽ giữa nông nghiệp lúa nước, thủ công nghiệp và thương nghiệp truyền thống. Hoạt động canh tác nông nghiệp nuôi dưỡng hơn 80% lực lượng lao động địa phương trên 132,7 ha đất canh tác. Nghề dệt vải Quảng khổ hẹp 38 cm đến 40 cm từng phát triển rực rỡ với 100% hộ gia đình sở hữu khung cửi vào đầu thế kỷ XX. Chợ Bến hình thành từ năm 1928 (sau chuyển đổi thành chợ Cổng họp từ 4 giờ đến 7 giờ sáng) đã định hình huyết mạch giao thương nông sản cho cả vùng tả ngạn sông Kiến Giang.

Thứ hai, thiết chế làng - họ tại Quảng Xá tạo nên mạng lưới vốn xã hội bền chặt khác biệt so với các làng xã Bắc Bộ. Sự dung hợp của 3 dòng họ khai canh lớn gồm họ Dương (đến năm 1613), họ Nguyễn (đến năm 1620) và họ Trần (đến năm 1719) đã kiến tạo nên mô hình quản trị cộng đồng dựa trên huyết thống kết hợp hương ước gồm 6 chương 27 điều. Tục tảo mộ tập trung vào ngày 2 tháng 9 hàng năm thu hút khoảng 95% con em xa quê trở về gắn kết cội nguồn.

Thứ ba, hệ thống văn hóa vật chất và tinh thần của làng mang tính đa dạng cao, thích ứng tuyệt đối với sinh thái tự nhiên vùng ngập mặn và gió phơn Tây Nam:

  • Văn hóa ẩm thực sở hữu hơn 15 món ăn đặc sản gắn liền tài nguyên nước lợ như xôi le le, đam kềnh dưa chuối, rạm rim phá Hạc Hải, mắm còng, tương bần, chè om lá xanh và nước uống từ hồ Sao Sa.
  • Kiến trúc nhà rường 3 gian 2 chái bằng gỗ lim với hệ mái khối chóp nón giúp cư dân chống chọi tối ưu trước các cơn bão nhiệt đới và lũ lụt lớn.
  • Quy hoạch giao thông nội thôn đồng bộ với 100% trục đường ngang dọc lát đá liếp bản rộng 80 cm theo cấu trúc ô bàn cờ từ trước năm 1945.

Thứ tư, khảo sát thực trạng xây dựng làng văn hóa ghi nhận tỷ lệ đồng thuận của người dân đạt trên 90%, đưa Quảng Xá trở thành đơn vị kiểu mẫu với 13 năm liên tục đạt chuẩn văn hóa, trong đó có 5 năm liên tiếp đạt danh hiệu làng văn hóa cấp Tỉnh.

Thảo luận kết quả

Các dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa thông qua Bảng ma trận so sánh các thành tố văn hóa truyền thống và hiện đại, cùng Biểu đồ cơ cấu ngành nghề nông thôn qua các mốc 1945, 1986 và 2011 để làm rõ xu hướng chuyển dịch lao động.

Sự kiên cường và tinh thần gắn kết của cộng đồng Quảng Xá bắt nguồn từ sự thích nghi với khí hậu khắc nghiệt, nơi có nền nhiệt mùa hè lên tới 38 đến 39 độ C cùng lượng mưa hàng năm dao động từ 2000 mm đến 2500 mm. Khác với mô hình giáp ở đồng bằng sông Hồng phân chia theo lớp tuổi, làng Quảng Xá duy trì cấu trúc xóm ngõ và dòng họ đan cài, giúp tăng cường khả năng tự vệ và phục hồi sinh kế sau thiên tai, chiến tranh. Tinh thần đó đã được tôi luyện trong giai đoạn chống Pháp tiêu diệt hơn 100 tên giặc và giai đoạn chống Mỹ kiên cường bám trụ sau 3 ngày đêm hứng chịu bom đạn khốc liệt vào tháng 8 năm 1967.

Kết quả nghiên cứu khẳng định tính đúng đắn của việc vận dụng Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII vào thực tiễn bảo tồn di sản cấp cơ sở.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm giải quyết triệt để các thách thức về mai một di sản phi vật thể và nâng cao chất lượng nếp sống văn minh, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp chiến lược:

  • Phục dựng và số hóa di sản phi vật thể: Lập hồ sơ kỹ thuật số lưu trữ 100% các làn điệu ca Huế cổ, điệu múa bông, kho tàng ca dao và quy trình ẩm thực dân gian truyền thống (tương bần, chè om, chế biến rạm). Thời gian thực hiện từ năm 2026 đến năm 2028 do Chi hội Văn nghệ Dân gian phối hợp cùng Ủy ban nhân dân xã Tân Ninh chủ trì.
  • Trùng tu quần thể kiến trúc và hạ tầng di tích: Phân bổ ngân sách tôn tạo hoàn chỉnh di tích lịch sử Làng chiến đấu Quảng Xá theo Quyết định số 3355/QĐ-UBND, kết hợp bảo tồn 100% các đoạn đường lát đá liếp cổ và phục dựng một số miếu thờ thần nông nghiệp tiêu biểu. Thời gian triển khai giai đoạn 2026-2030 dưới sự giám sát của Phòng Văn hóa - Thông tin huyện Quảng Ninh.
  • Phát triển kinh tế du lịch di sản sinh thái: Xây dựng tuyến du lịch trải nghiệm văn hóa nông nghiệp kết hợp thắng cảnh phá Hạc Hải và hồ Cẩm Ly, hướng tới mục tiêu thu hút khoảng 10.000 lượt khách tham quan mỗi năm. Lộ trình triển khai từ năm 2027 đến năm 2030 do Sở Du lịch tỉnh Quảng Bình phối hợp với chính quyền địa phương thực hiện.
  • Thể chế hóa và cập nhật hương ước làng: Hoàn thiện bản Hương ước nông thôn mới gồm 6 chương 27 điều, đảm bảo 98% hộ gia đình ký cam kết xóa bỏ hủ tục trong tang lễ, cưới hỏi và phòng chống tệ nạn xã hội. Công tác giám sát thực hiện thường niên do Ban cán sự thôn và Mặt trận Tổ quốc xã Tân Ninh chịu trách nhiệm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Nhà nghiên cứu và học viên cao học chuyên ngành Việt Nam học, Văn hóa học, Lịch sử và Xã hội học: Tiếp cận khung lý thuyết khu vực học thực chứng và bộ dữ liệu điển cứu về làng xã miền Trung.
  • Cán bộ quản lý văn hóa và hoạch định chính sách nông thôn mới: Tham khảo bài học kinh nghiệm thực tế về mô hình 13 năm xây dựng làng văn hóa cấp tỉnh để áp dụng vào công tác chỉ đạo cơ sở.
  • Giảng viên và sinh viên các trường đại học tại khu vực miền Trung: Khai thác nguồn tư liệu địa chí phục vụ giảng dạy môn Lịch sử địa phương, Văn hóa dân gian và Địa lý kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Bình.
  • Doanh nghiệp du lịch và các tổ chức phát triển cộng đồng: Định hướng khai thác các tuyến điểm du lịch sinh thái nông nghiệp và thiết kế các sản phẩm quà tặng ẩm thực truyền thống địa phương.

Câu hỏi thường gặp

  • Điểm khác biệt lớn nhất giữa thiết chế xã hội làng Quảng Xá với làng xã Bắc Bộ là gì? Cơ cấu tổ chức làng Quảng Xá không phân chia theo giáp dựa trên lứa tuổi như vùng Bắc Bộ mà được tổ chức theo xóm ngõ gắn kết chặt chẽ với mạng lưới huyết thống của 3 dòng họ lớn. Mối quan hệ dòng họ và quy ước nội tộc đóng vai trò hạt nhân trong việc bảo vệ trật tự và gắn kết cộng đồng.

  • Đặc trưng kiến trúc nhà ở truyền thống tại Quảng Xá có tác dụng ứng phó thiên tai như thế nào? Kiểu nhà rường 3 gian 2 chái với kết cấu vì kèo gỗ lim kiên cố, lực dồn vào tứ trụ và hệ mái chóp nón giúp công trình chịu được gió xoáy 4 hướng. Thiết kế sàn tra vững chắc phía trên đóng vai trò làm nơi cất giữ tài sản và chỗ ở an toàn cho người dân trong mùa bão lũ.

  • Giá trị lịch sử nổi bật của làng chiến đấu Quảng Xá được Nhà nước công nhận ra sao? Quảng Xá là một trong ba làng chiến đấu kiểu mẫu kiên cường của Quảng Bình trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp. Toàn bộ khu di tích làng chiến đấu đã được xếp hạng Di tích lịch sử cấp Tỉnh theo Quyết định số 3355/QĐ-UBND ngày 18 tháng 12 năm 2008 của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Bình.

  • Ẩm thực làng Quảng Xá tận dụng nguồn tài nguyên sinh thái nước lợ địa phương như thế nào? Cư dân đã tận dụng triệt để nguồn thủy sản từ vùng phá Hạc Hải và đầm nước mặn để sáng tạo nên các món ăn dân dã giàu dinh dưỡng như rạm rim, rạm muối xổi, đam kềnh dưa chuối, ốc bươu xào khế và nước chấm từ quả của cây bần mọc ven sông Kiến Giang.

  • Làm thế nào để giải quyết mâu thuẫn giữa hiện đại hóa nông thôn và bảo tồn di sản làng cổ? Giải pháp then chốt là lồng ghép tiêu chuẩn bảo tồn văn hóa vào chương trình xây dựng nông thôn mới, kết hợp giám sát bằng hương ước 6 chương 27 điều và phát triển sinh kế du lịch di sản để tạo nguồn lực tài chính tái đầu tư cho việc trùng tu di tích.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện diện mạo lịch sử, kinh tế, kiến trúc và văn hóa tinh thần của làng cổ Quảng Xá qua hơn 450 năm phát triển.
  • Công trình khẳng định vai trò trụ cột của thiết chế dòng họ và hương ước trong việc duy trì ổn định trật tự xã hội và kiến tạo vốn xã hội nông thôn.
  • Nghiên cứu làm rõ giá trị thích ứng môi trường của hệ thống tri thức dân gian qua ẩm thực bản địa, kiến trúc nhà rường và hạ tầng giao thông bàn cờ lát đá liếp.
  • Cung cấp mô hình lý luận và thực tiễn giải thích thành công của làng Quảng Xá với 13 năm liên tục giữ vững danh hiệu làng văn hóa tiêu biểu cấp tỉnh.
  • Đóng góp hệ thống 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm phát triển bền vững không gian văn hóa làng quê nông thôn Việt Nam giai đoạn 2026-2030.

Công trình là tài liệu học thuật giá trị cao, đóng góp thiết thực cho công tác bảo tồn di sản văn hóa địa phương. Quý bạn đọc, các nhà nghiên cứu và cơ quan quản lý hãy khai thác toàn văn tài liệu để ứng dụng hiệu quả vào công tác bảo tồn văn hóa và hoạch định chính sách phát triển nông thôn mới hiện nay.