Chương 1: Một số vấn đề lý luận về văn hoá làng nghề Chương 2: Thực trạng văn hóa làng nghề Làng lụa Vạn Phúc, Quận Hà Đông, Hà Nội Chương 3: Những giải pháp nhằm bảo tồn, giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa làng nghề Làng lụa Vạn Phúc, Quận Hà Đông, Hà Nội 9 Chƣơng 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VĂN HOÁ LÀNG NGHỀ. Một số khái niệm cơ bản 1.1 Khái niệm văn hóa Văn hoá (Tiếng Latinh: Cultura) là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác nhau, gồm tất cả những sản phẩm của con người. Văn hoá bao gồm cả 2 khía cạnh: Khía cạnh phi vật chất của xã hội như ngôn ngữ, tư tưởng, giá trị và các khía cạnh vật chất như nhà cửa, quần áo, phương tiện, v.v Cả 2 khía cạnh cần thiết để làm ra sản phẩm và đó là một phần của văn hoá. Văn hoá là những giá trị vật chất và tinh thần còn lại sau thời gian, được cộng đồng xã hội tự nguyện lưu truyền từ đời này sang đời khác thông qua các chuỗi sự kiện trong đời sống hàng ngày.
Trong cuộc sống hàng ngày, văn hoá thường được hiểu là văn học, nghệ thuật, như thơ ca, mỹ thuật, sân khấu, điện ảnh… Các trung tâm văn hoá có ở khắp nơi chính là cách hiểu này. Văn hóa cũng là cách sống bao gồm phong cách ẩm thực, trang phục, cư xử và cả đức tin, tri thức được tiếp nhận. Văn hoá là sản phẩm của loài người, văn hoá được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội. Song, chính văn hoá lại tham gia vào việc tạo nên con người, duy trì sự bền vững và trật tự xã hội.
Văn hoá là trình độ phát triển của con người, của xã hội được biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức trong đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần mà do con người tạo ra. [9] Theo Đại từ điển tiếng Việt của Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hoá Việt Nam – Bộ Giáo dục và Đào tạo, do Nguyễn Như Ý chủ biên, Nhà xuất bản Văn hoá – Thông tin, xuất bản năm 1998, thì: “Văn hoá là những giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử”. [14] 10 Trong cuốn Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam, PGS.TSKH Trần Ngọc Thêm cho rằng: Văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình. [9] UNESCO (2002) thì cũng có khái niệm về VH như sau: “Văn hóa là tổ hợp các đặc điểm tinh thần, vật chất, trí tuệ, tình cảm nổi bật của xã hội hay nhóm xã hội, bao hàm cả nghệ thuật, văn học, lối sống, cùng với đường đời, hệ giá trị, truyền thống và niềm tin”.
Cũng trong một nghiên cứu khác thì UNESCO lại cho rằng “ VH là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần”. [21] Như vậy, văn hoá nói chung được nhiều tác giả, các nhà NCKH về VH đã đưa ra những khái niệm, quan niệm khác nhau về VH bởi VH là vô cùng quan trọng không chỉ đối với mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ, khu vực dân cư, …Tuy nhiên, để có một khái niệm đầy đủ và chuẩn xác nhất về VH là chưa có. Chính vì vậy, trong khóa luận này của mình, em xin đưa ra một khái niệm về VH, khái niệm này chỉ với mục đích phục vụ cho nghiên cứu này mà không dành cho mục đích nào khác, theo đó: Văn hóa là tổng hợp của các giá trị vật chất và tinh thần đối trong việc khai thác, tìm kiếm trong quá trình phát triển lịch sử. Khái niệm làng nghề Thuật ngữ “làng nghề”, theo từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê (2004) được hiểu như sau: “Làng nghề là một làng chuyên làm một nghề thủ công truyền thống”.
[8] Như vậy, theo khái niệm trên thì làng nghề là một làng mà làng đó phải có hoạt động sản xuất một nghề thủ công truyền thống, theo đó, làng nghề 11 được thành lập khá lâu đời bởi nghề thủ công truyền thống được làm, được sản xuất thủ công tại đó đã trải qua rất nhiều đời người. Dấu hiệu “làm” một nghề thủ công truyền thống cũng là đặc điểm để nhận diện, phân biệt với các “làng” khác. Trên khía cạnh pháp luật thì “Làng nghề” được giải nghĩa tại Khoản 3, Điều 3, Nghị định 52/2018/NĐ-CP (12/04/2018) như sau: “Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự tham gia hoạt động ngành nghề nông thôn”. Trong đó, các ngành nghề nông thôn được quy định tại Điều 4 của Nghị định 52/2018/NĐ-CP, cụ thể: “Các hoạt động ngành nghề nông thôn quy định trong Nghị định này bao gồm: 1.
Chế biến, bảo quản nông, lâm, thủy sản. Sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ. Xử lý, chế biến nguyên vật liệu phục vụ sản xuất ngành nghề nông thôn. Sản xuất đồ gỗ, mây tre đan, gốm sứ, thủy tinh, dệt may, sợi, thêu ren, đan lát, cơ khí nhỏ.
Sản xuất và kinh doanh sinh vật cảnh. Sản xuất muối. Các dịch vụ phục vụ sản xuất, đời sống dân cư nông thôn” Ngoài ra, trên khía văn văn hoá, hành chính theo các nghiên cứu thì “làng nghề” còn được hiểu như sau: Làng nghề là một đơn vị hành chính cổ xưa, là một nơi quần cư đông người, sinh hoạt có tổ chức, có kỷ cương tập quán riêng theo nghĩa rộng. Làng nghề là một khái niệm rất quan trọng trong việc hiểu về nền kinh tế và văn hoá của một khu vực cụ thể, đồng thời đóng vai trò quan trọng trong việc 12 bảo tồn và phát triển di sản văn hoá của mỗi cộng đồng.
Làng nghề thường chuyên môn hoá tập trung sản xuất một loại hàng dịch vụ cụ thể trong một khu vực địa lý nhất định. Mỗi làng nghề thường có một loạt các nghệ nhân, các thợ thủ công hoặc doanh nghiệp nhỏ sản xuất các sản phẩm hoặc cung cấp các dịch vụ đặc biệt. Những người này thường được truyền thụ kỹ năng từ thế hệ trước, sự chuyên nghiệp và sáng tạo của họ thường được tôn trọng và ưa chuộng. Những sản phẩm từ làng nghề thường mang đậm dấu ấn của địa phương và có thể được coi là biểu tượng của khu vực đó.
Không chỉ là nơi sản xuất, làng nghề còn thường là trung tâm của các hoạt động kinh tế và xã hội địa phương. Họ có thể tạo ra cơ hội việc làm, thu hút du khách và góp phần vào sự phát triển kinh tế của một khu vực. Ngoài ra làng nghề còn là nơi duy trì và bảo tồn các nghệ thuật, kỹ thuật truyền thống giúp định hình và phát triển văn hoá địa phương. Làng nghề là một phần không thể thiếu của làng xã nông nghiệp cổ truyền, vì nó phản ánh đầy đủ thuộc tính tự cung, tự cấp.
Mặt khác, làng nghề lại biểu hiện tính năng động, sáng tạo của người nông dân trong quá trình thích ứng với điều kiện địa lý, kinh tế xã hội nhất định, đồng thời thể hiện rất rõ yếu tố tự mở cửa của xã hội nông nghiệp. Khái niệm văn hóa làng nghề Theo quan điểm của em, văn hoá làng nghề là một phần quan trọng của văn hoá dân gian, đại diện cho các giá trị, phong tục và kỹ năng truyền thống liên quan đến một ngành nghề cụ thể trong một khu vực địa lý nhất định. Nó thường bao gồm các hoạt động như sản xuất hàng hoá, nghệ thuật thủ công và các nghi lễ truyền thống liên quan đến ngành nghề đó. Văn hoá làng nghề không chỉ là việc sản xuất hàng hoá dịch vụ mà còn bao gồm các khía cạnh văn hoá, xã hội và kinh tế phát triển xung quanh một 13 ngành nghề cụ thể trong một cộng động hoặc một vùng địa lý nhất định.
Văn hoá làng nghề thường phản ánh tinh thần sáng tạo, cống hiến và sự kết nối xã hội trong cộng đồng, đồng thời cũng là một phần quan trọng của bản sắc văn hoá toàn cầu. Bảo tồn văn hóa làng nghề Theo quan điểm của em, bảo tồn văn hoá làng nghề là quá trình giữ gìn, bảo vệ và phát triển các giá trị văn hoá, truyền thống, kỹ thuật và nghệ thuật thuộc một ngành nghề cụ thể trong một cộng đồng làng nghề. Điều này bao gồm việc ghi chép và nghiên cứu các phương pháp sản xuất truyền thống, giáo dục và đào tạo để truyền đạt kiến thức và kĩ năng cho thế hệ tiếp theo, hỗ trợ kinh tế cho các nghệ nhân và nhà sản xuất làng nghề, bảo vệ môi trường và tài nguyên cần thiết cho sản xuất, cũng như khuyến khích du lịch và tiếp thị để giới thiệu, quảng bá văn hoá làng nghề. Do đó việc bảo tồn văn hoá làng nghề không chỉ giữ gìn một phần quan trọng của di sản văn hoá mà tăng cường nhận thức và đánh giá về giá trị của văn hoá làng nghề, cũng như tạo ra cơ hội kinh tế và phát triển bền vững cho cộng đồng địa phương.
Phát huy giá trị văn hóa làng nghề Theo quan điểm của em, phát huy giá trị văn hoá làng nghề là quá trình tận dụng và phát triển các nguồn tài nguyên văn hoá độc đáo của một cộng đồng làng nghề để tạo ra những cơ hội mới và thúc đẩy sự phát triển bền vững. Điều này bao gồm việc bảo tồn và tôn trọng các truyền thống, kỹ thuật và nghệ thuật truyền thống, cũng như việc sáng tạo, áp dụng chúng vào các hoạt động kinh doanh và sáng tạo mới. Quá trình này không chỉ đảm bảo sự tiếp tục của di sản văn hoá, mà còn mang lại nhiều lợi ích kinh tế và xã hội cho cộng đồng. Bằng cách phát huy giá trị văn hoá làng nghề, cộng đồng có thể thu hút du khách, tạo ra nguồn thu nhập mới, tạo ra môi trường sống và làm việc tích cực cho cả 14 người dân và doanh nghiệp trong khu vực.
Ngoài ra, bằng cách truyền đạt kiến thức và kỹ năng về văn hoá và ngành nghề truyền thống trong việc phát triển giáo dục và đào tạo cũng là một phần quan trọng của việc phát huy giá trị văn hoá làng nghề. Phát huy giá trị văn hoá làng nghề không chỉ là việc duy trì và bảo tồn di sản văn hoá, mà còn là việc tạo ra những cơ hội mới và thúc đẩy sự phát triển toàn diện của cộng đồng. Mối quan hệ giữa bảo tồn và phát huy văn hóa làng nghề.