Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Đề tài được thực hiện xuất phát từ bối cảnh kinh tế - xã hội phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của con người ngày càng được nâng cao, đi kèm với những áp lực công việc và gia đình. Xu hướng tiêu dùng du lịch không dừng lại ở đòi hỏi chất lượng dịch vụ cao mà còn hướng tới sự phù hợp với các giá trị văn hóa, thỏa mãn nhu cầu tìm hiểu, giao lưu văn hóa của du khách. Tại Quảng Ninh và thành phố Hạ Long, du lịch và kinh doanh khách sạn giữ tỷ trọng cao trong cơ cấu kinh tế địa phương. Sự gia tăng lượng khách du lịch trong nước và quốc tế đòi hỏi hệ thống cơ sở lưu trú và ăn uống đạt tiêu chuẩn quốc tế. Khách sạn Sài Gòn Hạ Long ra đời dưới sự quản lý của Tổng công ty Du lịch Sài Gòn (Saigontourist), vừa tiếp thu phương thức kinh doanh của tập đoàn, vừa mang đặc trưng văn hóa biển của vịnh Hạ Long.
Mục tiêu nghiên cứu được tác giả xác định cụ thể gồm:
- Tìm hiểu các giá trị văn hóa kinh doanh được thể hiện trong hoạt động kinh doanh của Khách sạn Sài Gòn Hạ Long, từ đó nâng cao nhận thức về giá trị văn hóa trong kinh doanh nói chung và kinh doanh khách sạn nói riêng.
- Bước đầu nhìn nhận, đánh giá thực trạng văn hóa trong kinh doanh khách sạn - một loại hình dịch vụ trọng yếu của ngành du lịch.
- Đề xuất các giải pháp nhằm làm phong phú thêm văn hóa kinh doanh tại Khách sạn Sài Gòn Hạ Long, góp phần xây dựng bản sắc riêng cho doanh nghiệp.
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các giá trị văn hóa thể hiện trong giao tiếp, ứng xử, phục vụ, nghệ thuật bài trí không gian và các nghi lễ tại các bộ phận kinh doanh trực tiếp (Lễ tân, Bàn, Bar, Bếp) cũng như các bộ phận dịch vụ bổ sung (thu đổi ngoại tệ, massage, thể dục thẩm mỹ, bể bơi, bán hàng lưu niệm, giặt là) và toàn bộ không gian kinh doanh của Khách sạn Sài Gòn Hạ Long. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào hoạt động thực tế tại Khách sạn Sài Gòn Hạ Long gắn liền với địa bàn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, trong giai đoạn từ khi thành lập đến năm 2008.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận tiếp cận vấn đề văn hóa kinh doanh thông qua các quan điểm lý luận trong và ngoài nước. Về mặt lý thuyết quốc tế, tác giả viện dẫn các công trình nghiên cứu về văn hóa doanh nghiệp và đạo đức kinh doanh của Hofstede (Mỹ), Fons Trompenaars (Hà Lan), và Usnier (Pháp). Ở phạm vi trong nước, tác giả sử dụng các định nghĩa của học giả Đỗ Minh Cương (2001) về việc đưa các nhân tố văn hóa vào hoạt động kinh doanh để tạo ra kiểu kinh doanh đặc thù, và định nghĩa của PGS. TS. Dương Thị Liễu coi văn hóa kinh doanh là tập hợp các nhân tố văn hóa được chọn lọc, sáng tạo và biểu hiện trong hoạt động nhằm tạo nên bản sắc của chủ thể. Khái niệm văn hóa kinh doanh khách sạn được xác định là hệ thống các giá trị văn hóa gắn liền với hoạt động cung cấp dịch vụ lưu trú, ăn uống và dịch vụ bổ sung nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng và đạt mục tiêu lợi nhuận bền vững. Tác giả cũng vận dụng nguyên lý phục vụ "4S" gồm: Smile (Nụ cười), Smart (Lịch sự), Speed (Tốc độ), Sincerely (Chân thành).
Phương pháp nghiên cứu được triển khai bao gồm:
- Phương pháp khảo sát thực địa: Quan sát trực tiếp hoạt động phục vụ, không gian kiến trúc, cơ sở vật chất kỹ thuật và tác phong làm việc của nhân viên tại các bộ phận trong khách sạn.
- Phương pháp xử lý thông tin tại chỗ, so sánh và đối chiếu: Phân tích các dữ liệu nội bộ của khách sạn qua các năm và so sánh với bức tranh chung của ngành du lịch Quảng Ninh.
- Phương pháp mô tả, phân tích và tổng hợp: Hệ thống hóa tài liệu lý luận, tổng hợp các số liệu kinh doanh, cơ cấu tổ chức và nhân sự.
Nguồn dữ liệu sử dụng trong đề tài gồm:
- Dữ liệu thứ cấp: Báo cáo, số liệu thống kê của Sở Du lịch tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 1994–2007; các quyết định hành chính của Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Ninh; tài liệu lưu trữ của Saigontourist.
- Dữ liệu sơ cấp: Số liệu thống kê hoạt động kinh doanh, cơ cấu lao động, cơ cấu nguồn khách do Phòng Kế toán và các bộ phận nghiệp vụ của Công ty Cổ phần Du lịch Khách sạn Sài Gòn Hạ Long cung cấp giai đoạn 2002–2008.
Nội dung chính theo từng chương
Bố cục khóa luận được xây dựng thành 3 chương, trong đó văn bản cung cấp nội dung chi tiết của Chương 1 và Chương 2:
Chương 1: Hạ Long - Quảng Ninh và hoạt động du lịch ở Hạ Long Quảng Ninh
Chương này tập trung phác thảo tổng quan điều kiện địa lý, tự nhiên, kinh tế - xã hội và thực trạng phát triển du lịch của địa phương:
- Điều kiện tự nhiên và tài nguyên: Tỉnh Quảng Ninh có diện tích đất liền 6.110 km² và 619,9 km² mặt nước biển, sở hữu 1.030 đảo có tên và hơn 1.000 đảo chưa có tên. Thành phố Hạ Long nằm ở tọa độ 20º52´ đến 21º00´ vĩ Bắc và 106º58´ đến 107º6´ kinh Đông, cách Hải Phòng 70 km và cách Hà Nội 3 giờ di chuyển bằng đường bộ. Khí hậu thuộc vùng nhiệt đới gió mùa với nhiệt độ trung bình năm 22,8ºC (mùa hè 26,4ºC, cao nhất 35,7ºC; mùa đông 20ºC, thấp nhất 4,2ºC), lượng mưa trung bình 2.005,4 mm. Vịnh Hạ Long có diện tích 153 km² gồm 1.969 hòn đảo; khu vực di sản thiên nhiên thế giới được UNESCO công nhận có diện tích 434 km² với 775 đảo, tuổi kiến tạo địa chất 250–280 triệu năm, hệ sinh thái san hô gồm 197 loài (chiếm 80% tổng số loài san hô ở bờ Tây Thái Bình Dương). Về tài nguyên nhân văn, khu vực lưu giữ dấu tích văn hóa Soi Nhụ (khai quật năm 1967 tại Vân Đồn, di cốt người có niên đại từ 5.000 đến trên 10.000 năm), hang Đầu Gỗ gắn với di tích Trần Hưng Đạo, và núi Bài Thơ ghi dấu thơ của vua Lê Thánh Tông.
- Thực trạng ngành du lịch địa phương: Hệ thống tổ chức kinh doanh chuyển biến từ năm 1995 (4 doanh nghiệp nhà nước, 2 doanh nghiệp đoàn thể, 26 khách sạn bộ ngành, 3 công ty TNHH, 24 doanh nghiệp tư nhân) sang năm 2000 (7 công ty nhà nước độc lập, 18 công ty cổ phần/TNHH, 5 liên doanh nước ngoài, 190 hộ cá thể). Cơ sở lưu trú phát triển nhanh từ 83 cơ sở năm 1997 lên 812 cơ sở với 11.700 phòng năm 2006 (tăng hơn 9 lần trong 9 năm), trong đó 90% khách sạn 2 đến 4 sao tập trung tại thành phố Hạ Long. Công suất sử dụng phòng trung bình toàn tỉnh năm 2005 chỉ đạt 28% (Hạ Long đạt 24%), nhưng năm 2006 các khách sạn 3-4 sao đạt mức cao: Sài Gòn Hạ Long đạt 75%, Bạch Đằng đạt 76%, Hạ Long - Plaza đạt 73%, Hạ Long I, II, III và Hạ Long Bay đạt 72,1%, Công Đoàn đạt 72%, Vườn Đào đạt 70%. Toàn tỉnh có trên 50 ô tô du lịch và trên 250 tàu thuyền (gồm 98 tàu loại 1, 102 tàu loại 2, một số tàu loại 3; 87 tàu được cấp phép lưu trú với trên 800 phòng).
| Chỉ tiêu lao động |
1994 |
1995 |
1996 |
1997 |
1998 |
1999 |
2000 |
| Đại học và trên đại học |
127 |
138 |
180 |
227 |
254 |
300 |
340 |
| Cao đẳng và trung học |
348 |
367 |
390 |
408 |
424 |
450 |
470 |
| Lao động phổ thông |
512 |
545 |
913 |
1.333 |
1.448 |
1.783 |
1.973 |
| Tổng số lao động Quảng Ninh |
987 |
1.050 |
1.483 |
1.968 |
2.126 |
2.533 |
2.783 |
| Tổng số lao động cả nước |
51.510 |
81.760 |
98.700 |
130.000 |
1.320.000 |
150.000 |
- |
| Tỷ lệ Quảng Ninh/cả nước (%) |
1,19 |
1,28 |
1,50 |
1,51 |
1,63 |
1,68 |
- |
(Nguồn trích dẫn: Sở Du lịch Quảng Ninh, trình bày tại Bảng 01 của văn bản)
Về kết quả kinh doanh, khách du lịch đến Quảng Ninh tăng trưởng: năm 2005 đón 2.000 lượt khách (1.000 lượt khách quốc tế); năm 2006 đón 2.500 lượt khách (1.800 lượt khách quốc tế); năm 2007 đón 3.000 khách (1.000 lượt khách quốc tế). Doanh thu trực tiếp từ các đơn vị du lịch năm 2005 đạt 882.600 triệu đồng, năm 2006 đạt 975.350 triệu đồng và năm 2007 đạt 1.070 triệu đồng. Tác giả cũng chỉ ra những hạn chế của du lịch địa phương như: ảnh hưởng suy thoái kinh tế 2008, năng lực tài chính doanh nghiệp hạn chế, hạ tầng thiếu đồng bộ, thủ tục cửa khẩu Móng Cái còn vướng mắc, nhân lực thiếu đào tạo bài bản và sản phẩm du lịch đơn điệu.
Chương 2: Khách sạn Sài Gòn Hạ Long và yếu tố văn hoá trong kinh doanh
Chương 2 là phần trọng tâm khảo sát thực tế tại đơn vị:
- Lịch sử và tư cách pháp lý: Công ty Cổ phần Du lịch Khách sạn Sài Gòn Hạ Long (tên tiếng Anh: Saigon Halong Hotel Joint Stock Company, tên viết tắt: SaHa Hotel) hoạt động theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 056083 do Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Quảng Ninh cấp ngày 03/03/2007, mã số thuế 5700101122-1. Tiền thân công ty thành lập theo Quyết định số 187-QĐUB ngày 20/11/1998 của UBND tỉnh Quảng Ninh với 7 cổ đông sáng lập: Tổng công ty Du lịch Sài Gòn (Saigontourist), Bảo Minh TP. Hồ Chí Minh, Công ty Tái bảo hiểm Quốc gia, Ngân hàng Công thương Sài Gòn, Công ty Xây lắp III Đà Nẵng (Bộ Thương mại), Công ty Liên doanh Hồng Hà, Du lịch Đường sắt và Saigontourist tại Hà Nội. Trụ sở tại 168 đường Hạ Long, phường Bãi Cháy; văn phòng đại diện tại Phòng 503A, tòa nhà Vinatex, 25 Bà Triệu, Hà Nội.
- Quy mô và tổ chức: Ban đầu xây dựng năm 1994 gồm 5 biệt thự với 23 phòng ngủ. Ngày 27/10/2002, khách sạn khánh thành tòa nhà 15 tầng và đón nhận chuẩn 4 sao (khách sạn thứ 10 mang thương hiệu Sài Gòn của Saigontourist). Tổng quy mô gồm 228 phòng ngủ quốc tế, 5 phòng hội nghị, 3 nhà hàng, 6 quầy bar, bể bơi, sân tennis, phòng massage. Nhân sự gồm 235 người dưới quyền điều hành của Tổng Giám đốc Lê Hữu Đức. Cơ cấu quản lý gồm Hội đồng Quản trị, Ban Giám sát, Ban Giám đốc, các phòng ban chức năng (Marketing, Kế toán, F.K, Kỹ thuật, Hành chính) quản lý các bộ phận tác nghiệp (Lễ tân, Lữ hành, Đội tàu, Bàn, Bếp, Buồng, Giặt là, Vệ sinh công cộng, Bảo vệ).
- Thị trường và kết quả kinh doanh: Doanh thu khách sạn tăng đều: năm 2006 đạt 47.000 triệu đồng; năm 2007 tăng khoảng 2 tỷ đồng so với năm 2006; năm 2008 tăng 3 tỷ đồng so với năm 2007. Khách quốc tế chiếm gần 80% thị phần. Cơ cấu nguồn khách giai đoạn 2007-2008 thể hiện như sau:
| STT |
Phân khúc thị trường khách |
Tỷ lệ (%) |
| 1 |
Khách Pháp, Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan |
70% |
| 2 |
Khách Việt Nam, Việt kiều, khách lẻ |
23% |
| 3 |
Khách Mỹ, Canada và các nước Đông Nam Á khác |
7% |
(Nguồn trích dẫn: Phòng Kế toán công ty)
Khách sạn từng phục vụ Chủ tịch nước Trần Đức Lương, Phó Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc và đoàn đại biểu Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao các nước ASEAN năm 2004.
- Biểu hiện yếu tố văn hóa kinh doanh:
- Giao tiếp ứng xử: Quy định trang phục chi tiết theo bộ phận (Lễ tân nam: áo trắng, vest màu boóc-đô, quần đen; nữ: áo dài gấm hoặc váy ngắn boóc-đô; nhân viên nhà hàng: áo cổ tàu màu vàng nhạt hoặc áo trắng gile tôm/ghi, váy/quần đen; buồng: áo cổ tàu ngắn tay màu vàng nhạt, quần đen). Nhân viên đeo biển tên bên ngực trái, giữ tóc gọn, không đeo trang sức rườm rà, không xịt nước hoa nồng gắt. Thời gian làm việc cho phép nghỉ 10 phút để chỉnh trang diện mạo. 100% nhân viên giao tiếp được bằng tiếng Anh, bộ phận lễ tân và nhà hàng bổ sung thêm tiếng Trung hoặc Hàn. Về ngôn ngữ hình thể, nhân viên thực hiện 5 kỹ năng: nụ cười tự nhiên, hai tay nắm để phía trước, nhìn thẳng vào mắt khách, hơi cúi đầu khi lắng nghe và giữ khoảng cách đúng một chiều dài cánh tay. Quy trình xử lý phàn nàn gồm 8 bước: lắng nghe cảm thông; tách khách khỏi đám đông; bình tĩnh kiềm chế; ghi chép xác nhận; không bào chữa/cãi lại; xin lỗi và đề xuất giải pháp; theo dõi kết quả; cảm ơn khách.
- Kiến trúc và không gian: Kết hợp giữa phong cách cổ điển Pháp của 5 biệt thự năm 1994 (ví như "Đà Lạt thu nhỏ" trên đồi thông) và khối nhà cao tầng hình cánh buồm khánh thành năm 2002. Tận dụng vật liệu địa phương (gỗ lim, mây tre đan), gam màu chủ đạo là vàng nhạt và xanh, treo tranh phong cảnh Việt Nam.
- Cơ sở vật chất lưu trú và ẩm thực: Khu buồng ngủ gồm 228 phòng với 21 phòng Villa Superior, 02 phòng Villa Suite, 88 phòng Superior (38 m²), 104 phòng Deluxe (41 m²), 12 phòng Executive Suite (82 m²), 01 phòng Presidential Suite (164 m² có bồn tạo sóng và bệ tiểu tự động). Khu ẩm thực gồm nhà hàng Elegant (tầng trệt, 200-250 chỗ, hoạt động 24/24), nhà hàng Panorama (tầng 14, 300-350 chỗ), nhà hàng Villa (70-100 chỗ), nhà hàng Rừng Thông (cạnh hồ bơi), quầy Impression Lobby bar và quầy Relax Cafe (tầng 1). Hệ thống 6 phòng họp, trong đó phòng Sài Gòn Hạ Long có sức chứa 500 khách, phòng Huế và Đà Nẵng liên thông đạt 300 khách. Thực phẩm chế biến được cung ứng từ hải sản tươi sống địa phương và nguồn kiểm định an toàn từ siêu thị METRO Hà Nội; thực đơn có các món ăn đặc trưng tự chế biến như Sài Gòn Spring Rolls và salad Festival.
Chương 3: Một vài đề xuất và kiến nghị nâng cao yếu tố văn hoá trong kinh doanh ở khách sạn Sài Gòn Hạ Long
Theo phần giới thiệu bố cục ở Lời mở đầu, khóa luận dành Chương 3 để đề xuất giải pháp và kiến nghị. Tuy nhiên, toàn văn dữ liệu được cung cấp dừng lại ở cuối trang 50 (hết nội dung khảo sát Chương 2), do đó các giải pháp chi tiết của chương này không xuất hiện trong văn bản trích xuất.
Kết quả và đóng góp
- Khóa luận hệ thống hóa đầy đủ các dữ liệu quản trị thực tế của Khách sạn Sài Gòn Hạ Long từ thời điểm xây dựng năm 1994, thành lập công ty cổ phần năm 1998, đến quá trình vận hành sau khi gắn biển 4 sao năm 2002. Tác giả chứng minh hiệu quả kinh tế thông qua các chỉ số tăng trưởng: công suất phòng năm 2006 đạt 75% (cao hơn mặt bằng chung 28% của tỉnh); doanh thu năm 2006 đạt 47.000 triệu đồng, năm 2007 tăng thêm khoảng 2 tỷ đồng và năm 2008 tăng thêm 3 tỷ đồng.
- Về mặt văn hóa tổ chức, tác giả trích xuất chi tiết bộ quy chuẩn văn hóa ứng xử nội bộ và phục vụ khách hàng: tiêu chuẩn đồng phục, ngôn ngữ hình thể 5 điểm, nguyên tắc dịch vụ 4S, và quy trình xử lý phàn nàn 8 bước.
- Nghiên cứu phản ánh trung thực các hạn chế văn hóa còn tồn tại trong vận hành tại khách sạn: sự phân biệt thái độ đối với khách Trung Quốc do thói quen gây ồn, sự thiếu chuyên nghiệp trong quy tắc tiếp nhận điện thoại bàn (không báo khách chờ máy), thiếu sót trong bài trí phòng ăn (hoa héo chậm thay, sắp đặt dao dĩa chưa ngay ngắn).
- Đóng góp so với các tài liệu chung: Đề tài không dừng lại ở lý thuyết quản trị kinh doanh dịch vụ thông thường mà gắn các yếu tố kiến trúc, trang trí nội thất mang hồn cốt dân tộc (mây tre, tranh phong cảnh, đồi thông ven biển) vào việc hình thành bản sắc thương hiệu Saigontourist tại vùng duyên hải phía Bắc.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế về nội dung văn bản: Toàn văn tài liệu cung cấp chỉ dừng lại ở trang 50 (kết thúc Chương 2), hoàn toàn thiếu vắng nội dung chi tiết của Chương 3 (các giải pháp và kiến nghị cụ thể) cũng như phần Kết luận và Tài liệu tham khảo của tác giả.
- Hạn chế về phương pháp và dữ liệu: Đề tài chủ yếu sử dụng phương pháp mô tả và quan sát thực địa định tính, chưa triển khai các biểu mẫu khảo sát điều tra xã hội học bằng bảng hỏi (survey) đối với khách hàng để đo lường định lượng mức độ hài lòng về văn hóa phục vụ. Số liệu tài chính mới dừng ở mức doanh thu tổng hợp, chưa phân tích chi tiết chi phí và lợi nhuận thuần.
- Hướng mở rộng nghiên cứu: Cần hoàn thiện việc xây dựng hệ thống giải pháp nâng cao văn hóa kinh doanh theo đúng mục tiêu nghiên cứu số 3; thiết kế thang đo định lượng đánh giá sự cảm nhận của từng nhóm khách quốc tế (châu Âu, Đông Á) đối với văn hóa bản địa trong dịch vụ khách sạn.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng: Khóa luận là tài liệu tham khảo thiết thực cho sinh viên các ngành Văn hóa Du lịch, Quản trị Khách sạn, Quản trị Dịch vụ Du lịch và Lữ hành, cũng như các nhà nghiên cứu về văn hóa doanh nghiệp ngành dịch vụ.
- Nội dung ứng dụng: Phần phân tích chi tiết về quy chuẩn ngoại hình, đồng phục, quy trình giao tiếp qua điện thoại, xử lý tình huống khiếu nại (Chương 2) có thể sử dụng làm tài liệu đào tạo nghiệp vụ nội bộ cho nhân viên tiền sảnh, buồng phòng và nhà hàng tại các cơ sở lưu trú từ 3 đến 4 sao. Phần khảo sát thực trạng du lịch Quảng Ninh giai đoạn 1994–2007 cung cấp chuỗi số liệu lịch sử giá trị về sự chuyển dịch cơ cấu lưu trú và lao động ngành du lịch địa phương.
Câu hỏi thường gặp
1. Khách sạn Sài Gòn Hạ Long được thành lập trên cơ sở pháp lý nào và gồm những cổ đông sáng lập nào?
Khách sạn được thành lập theo Quyết định số 187-QĐUB ngày 20/11/1998 của UBND tỉnh Quảng Ninh, đăng ký kinh doanh theo Giấy chứng nhận số 056083 ngày 03/03/2007 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Quảng Ninh cấp. Đơn vị gồm 7 cổ đông sáng lập: Saigontourist, Công ty Bảo hiểm TP. Hồ Chí Minh (Bảo Minh), Công ty Tái bảo hiểm Quốc gia, Ngân hàng Công thương Sài Gòn, Công ty Xây lắp III Đà Nẵng (Bộ Thương mại), Công ty Liên doanh Hồng Hà, Du lịch Đường sắt và Saigontourist tại Hà Nội.
2. Tiêu chuẩn diện mạo và trang phục của nhân viên nam và nữ tại các bộ phận được quy định như thế nào?
Nhân viên nam không để tóc dài, không nhuộm màu, không xăm trổ, không bấm khuyên tai, đi giày đen và tất tối màu. Nhân viên nữ búi tóc sau gáy, không sơn móng tay dài, không đeo trang sức dài, đi giày đen đồng phục và tất da chân. Đồng phục phân theo bộ phận: Lễ tân mặc áo trắng, vest/váy boóc-đô (nữ có áo dài gấm); bộ phận nhà hàng mặc áo cổ tàu màu vàng nhạt hoặc sơ mi đỏ boóc-đô/trắng kết hợp gile; bộ phận buồng mặc áo cổ tàu ngắn tay màu vàng nhạt và quần đen. Tất cả nhân viên đeo biển tên bên ngực trái.
3. Quy trình 8 bước xử lý trường hợp khách hàng phàn nàn tại khách sạn được triển khai ra sao?
Quy trình gồm 8 bước bắt buộc: (1) Lắng nghe với sự cảm thông; (2) Tách rời khách khỏi khu vực đông người (nếu được); (3) Bình tĩnh và kiềm chế, luôn nhìn vào mắt khách; (4) Ghi chép và xác định lại vấn đề với khách; (5) Không bào chữa, đổ lỗi hoặc cãi khách; (6) Xin lỗi khách và đưa ra giải pháp; (7) Giải quyết cho khách và theo dõi kết quả; (8) Cảm ơn khách.
4. Cơ cấu nguồn khách quốc tế và nội địa của khách sạn trong giai đoạn 2007-2008 phân bổ như thế nào?
Khách quốc tế chiếm gần 80% tổng lượt khách, khách nội địa chiếm hơn 20%. Xét theo cơ cấu quốc tịch: khách Pháp, Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan chiếm 70%; khách Việt Nam, Việt kiều và khách lẻ chiếm 23%; khách Mỹ, Canada và các nước Đông Nam Á khác chiếm 7%.
5. Điểm đặc trưng trong phong cách kiến trúc và việc đưa chất liệu văn hóa vào không gian khách sạn là gì?
Khách sạn kết hợp hai phong cách: khối 5 biệt thự xây dựng năm 1994 mang phong cách kiến trúc Pháp cổ điển giữa rừng thông (liên tưởng tới Đà Lạt bên bờ biển), và tòa nhà 15 tầng khánh thành năm 2002 được thiết kế cách điệu hình cánh buồm hướng ra vịnh. Nội thất sử dụng chất liệu truyền thống địa phương gồm đồ gỗ lim và mây tre đan, phối gam màu vàng nhạt, kết hợp treo tranh phong cảnh dân gian Việt Nam.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Vũ Thị Khuyên đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận về văn hóa kinh doanh và đi sâu khảo sát thực tiễn tại Khách sạn Sài Gòn Hạ Long - một cơ sở lưu trú 4 sao tiêu biểu tại Quảng Ninh. Công trình phản ánh chân thực bức tranh tăng trưởng kinh tế, cơ sở vật chất kỹ thuật và các quy chuẩn văn hóa ứng xử, kiến trúc, ẩm thực gắn với thương hiệu Saigontourist giai đoạn 2002–2008. Mặc dù dữ liệu văn bản bị khuyết thiếu phần đề xuất giải pháp ở Chương 3, các số liệu và tư liệu nghiệp vụ được trích xuất trong khóa luận vẫn giữ nguyên giá trị tham khảo học thuật đối với chuyên ngành văn hóa du lịch và quản trị khách sạn.