CHƯƠNG 1: Phương pháp nghiên cứu Khái Niệm 1.1 Du lịch: Hoạt động du lịch trên thế giới hình thành từ rất sớm, từ thời kỳ cổ đại đến thời kỳ phong kiến, rồi đến cận đại và hiện đại. Hoạt động kinh doanh du lịch cũng dần được phát triển và ngày càng được nâng cao lên cả về cơ sở vật chất kỹ thuật đến các điều kiện về ăn, ở, đi lại, vui chơi, giải trí,…Ngày nay, hoạt động du lịch đã mang tính toàn cầu, du lịch trở thành một nhu cầu thiết yếu của người dân các nước kinh tế phát triển. Du lịch cũng là một tiêu chuẩn để đánh giá đúng mức sống của dân cư nước đó.Và vì vậy có rất nhiều cách hiểu khác nhau về du lịch. Hunziker và Kraff (Thụy Sỹ) đưa ra định nghĩa: Du lịch là tổng hợp những và các hiện tượng và các mối quan hệ nảy sinh từ việc di chuyển và dừng .lại của con người tại nơi không phải là nơi cư trú thường xuyên của họ; hơn nữa, họ không ở lại đó vĩnh viễn và không có bất kỳ hoạt động nào để có thu nhập tại nơi đến.
- Theo nhà kinh tế Kalisiotis, du lịch là sự di chuyển tạm thời của cá nhân hay tập thể từ nơi này đến nơi khác nhằm thoa mãn nhu cấu tinh thần, đạo đức, do đó tạo nên các hoạt động kinh tế. - Theo quan điểm của Robert W.R Brent Ritcie, du lịch là tổng hợp các mối quan hệ nảy sinh từ tác động qua lại giữa khách du lịch, nhà cung ứng, chính quyền và cộng đồng chủ nhà trong quá trình thu hút và đón tiếp khách du lịch. Với cách tiếp cận tổng hợp ấy, các thành phần tham gia vào tạ hoạt động du lịch bao gồm: (1) Khách du lịch; (2) Các doanh nghiệp cung cấp hàng hoá, dịch vụ cho khách du lịch; (3) Chính quyền sở tại; (4) Cộng đồng dân cư địa phương. 13 - Theo WTO: Du lịch là tất cả những hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ không quá 12 tháng với mục đích nghỉ ngơi, giải trí, công vụ và nhiều mục đích khác.
- Theo định nghĩa của Tổ chức Du lịch Thế giới:Du lịch được hiểu là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ với mục đích hòa bình. Nơi họ đến không phải là nơi làm việc của họ. - Theo tổng cục du lịch ( pháp lệnh du lịch) : Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi ở thường xuyên của mình nhằm thoả mãn các nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định. Du lịch có thể hiểu một cách tổng quát là tổng hợp các quan hệ, hiện tượng và hoạt động kinh tế bắt nguồn từ cuộc hành trình và lưu trú tạm thời của một du khách nhằm thoả mãn các nhu cầu khác nhau với mục đích hoà bình hữu nghị.
- Luật Du lịch Việt Nam (được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 7, Khóa XI năm 2005) đã nêu khái niệm về du lịch như sau:Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định.2 Khách du lịch Ngành du lịch muốn hoạt động và phát triển thì đối tượng “ khách du lịch” là nhân tố quyết định. Nếu không có “ khách du lịch” thì các nhà kinh doanh du lịch không thể kinh doanh được, không có “khách du lịch” thì hoạt động của các nhà kinh doanh du lịch trở lên vô nghĩa. Nếu xét trên góc độ thị trường thì “khách du lịch” chính là “cầu thị trường”, còn các nhà kinh doanh du lịch là “cung thị trường”. Vậy “khách du lịch” là gì ? 14 1.1 Định nghĩa là khách du lịch của Việt Nam.
Trong pháp lệnh du lịch của Việt Nam ban hành 1999 có nói: “khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến. Sau khi nhận thức định nghĩa khách du lịch thì việc phân loại khách du lịch có ý nghĩa quan trọng.Từ đó giúp tạo điều kiện cho việc nghiên cứu, thống kê các chỉ tiêu về du lịch. Ngày 4/3/1993 theo đề nghị của Tổ chức du lịch thế giới ( WTO ), hội đồng thống kê Liên hợp quốc ( UNITEL NATIONS STATISTICAL COMMISSION ) đã công nhận những thuật ngữ để thống nhất việc soạn thảo kê du lịch: Khách du lịch quốc tế ( International Tourist ) bao gồm: - Khách du lịch quốc tế đến ( Inbound Tourist ) : gồm những người từ nước ngoài đến du lịch ở một quốc gia khác. - Khách du lịch quốc tế ra nước ngoài ( Outbound Tourist ) : gồm những người đang sống trong một quốc gia đi du lịch ra nước ngoài.
Khách du lịch trong nước ( Internal Tourist ): gồm những người là công dân của một quốc gia và những người nước ngoài đang sống trên lãnh thổ của quốc gia đó đi du lịch trong nước. - Khách du lịch nội địa ( Domestis Tourist ): gồm khách du lịch trong nước và khách du lịch quốc tế đến. - Khách du lịch quốc gia ( National Tourist ): gồm khách du lịch trong nước và khách du lịch quốc tế ra nước ngoài. Theo pháp lệnh du lịch của Việt Nam ban hành năm 1990: Khách du lịch bao gồm khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế.
15 - Khách du lịch là công dân Việt Nam và người nước ngoài cư trú tại Việt Nam đi du lịch tham quan trong lãnh thổ Việt Nam. - Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người nước ngoài cư trú tại Việt nam ra ngước ngoài du lịch Còn các cách phân loại khác. - Phân loại khách du lịch theo nguồn gốc dân tộc: qua việc phân loại này các nhà kinh doanh du lịch nắm được nguồn gốc khách, hiểu được mình đang phục vụ ai ?khách thuộc dân tộc nào ? nhận biết được văn hóa của khách để phục vụ tốt hơn. - Phân loại theo độ tuổi, giới tính, nghề nghiệp: các nhà kinh doanh sẽ nắm bắt được cơ cấu khách, các yêu cầu cơ bản và đặc trưng tâm lý về khách du lịch.
- Phân loại khách theo khả năng thanh toán: việc xác định khả năng thanh toán của khách du lịch sẽ là điều kiện để các nhà kinh doanh cung cấp các dịch vụ một các tương ứng thích hợp khả năng chi trả của từng đối tượng khách.3 Khách du lịch công vụ. Đối với các quốc gia phát triển thì thị trường khách du lịch công vụ đã hình thành và phát triển từ rất sớm, nhưng riêng Việt Nam đây là một thị trường khá mới, một thị trường tiềm năng và có khả năng đem lại doanh thu lớn cho ngành du lịch và góp phần không nhỏ cho kinh tế của Việt Nam. Một định nghĩa khách công vụ được sử dụng phổ biến trên thế giới như sau: khách du lịch công vụ là khách du lịch mà mục đích chính của chuyến đi là tham gia một hoạt động hoặc sự kiện nào đó liên quan đến công việc của đối tượng khách này. Tuy nhiên ở Việt Nam thì chưa có định nghĩa thống nhất về đối tượng khách này, theo giáo trình kinh tế du lịch ( trường đại học Kinh Tế quốc dân – khoa du lịch ) cho biết: du lịch công vụ - mục đích chính của hình thức du lịch này là nhằm thực 16 hiện nhiệm vụ công tác hoặc nghề nghiệp nào đó.
Với mục đích này, khách đi tham dự các cuộc hội nghị, hội thảo, kỷ niệm các ngày lễ lớn, các cuộc gặp gỡ, các cuộc triển lãm hang hóa, hội chợ quảng bá … Trong sơ đồ thống kê, khách công vụ được xếp vào khách du lịch gồm khách đi vì mục đích họp mặt, hội nghị, công vụ khen thưởng hoặc mục đích khác … Bên cạnh đó còn một số đối tượng khách khác như là khách thương gia. Đó là những người đi tìm hiểu thị trường, nghiên cứu thị trường, nghiên cứu các dự án đầu tư và ký kết các hợp đồng. Ngoài ra theo trường Đại học kinh tế quốc dân định đưa ra hai định nghĩa. Khách công vụ: là những người đi lu lịch nước ngoài với những mục đích chính liên quan đến nghề nghiệp của mình.
Khách thương gia: là khách du lịch công vụ với mục đích của chuyến đi là nghiên cứu thị trường, tìm hiểu cơ hội đầu tư, ký kết hợp đồng kinh tế. Mọi dịch vụ đối ngoại liên quan đến công vụ được cơ quan doanh nghiệp cử đi hoặc các sự kiện gặp khách hang đối tác liên quan đến lợi ích của công ty đều được công ty thanh toán toàn bộ tiền dịch vụ. Ngoài ra còn khách đến các thành phố khác tìm cơ hội làm ăn kí kết hợp đồng …được coi la khách hàng thương gia, họ tự động thanh toán tiền các khoản chi phí đã sử dụng. Tất cả họ ngoài mục đích công vụ họ rất hay kết hợp đi nghỉ dưỡng, tham quan, thư giãn, mua sắm … làm gia tang doanh thu lớn cho các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ du lịch như nhà hàng, khách sạn, điểm tham quan cũng như các công ty lữ hành nắm bắt được thị phần khách du lịch này.
Tuy nghiên đối tượng khách du lịch công vụ mặc dù chưa phát triển mạnh ở nước ta, nhưng trong thời gian tới đó sẽ là một thị trường cực kì tiềm năng, mang lại doanh thu không nhỏ cho ngành du lịch Việt Nam.4 Loại hình du lịch MICE Du lịch MICE (tên đầy đủ tiếng Anh là Meeting Incentive Conference Event) là loại hình du lịch kết hợp hội nghị, hội thảo, triển lãm, tổ chức sự kiện, du lịch khen thưởng của các công ty cho nhân viên, đối tác.Các đoàn khách MICE thường rất đông khách và đặc biệt mức chi tiêu cao hơn các đoàn khách du lịch thông thường. Do đó du lịch MICE hiện là loại hình du lịch mang lại nguồn thu rất lớn cho ngành kinh tế. Khách MICE thường là khách hạng sang, giàu có, mức chi cho tiêu dùng cao, sử dụng nhiều dịch vụ cao cấp, thời gian lưu trú dài ngày. Khách du lịch MICE bao gồm khách MICE nội địa và khách MICE quốc tế.Ngoài lợi ích cho ngành du lịch, MICE còn tác động tích cực đến các ngành kinh tế khác.