Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Văn hóa học (mã số 9229040) với đề tài "Văn hóa giáo dục trong gia đình người Việt Tây Nam Bộ" do nghiên cứu sinh Trương Thị Lam Hà thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (năm 2023), dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Ngô Văn Lệ. Hội đồng phản biện gồm các nhà khoa học: PGS.TS. Nguyễn Chí Bền, TS. Đỗ Ngọc Anh (phản biện độc lập); PGS.TS. Phạm Đức Thành, PGS.TS. Võ Sông Hương (phản biện).
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, giáo dục là nền tảng cốt lõi thúc đẩy hội nhập và đảm bảo sự tồn tại của xã hội. Trong hệ thống các môi trường giáo dục, gia đình là nơi khởi đầu quá trình xã hội hóa (socialization), trao truyền các giá trị cá nhân và chuẩn mực xã hội. Bối cảnh chuyển đổi xã hội Việt Nam từ truyền thống sang hiện đại đang đặt ra yêu cầu định hình văn hóa giáo dục gia đình nhằm phát huy bản sắc văn hóa. Thực tiễn vùng Tây Nam Bộ (Đồng bằng sông Cửu Long - ĐBSCL) cho thấy đây là khu vực có nhiều chỉ số giáo dục nhà trường thấp hơn mức bình quân chung của cả nước (tỷ lệ phòng học/lớp học, tỷ lệ nhập học các cấp, tỷ lệ học lên cao đẳng/đại học, tỷ lệ lao động qua đào tạo, ngân sách chi cho giáo dục), trong khi tỷ lệ mù chữ/tái mù chữ và tỷ lệ bỏ học lại ở mức cao (theo số liệu Tổng cục Thống kê, 2020). Dữ liệu từ cuộc điều tra vị thành niên Việt Nam lần 2 (SAVY 2, 2009) chỉ ra rằng đặc trưng gia đình giữ vai trò quyết định trong việc duy trì học vấn cho thanh thiếu niên. Tây Nam Bộ có nguồn nhân lực dồi dào nhưng chất lượng còn hạn chế; việc lý giải các đặc điểm văn hóa giáo dục gia đình gắn liền với bối cảnh kinh tế, văn hóa, xã hội của vùng đất này là một khoảng trống học thuật cần được giải quyết dưới góc độ Văn hóa học.
Luận án xác định 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Nhận diện đặc điểm của văn hóa giáo dục trong gia đình người Việt Tây Nam Bộ.
- Lý giải nguyên nhân hình thành đặc điểm văn hóa giáo dục trong gia đình người Việt Tây Nam Bộ.
- Tìm hiểu hệ quả tích cực và tiêu cực của văn hóa giáo dục trong gia đình người Việt Tây Nam Bộ đến việc đào tạo nguồn nhân lực.
Tương ứng với mục tiêu, luận án đặt ra 3 câu hỏi nghiên cứu:
- Văn hóa giáo dục trong gia đình người Việt Tây Nam Bộ có đặc điểm gì?
- Nguyên nhân hình thành những đặc điểm của văn hóa giáo dục trong gia đình người Việt Tây Nam Bộ?
- Hệ quả tích cực và tiêu cực của văn hóa giáo dục trong gia đình người Việt Tây Nam Bộ trong việc đào tạo nguồn nhân lực?
Để trả lời các câu hỏi trên, 3 giả thuyết nghiên cứu được xác lập:
- Văn hóa giáo dục trong gia đình người Việt Tây Nam Bộ có những đặc điểm riêng thể hiện qua nhận thức về giáo dục trong gia đình và vai trò của nó, tổ chức hoạt động giáo dục và ứng xử trong giáo dục.
- Đặc điểm của văn hóa giáo dục trong gia đình người Việt Tây Nam Bộ phản ánh đặc điểm văn hóa vùng Tây Nam Bộ, được hình thành do những điều kiện đặc thù về không gian văn hóa, chủ thể văn hóa, tiến trình lịch sử văn hóa và những biến chuyển trong thời hiện đại, hội nhập toàn cầu.
- Đặc điểm văn hóa giáo dục trong gia đình người Việt Tây Nam Bộ có những hệ quả tích cực và tiêu cực đối với việc đào tạo nguồn nhân lực, phát triển vốn xã hội, từ đó đưa ra những vấn đề cần phát huy những giá trị tích cực và hạn chế những điểm tiêu cực của văn hóa giáo dục trong gia đình người Việt Tây Nam Bộ.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là văn hóa giáo dục trong gia đình người Việt ở Tây Nam Bộ, tập trung vào quá trình nhận thức, tổ chức và ứng xử giáo dục của các thành viên dưới tác động của bối cảnh văn hóa. Khách thể nghiên cứu bao gồm hai nhóm: Nhóm 1 (Ông bà, Cha mẹ) và Nhóm 2 (Con cái). Về phạm vi không gian, luận án khảo sát trong phạm vi 13 tỉnh, thành phố Tây Nam Bộ, lựa chọn 3 địa bàn điển hình: tỉnh Long An (thượng châu thổ), thành phố Cần Thơ và tỉnh Cà Mau (hạ châu thổ). Về phạm vi thời gian, công trình nghiên cứu giai đoạn hiện đại từ mốc Đổi mới năm 1986 đến nay, với các đợt khảo sát điền dã thực tế được tiến hành từ năm 2015 đến năm 2022.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan lịch sử nghiên cứu của luận án được phân chia thành hai khu vực tài liệu nước ngoài và trong nước.
Về tài liệu quốc tế, các công trình tiếp cận giáo dục từ góc độ xã hội học, tâm lý học và văn hóa học. Các học giả như T. Parsons (1952), É. Durkheim (1956), J. Dewey (1997) đặt nền tảng về vai trò giáo dục trong hội nhập xã hội. Nghiên cứu của M. McLeskey (2010), H. Jacobs (2011) dựa trên khung khác biệt giá trị văn hóa của G. Hofstede để phân tích sự chi phối của văn hóa cá nhân và tập thể đến giáo dục. G. Biesta (2011) nghiên cứu sự chuyển biến từ văn hóa học tập (learning cultures) sang văn hóa giáo dục (educational cultures), định nghĩa văn hóa giáo dục là văn hóa học tập được đóng khung bởi các mục đích cụ thể. W. Jeynes (2017) và B. Schubart (2018) khẳng định ảnh hưởng của văn hóa giáo dục gia đình đối với sự thành công học đường của học sinh. H. Swift (2014) trong Family Values: The Ethics of Parent - Child Relationships phân tích quan hệ đạo đức và quyền nuôi dạy con cái. K. Patrician (2015) nghiên cứu sự thay đổi văn hóa giáo dục gia đình để thúc đẩy kết quả học tập. Trần Hạc Cầm (Chen He Qin, 2006, 2012) đề xuất lý thuyết "giáo dục sống" (Living Education), nhấn mạnh phương pháp học qua việc làm và vai trò cốt lõi của người mẹ. I. Kacane (2020) nghiên cứu sự kết nối gia đình trong giáo dục văn hóa. P. Nandi (1994) xem xét văn hóa giáo dục ở thế giới thứ ba dưới tàn dư thuộc địa. J. Bailey (2012) nghiên cứu việc trao truyền giá trị qua các thế hệ gia đình tại Anh (1760–1830). Tại Đông Á, truyền thống giáo dục gia đình thể hiện qua hệ thống gia huấn như Nhan Thị gia huấn (Nhan Chi Suy), Chu Hy gia huấn, Gia lễ (Chu Hy), Dương Minh gia huấn (Vương Dương Minh), Trị gia cách ngôn, Khuyến hiếu ca (Chu Bách Lư).
Về tài liệu trong nước, luận án tổng hợp 3 nhóm nghiên cứu chính:
- Nghiên cứu văn hóa gia đình: Các công trình phong tục truyền thống của Toan Ánh (1914, 1968), Phan Kế Bính (1915), Vũ Văn Khiếu (1970), Phạm Côn Sơn (1996, 2004), Vũ Ngọc Khánh (2012). Các nghiên cứu chuyên sâu về văn hóa gia đình Việt Nam của Lê Minh (1994), Võ Thị Cúc (1997), Ngô Văn Lệ (1997b), Vũ Ngọc Khánh (1998), Lê Như Hoa (2001), Đặng Cảnh Khanh (2003), Lê Thi (2003). Về gia đình Tây Nam Bộ, Đỗ Thái Đồng (1991) nhận diện tính chất "nửa hạt nhân hóa", giảm bớt tính gia trưởng Nho giáo; Trần Ngọc Thêm (2014) chỉ rõ đặc trưng tổ chức gia đình độc lập, trọng bên ngoại, dân chủ, tình cảm; Phan An (2015) phân tích vị thế người con gái út; Ngô Văn Lệ (2017a) nghiên cứu quan hệ làng và dòng họ, nhấn mạnh vai trò người phụ nữ và quyền thừa kế của con gái; các luận án của Vũ Thị Phương (2014) tại Sóc Trăng và Lưu Công Minh (2020) tại Tiền Giang phân tích văn hóa ứng xử gia đình.
- Nghiên cứu văn hóa giáo dục và giáo dục Tây Nam Bộ: Văn hóa học đường và văn hóa giáo dục đổi mới được nghiên cứu bởi Phạm Minh Hạc (2009), Nguyễn Ngọc Phú (2009), Nguyễn Duy Bắc (2011), Giang Quân (2014). Về thực trạng giáo dục trường học tại Tây Nam Bộ nhằm phát triển nhân lực, các công trình tiêu biểu gồm Nguyễn Ngọc Giao (1996), Đào Trọng Hùng (1996, 2004), Bùi Thị Thu Hà (2004), Mai Ngọc Luông (2004, 2007), Vũ Văn Ngọc (2005).
- Nghiên cứu văn hóa giáo dục trong gia đình: Các thể loại gia huấn truyền thống (Gia huấn ca của Nguyễn Trãi, Ngũ huấn tự quốc âm của Nguyễn Tông Khuê, Huấn tử quốc âm ca của Đặng Xuân Bảng...); các công trình của Trần Trọng Kim (1950), Vũ Khiêu (1974), Nguyễn Hiến Lê (1955, 1958); các nghiên cứu xã hội hóa gia đình của Lê Ngọc Văn (1996), Lê Thi (1997), Behrman & Knowles (1999), Nguyễn Hồng Hà (2012). Hướng nghiên cứu so sánh giáo dục gia đình có Hoàng Mai Khanh (2015) và Nguyễn Khánh Trung (2016) so sánh Việt – Pháp. Về giáo dục gia đình tại ĐBSCL, Hà Thúc Dũng & Nguyễn Ngọc Anh (2012) nghiên cứu định hướng học tập và nghề nghiệp; Nguyễn Văn Tiệp (2017) phân tích bất bình đẳng giới và các yếu tố kinh tế - học vấn tác động đến việc học của con cái; Đặng Thị Hoa (2008) và Trần Thị Kim Xuyến (2014) nghiên cứu sự biến đổi chức năng giáo dục gia đình nông thôn ven đô.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Các công trình trước đây tại Tây Nam Bộ chủ yếu tiếp cận dưới góc độ xã hội học, giáo dục học, nhân học hoặc chỉ phân tích giáo dục nhà trường, khảo sát đơn lẻ một tỉnh/thành. Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống về văn hóa giáo dục trong gia đình người Việt Tây Nam Bộ dưới góc độ chuyên ngành Văn hóa học. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách kết hợp phương pháp định tính và định lượng để nhận diện các đặc trưng nhận thức, tổ chức, ứng xử giáo dục gia đình gắn với bối cảnh sinh thái – văn hóa vùng ĐBSCL.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và các khái niệm công cụ
Luận án xác lập khung khái niệm và hệ thống lý thuyết tiếp cận đa chiều:
- Khái niệm cơ bản: Tiếp cận định nghĩa văn hóa của Trần Ngọc Thêm (hệ thống giá trị do con người sáng tạo và tích lũy qua tương tác với tự nhiên và xã hội); định nghĩa giáo dục theo nghĩa rộng (Dewey, Rousseau, Bruner) gồm cả phương thức trực tiếp và gián tiếp, có chủ đích và không chủ đích; định nghĩa văn hóa giáo dục (G. Biesta, R. Barth) là hệ thống giá trị được truyền đạt và lĩnh hội qua quá trình giáo dục; định nghĩa gia đình (nhóm người gắn bó dựa trên huyết thống, hôn nhân hoặc nuôi dưỡng); văn hóa gia đình (Lê Ngọc Văn); và khái niệm văn hóa giáo dục trong gia đình (hệ thống các giá trị nhận thức, tổ chức và ứng xử được chia sẻ, trao truyền giữa các thành viên gia đình).
- Lý thuyết vùng văn hóa: Phân tích văn hóa giáo dục trong tính thống nhất của không gian địa - văn hóa Tây Nam Bộ, hình thành từ điều kiện sinh thái sông nước, lịch sử khẩn hoang và giao lưu văn hóa đa tộc người.
- Lý thuyết hành xử (Practice Theory của Pierre Bourdieu): Giải thích sự phân hóa trong thực hành giáo dục giữa các nhóm xã hội thông qua sự tích lũy và chuyển hóa các loại vốn (vốn kinh tế, vốn văn hóa, vốn xã hội) và sự hình thành tập tính (habitus) trong từng gia đình.
- Lý thuyết hệ thống sinh thái (Ecological Systems Theory của Urie Bronfenbrenner): Phân tích sự tương tác giữa các cấp độ môi trường tác động đến sự phát triển của cá nhân (vi mô: gia đình; trung gian: gia đình – nhà trường; ngoại cảnh: cộng đồng; vĩ mô: hệ giá trị văn hóa - xã hội).
Phương pháp tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp tiếp cận liên ngành (Văn hóa học là chủ đạo kết hợp Giáo dục học, Dân tộc học, Nhân học, Xã hội học, Sử học, Địa lý học, Tâm lý học, Văn học dân gian) và tiếp cận hệ thống.
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm được kết hợp giữa định tính và định lượng:
- Nghiên cứu định tính (phương pháp chủ đạo): Thực hiện bằng ghi chép thực địa (fieldnotes), nhật ký điền dã, quan sát không tham gia, phỏng vấn hồi cố, nghiên cứu lời kể và phỏng vấn sâu bán cơ cấu. Tổng cộng có 75 cuộc phỏng vấn sâu, bao gồm 48 cuộc phỏng vấn đối tượng hộ gia đình (24 người thuộc nhóm ông bà/cha mẹ và 24 người thuộc nhóm con cái) tại 3 tỉnh/thành và 27 cuộc phỏng vấn sâu với chuyên gia, cán bộ quản lý địa phương và người am hiểu văn hóa.
- Nghiên cứu định lượng: Khảo sát bảng hỏi với dung lượng mẫu 240 hộ gia đình tại 3 tỉnh/thành phố đại diện. Mẫu được chọn theo phương pháp phân tầng kết hợp hạn ngạch phi xác suất chỉ tiêu (mỗi tỉnh/thành 80 hộ, gồm 1 quận/thành phố đô thị 40 hộ và 1 huyện nông thôn 40 hộ; mỗi xã/phường 40 hộ; mỗi khóm/ấp 20 hộ). Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS.
| Tỉnh / Thành phố |
Địa bàn quận / huyện |
Địa bàn xã / phường |
Địa bàn khóm / ấp |
Mẫu định tính (Phỏng vấn sâu) |
Mẫu định lượng (Bảng hỏi hộ) |
| Long An (Thượng châu thổ) |
Tp. Tân An |
P. Tân Khánh |
KP. Nhơn Cầu, KP. Thủ Tửu 2 |
8 |
40 |
|
H. Châu Thành |
X. Hòa Phú |
Ấp 1, Ấp 2 |
8 |
40 |
| Cần Thơ (Hạ châu thổ - đô thị trung tâm) |
Q. Bình Thủy |
P. An Thới |
KV. 3, KV. 4 |
8 |
40 |
|
H. Phong Điền |
X. Nhơn Ái |
Ấp Nhơn Bình A, Ấp Nhơn Thọ 2 |
8 |
40 |
| Cà Mau (Hạ châu thổ - sinh thái mặn/rừng/biển) |
Tp. Cà Mau |
Phường 4 |
Khóm 3, Khóm 5 |
8 |
40 |
|
H. Trần Văn Thời |
X. Khánh Bình Tây Bắc |
Ấp 4, Ấp Mũi Tràm B |
8 |
40 |
| Tổng cộng |
6 quận/huyện |
6 xã/phường |
12 khóm/ấp/khu phố |
48 PV sâu hộ (+ 27 chuyên gia = 75) |
240 hộ gia đình |
Đặc điểm mẫu định lượng (N = 240): Về nghề nghiệp: nông nghiệp chiếm 21,7%, công nhân chiếm 15,8%, doanh nhân/tiểu thương chiếm 16,1%, các ngành nghề khác chiếm 28,4%. Độ tuổi: 23–36 tuổi (20,0%), 37–48 tuổi (56,3%), 49–60 tuổi (19,2%), trên 60 tuổi (4,6%); tỷ lệ giới tính gồm 40,0% nam và 60,0% nữ. Tôn giáo: không theo tôn giáo (81,7%), Phật giáo (13,3%), Công giáo (2,9%), Phật giáo Hòa Hảo (1,3%). Trình độ học vấn: không biết đọc/viết (1,3%), Tiểu học (11,7%), Trung cấp – Cao đẳng – Đại học (20,0%). Thu nhập bình quân cá nhân khoảng 6 triệu đồng/tháng, thu nhập hộ gia đình khoảng 12 triệu đồng/tháng. Loại hình gia đình: gia đình hạt nhân (67,5%), gia đình mở rộng (27,6%), gia đình khác gồm đơn thân/ly hôn/khuyết thế hệ (4,9%).
- Phương pháp so sánh đối chiếu: So sánh lịch đại (truyền thống và hiện đại) và đồng đại (nông thôn và đô thị; nội vùng Tây Nam Bộ và so sánh với Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Hồng).
- Nguồn tư liệu: Tư liệu sơ cấp từ điền dã thực địa (2015–2022); tư liệu thứ cấp từ văn kiện, niên giám thống kê, văn học dân gian (ca dao, dân ca, truyện kể Nam Bộ), hồi ký và tài liệu lịch sử.
Nội dung chính theo từng chương
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Chương 1 hệ thống hóa các tiền đề lý luận và bối cảnh thực tiễn hình thành văn hóa giáo dục gia đình người Việt Tây Nam Bộ:
- Xây dựng hệ khái niệm công cụ: văn hóa, giáo dục, văn hóa giáo dục, gia đình, văn hóa gia đình và văn hóa giáo dục trong gia đình. Cấu trúc hóa các thành tố của văn hóa giáo dục gia đình thành 3 bộ phận: văn hóa nhận thức, văn hóa tổ chức và văn hóa ứng xử trong giáo dục.
- Luận giải 3 khung lý thuyết tiếp cận: Lý thuyết vùng văn hóa, Lý thuyết hành xử (Practice Theory) và Lý thuyết hệ thống sinh thái (Ecological Systems Theory).
- Phân tích tọa độ văn hóa và cơ sở thực tiễn hình thành văn hóa giáo dục gia đình người Việt Tây Nam Bộ:
- Môi trường tự nhiên và sinh thái sông nước: Hệ thống kênh rạch chằng chịt, chế độ thủy văn nước nổi, nguồn lợi tự nhiên phong phú đã tạo nên tính cách phóng khoáng, thực tế, linh hoạt và lối sống dựa vào tự nhiên của cư dân.
- Tiến trình lịch sử và chủ thể văn hóa: Lịch sử khẩn hoang phương Nam từ thế kỷ XVII–XVIII quy tụ các luồng di dân; quá trình thích nghi sinh tồn đòi hỏi sự cộng tác thực tế hơn là các ràng buộc lễ giáo phong kiến hà khắc.
- Bối cảnh giao lưu tiếp biến văn hóa: Sự cộng cư lâu đời giữa người Việt với người Khmer, Hoa, Chăm và giao lưu văn hóa phương Tây thời kỳ cận - hiện đại tạo nên tính dung nạp, cởi mở trong đời sống tinh thần.
- Tổng quan địa bàn nghiên cứu qua việc phân định 2 tiểu vùng sinh thái - văn hóa: Thượng châu thổ (Long An - đại diện cho vùng đất giáp ranh đô thị lớn, tính chất bán công - bán nông) và Hạ châu thổ (Cần Thơ - đại diện cho đô thị trung tâm dịch vụ thương mại; Cà Mau - đại diện cho tiểu vùng ngập mặn kết hợp kinh tế rừng - biển).
CHƯƠNG 2: VĂN HÓA NHẬN THỨC VỀ GIÁO DỤC TRONG GIA ĐÌNH CỦA NGƯỜI VIỆT TÂY NAM BỘ
Chương 2 phân tích các chiều kích nhận thức của cha mẹ và các thế hệ trong gia đình về hoạt động giáo dục:
- Nhận thức về mục tiêu giáo dục: Cư dân người Việt Tây Nam Bộ đặt mục tiêu giáo dục gia đình hàng đầu vào việc đào tạo con cái thành người có đạo đức, biết tự lập, hiếu thảo và có khả năng hòa nhập xã hội. Mục tiêu học vấn để làm quan hay đỗ đạt cao mang tính thứ yếu so với mục tiêu học để có nghề nghiệp ổn định mưu sinh.
- Nhận thức về nội dung giáo dục:
- Giáo dục đạo đức: Tập trung vào chữ Hiếu, sự lễ phép, thật thà, trọng nghĩa khinh tài, tinh thần tương thân tương ái, trượng nghĩa và lòng tự trọng.
- Giáo dục tri thức: Nhận thức về giá trị của học vấn có sự phân hóa rõ nét theo trình độ học vấn và điều kiện kinh tế của cha mẹ (thể hiện qua Bảng 3 và Bảng 4 của luận án). Các gia đình có học vấn từ trung cấp/đại học trở lên đặt kỳ vọng cao hơn vào bậc học cao đẳng, đại học cho con; trong khi nhóm học vấn phổ thông thường hướng con học nghề hoặc đi làm sớm.
- Giáo dục kỹ năng: Chú trọng kỹ năng sinh tồn thực tế (bơi lội, thích nghi môi trường sông nước), kỹ năng lao động sản xuất và hỗ trợ việc nhà (thể hiện tương quan nghề nghiệp cha mẹ qua Biểu đồ 5).
- Giáo dục giá trị gia đình và cộng đồng: Nhận thức sâu sắc về việc duy trì tình cảm ruột thịt, sự gắn kết họ hàng đôi bên nội - ngoại, lối sống hài hòa với xóm giềng.
- Nhận thức về vai trò giáo dục gia đình trong tương quan với nhà trường và xã hội:
- Gia đình được xác định là nền tảng đầu tiên hình thành nhân cách, nhưng có xu hướng chuyển giao việc giáo dục tri thức khoa học và hướng nghiệp cho nhà trường.
- Nhận thức về mối quan hệ gia đình – nhà trường ngày càng chặt chẽ nhưng vẫn còn một bộ phận phụ huynh ỷ lại vào trách nhiệm giáo dục của nhà trường.
- Nhận thức về tác động của các yếu tố xã hội đương đại (mạng xã hội, tệ nạn xã hội, quá trình đô thị hóa) đến việc làm thay đổi quan niệm giáo dục con cái (Biểu đồ 7, Biểu đồ 8).
CHƯƠNG 3: VĂN HÓA TỔ CHỨC VÀ ỨNG XỬ TRONG GIÁO DỤC TRONG GIA ĐÌNH CỦA NGƯỜI VIỆT TÂY NAM BỘ
Chương 3 làm sáng tỏ phương thức thực hành giáo dục qua hai thành tố tổ chức và ứng xử:
- Văn hóa tổ chức giáo dục trong gia đình:
- Nhìn từ thành viên: Phân định trách nhiệm giữa các thành viên. Người mẹ giữ vai trò trực tiếp uốn nắn, chăm sóc và theo sát việc học tập hàng ngày; người cha đóng vai trò định hướng lớn và làm gương; ông bà trong gia đình mở rộng tham gia trao truyền kinh nghiệm sống và các chuẩn mực đạo đức dân gian.
- Nhìn từ hình thức và phương pháp: Kết hợp các phương pháp nêu gương (thân giáo), khuyên bảo, giải thích, trải nghiệm thực tiễn qua lao động. Sử dụng linh hoạt hình thức khen thưởng (khen ngợi, tặng quà, cho đi du lịch trải nghiệm) và hình thức kỷ luật/phạt (nhắc nhở, trách phạt, hạn chế sở thích cá nhân; giảm thiểu tối đa đòn roi bạo lực so với truyền thống).
- Nhìn từ không gian và thời gian: Không gian giáo dục diễn ra tự nhiên trong sinh hoạt gia đình (bàn ăn gia đình, gian nhà chính, góc học tập) và không gian mở ngoài thiên nhiên. Thời gian tương tác giữa cha mẹ và con cái chịu ảnh hưởng trực tiếp từ cấu trúc công việc và trình độ học vấn của phụ huynh (Biểu đồ 6).
- Văn hóa ứng xử trong giáo dục:
- Ứng xử theo trục dọc (Cha mẹ - con cái, Ông bà - cháu): Đậm tính dân chủ, tình cảm, cởi mở, lắng nghe ý kiến con cái. Hạn chế tính áp đặt quyền uy tuyệt đối kiểu gia trưởng truyền thống. Người con út và con gái nhận được sự quan tâm, bình đẳng về quyền lợi giáo dục và thừa kế.
- Ứng xử theo trục ngang (Anh chị em): Giáo dục tinh thần nhường nhịn, tương trợ lẫn nhau ("anh em như thể tay chân"). Khi giải quyết xung đột anh chị em, cha mẹ ưu tiên phương pháp phân tích đúng sai, hòa giải bình đẳng.
- Ứng xử giữa gia đình với các mối quan hệ bên ngoài: Gia đình giữ mối liên hệ tôn trọng với thầy cô giáo, nhà trường; phối hợp với cộng đồng xóm giềng trong việc quản lý, uốn nắn hành vi xã hội của con trẻ. Phân tích cách uốn nắn xưng hô của con cái trong tương quan trình độ học vấn phụ huynh (Bảng 5).
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt khoa học và lý luận
- Luận án là công trình chuyên khảo đầu tiên thuộc chuyên ngành Văn hóa học nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống về văn hóa giáo dục trong gia đình người Việt Tây Nam Bộ, xác lập khung lý thuyết liên ngành kết hợp giữa lý thuyết Vùng văn hóa, lý thuyết Hành xử của P. Bourdieu và lý thuyết Hệ thống sinh thái của U. Bronfenbrenner.
- Làm sáng tỏ cơ chế tác động của điều kiện tự nhiên sông nước, lịch sử khai hoang mở đất và quá trình giao lưu đa văn hóa lên sự hình thành hệ giá trị giáo dục gia đình đặc thù của người Việt Tây Nam Bộ: tính thực tiễn, tính dân chủ, coi trọng tình cảm, linh hoạt và thích ứng cao.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Cung cấp bộ dữ liệu thực nghiệm gồm 75 biên bản phỏng vấn sâu và 240 bảng hỏi định lượng tại 3 địa bàn đại diện (Long An, Cần Thơ, Cà Mau), phản ánh bức tranh chân thực về thực trạng nhận thức, tổ chức và ứng xử giáo dục gia đình vùng ĐBSCL trong thời kỳ đổi mới và hội nhập.
- Chỉ ra các hệ quả tác động trực tiếp đến chất lượng nguồn nhân lực:
- Hệ quả tích cực: Giáo dục tính tự lập sớm, kỹ năng thích ứng môi trường linh hoạt, tinh thần hòa đồng, hiếu nghĩa, trọng tình nghĩa và quan hệ gia đình cởi mở, bình đẳng giới.
- Hệ quả tiêu cực (hạn chế): Tính thực dụng ngắn hạn, tâm lý thỏa mãn với cuộc sống hiện tại, việc chưa xem trọng việc đầu tư học vấn chuyên sâu dài hạn ở một bộ phận gia đình nông dân, dẫn đến tỷ lệ học lên đại học và lao động qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật của vùng còn thấp.
- Cung cấp tài liệu tham khảo khoa học có giá trị phục vụ công tác đào tạo, nghiên cứu các học phần: Văn hóa gia đình, Văn hóa Nam Bộ, Văn hóa giáo dục tại các trường đại học, viện nghiên cứu; cung cấp cơ sở dữ liệu thực tiễn cho việc hoạch định chính sách phát triển giáo dục và nguồn nhân lực vùng Tây Nam Bộ.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của luận án:
- Quá trình điền dã thực địa trong các năm 2021–2022 bị gián đoạn và hạn chế bởi đại dịch COVID-19, dẫn đến quy mô mẫu định lượng đạt 240 hộ (sai số gần 6%), chưa đạt quy mô mẫu mong muốn ban đầu là 380 hộ.
- Luận án tập trung chuyên sâu vào đối tượng người Việt (chiếm đa số dân cư), chưa có điều kiện khảo sát so sánh sâu văn hóa giáo dục gia đình giữa người Việt với các cộng đồng tộc người cùng cộng cư lâu đời tại Tây Nam Bộ như Khmer, Hoa, Chăm.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng dung lượng mẫu khảo sát trên toàn bộ 13 tỉnh, thành phố thuộc ĐBSCL nhằm bao quát sâu hơn tính đa dạng giữa các tiểu vùng sinh thái (Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên, Bán đảo Cà Mau, vùng phù sa ngọt sông Tiền, sông Hậu).
- Triển khai các nghiên cứu so sánh liên tộc người (Việt – Khmer – Hoa – Chăm) về văn hóa giáo dục gia đình để làm rõ hơn tính tương đồng và dị biệt trong bức tranh văn hóa Tây Nam Bộ.
- Đi sâu nghiên cứu sự biến đổi của văn hóa giáo dục gia đình Tây Nam Bộ dưới tác động của làn sóng chuyển đổi số, mạng xã hội và xu hướng di cư lao động sang các đô thị công nghiệp Đông Nam Bộ.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo học thuật và ứng dụng thực tiễn cho nhiều nhóm đối tượng:
- Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên chuyên ngành Văn hóa học, Xã hội học, Giáo dục học, Nhân học: Tham khảo cách tiếp cận liên ngành trong nghiên cứu văn hóa gia đình; quy trình tích hợp phương pháp nghiên cứu định tính (phỏng vấn sâu, lịch sử cuộc đời, điền dã dân tộc học) và định lượng (SPSS) trong một công trình văn hóa học.
- Nhà hoạch định chính sách xã hội và giáo dục vùng ĐBSCL: Tham khảo các phân tích nguyên nhân văn hóa - xã hội chi phối việc học hành, tỷ lệ bỏ học và định hướng nghề nghiệp của thanh thiếu niên, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phù hợp với tâm lý, tập tính văn hóa của cư dân địa phương.
- Nội dung đáng tham khảo nhất: Khung phân tích 3 thành tố văn hóa giáo dục (Nhận thức – Tổ chức – Ứng xử); Các bảng tương quan định lượng về mối liên hệ giữa trình độ học vấn cha mẹ với mức độ kỳ vọng học vấn con cái; Hệ thống trích dẫn phỏng vấn sâu phản ánh sinh động tiếng nói của các thế hệ ông bà, cha mẹ và con cái tại Tây Nam Bộ.
Câu hỏi thường gặp
1. Mục tiêu và giả thuyết nghiên cứu chính của luận án là gì?
Luận án nhằm nhận diện đặc điểm văn hóa giáo dục trong gia đình người Việt Tây Nam Bộ, lý giải nguyên nhân hình thành từ tọa độ văn hóa vùng và chỉ ra hệ quả tích cực, tiêu cực đến phát triển nguồn nhân lực. Giả thuyết nghiên cứu cho rằng văn hóa giáo dục gia đình tại đây mang những nét đặc thù về nhận thức, tổ chức và ứng xử, phản ánh bối cảnh sinh thái sông nước, lịch sử khẩn hoang và giao lưu văn hóa, tạo ra cả những giá trị nhân văn (tự lập, tình cảm, dân chủ) lẫn những hạn chế thực tế đối với việc nâng cao trình độ học vấn.
2. Luận án lựa chọn khảo sát tại những địa bàn cụ thể nào và dựa trên tiêu chí nào?
Luận án chọn 3 địa bàn điển hình: tỉnh Long An (đại diện Thượng châu thổ, vùng giáp ranh đô thị lớn, bán công bán nông), thành phố Cần Thơ (đại diện Hạ châu thổ, trung tâm đô thị - thương mại dịch vụ) và tỉnh Cà Mau (đại diện Hạ châu thổ, vùng đất thấp ngập mặn kết hợp kinh tế rừng - biển). Tiêu chí chọn điểm dựa trên tính đại diện sinh thái, lịch sử văn hóa, phân tầng xã hội, ít biến động dân cư phức tạp và chủ yếu là người Việt sinh sống.
3. Khung lý thuyết chính được tác giả vận dụng là gì?
Tác giả kết hợp 3 khung lý thuyết: Lý thuyết vùng văn hóa (giải thích tính thống nhất và đặc thù địa - văn hóa), Lý thuyết hành xử (Practice Theory của P. Bourdieu - giải thích sự tích lũy vốn kinh tế, văn hóa, xã hội và hình thành tập tính giáo dục của gia đình) và Lý thuyết hệ thống sinh thái (Ecological Systems Theory của U. Bronfenbrenner - giải thích sự tương tác đa tầng giữa gia đình, nhà trường, xã hội).
4. Mẫu khảo sát thực địa của luận án có quy mô và cấu trúc ra sao?
Khảo sát định tính gồm 75 cuộc phỏng vấn sâu (48 cuộc phỏng vấn hộ gia đình thuộc hai nhóm thế hệ ông bà/cha mẹ và con cái tại 6 xã/phường thuộc Long An, Cần Thơ, Cà Mau; 27 cuộc phỏng vấn sâu với chuyên gia, cán bộ địa phương). Khảo sát định lượng gồm 240 phiếu hỏi hộ gia đình tại 6 địa bàn cấp xã/phường (40 phiếu/xã), xử lý bằng phần mềm SPSS.
5. Văn hóa tổ chức và ứng xử giáo dục trong gia đình người Việt Tây Nam Bộ có nét gì khác biệt so với khuôn mẫu gia đình truyền thống Bắc Bộ?
Gia đình người Việt Tây Nam Bộ mang tính "nửa hạt nhân hóa", ít chịu sự chi phối nặng nề của ý thức hệ Nho giáo phong kiến. Ứng xử trong gia đình mang tính dân chủ, cởi mở, đối thoại trực tiếp, tôn trọng quyền tự lập của con cái; vai trò của người phụ nữ (người vợ, người mẹ) và vị thế của người con gái, người con út được đề cao và bình đẳng trong thụ hưởng giáo dục cũng như thừa kế tài sản; phương pháp giáo dục thiên về nêu gương, khuyên bảo thực tế và trải nghiệm thay vì áp đặt quyền uy phụ hệ nghiêm ngặt.
Kết luận
Luận án "Văn hóa giáo dục trong gia đình người Việt Tây Nam Bộ" của tác giả Trương Thị Lam Hà là công trình chuyên khảo có đóng góp học thuật rõ nét trong việc nhận diện toàn diện các đặc trưng nhận thức, tổ chức và ứng xử giáo dục gia đình dưới góc độ chuyên ngành Văn hóa học. Bằng việc kết hợp hệ thống lý thuyết liên ngành vững chắc cùng nguồn tư liệu điền dã phong phú (75 cuộc phỏng vấn sâu và 240 bảng hỏi định lượng), luận án đã lý giải sâu sắc mối liên hệ giữa điều kiện sinh thái sông nước, lịch sử khai phá và bối cảnh chuyển đổi xã hội với văn hóa giáo dục gia đình. Kết quả nghiên cứu không chỉ làm sáng tỏ các giá trị tích cực về tính dân chủ, bình đẳng và tự lập trong gia đình Nam Bộ mà còn chỉ ra những rào cản nhận thức cần khắc phục để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho toàn vùng ĐBSCL.