Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI Đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến các nội dung về đói, nghèo; tư tưởng Hồ Chí Minh về xóa đói, giảm nghèo và chính sách xóa đói, giảm nghèo. Theo cách tiếp cận của nghiên cứu sinh, các nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án có thể được phân chia thành những nhóm chủ yếu sau: 1. Những nghiên cứu về xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam Luận án tiếp cận các nghiên cứu về xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam theo những công trình tiêu biểu sau: Nguyễn Thị Hoa (2010), Chính sách giảm nghèo ở Việt Nam đến năm 2015 [60] đã khẳng định xóa đói, giảm nghèo là một chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước ta trong quá trình đổi mới và thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ.
Để thực hiện chủ trương này, Đảng và Nhà nước đã đề ra hệ thống chính sách, trong đó có nhóm chính sách về hỗ trợ phát triển sản xuất cho hộ nghèo, vùng nghèo. Công trình cũng trình bày những kết quả đạt được trong công tác xóa đói, giảm nghèo bằng chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất hàng hóa trong những năm gần đây như: chính sách tín dụng ưu đãi cho hộ nghèo; Chính sách đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng xã nghèo; Chính sách hỗ trợ giáo dục cho người nghèo; chính sách hỗ trợ y tế cho người nghèo. Đồng thời, đề ra một số khuyến nghị, giải pháp để giải quyết những khó khăn, hạn chế của chính sách này. Nguyễn Quốc Nghi (2010), “Thực trạng và giải pháp định hướng sinh kế cho các dân tộc thiểu số vùng đồng bằng sông Cửu Long: trường hợp người Chăm ở An Giang và người Khmer ở Trà Vinh” [118].
Trong đề tài, tác giả đã phân tích thực trạng sinh kế và các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của đồng bào dân tộc Khmer và Chăm dựa trên những số liệu điều tra chi tiết bao gồm cả định tính và định lượng. Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập và mức sống của đồng bào dân tộc thiểu số ở đồng bằng sông Cửu Long như: dân số, điều kiện sống, điều 8 kiện canh tác, ảnh hưởng tác động của thị trường, chính sách của nhà nước, phong tục tập quán, văn hóa truyền thống của cả hai dân tộc… từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao thu nhập dựa trên các nguồn lực sẵn có của đồng bào dân tộc các dân tộc ở đồng bằng sông Cửu Long. Viện Khoa học Xã hội Việt Nam (2011), “Giảm nghèo ở Việt Nam: thành tựu và thách thức” [183]. Công trình nghiên cứu đã đánh giá những thành tựu trong công cuộc giảm nghèo của Việt Nam trong hai thập kỷ qua (cụ thể là từ năm 1993 đến nay); phân tích công tác giảm nghèo đặt trong bối cảnh sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), trong đó đặc biệt chú ý đến cách ứng phó với các rủi ro mang tính hệ thống ở cấp độ nền kinh tế, cũng như với các rủi ro ở cấp độ hộ gia đình hoặc cấp độ cá nhân, cách tạo ra nhiều cơ hội hơn cho người nghèo và người thu nhập thấp trong bối cảnh kinh tế mới.
Cụ thể các vấn đề liên quan đến duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, tăng cường hệ thống an sinh xã hội, mở rộng cơ hội và nâng cao năng lực cho người nghèo và người thu nhập thấp; nhận định những thách thức ở phía trước. Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP-2011) “Báo cáo quốc gia về phát triển con người năm 2011 - Dịch vụ xã hội phục vụ phát triển con người” [23], báo cáo đã so sánh sự tương đồng và khác biệt giữa việc đo lường nghèo theo cách tiếp cận nghèo đa chiều và nghèo theo tiền tệ. Trong đo lường nghèo đa chiều, ba lĩnh vực chính là Y tế, Giáo dục và Mức sống được xem xét qua chín chỉ số (1) Hộ gia đình không có tài sản và không đủ tiền chữa bệnh, (2) Hộ gia đình có người chưa hoàn thành tiểu học, (3) Gia đình có trẻ em đến tuổi nhưng không được đi học, (4) Hộ gia đình không sử dụng điện, (5) Hộ gia đình không được cung cấp nước sạch (6) Hộ gia đình không có dịch vụ vệ sinh, (7) Hộ gia đình không sử dụng toilet đạt chuẩn, (8) Hộ gia đình sống trong nhà tạm bợ, (9) Hộ gia đình thiếu đồ dùng lâu bền. Một hộ gia đình được coi là nghèo đa chiều nếu thiếu ít nhất hai trong số chín chỉ số này.
Báo cáo này cung cấp phân tích dựa trên bằng chứng về sự tiến bộ trong phát triển con 9 người ở cấp địa phương tại Việt Nam, tập trung vào các vấn đề liên quan đến sức khỏe và giáo dục. Báo cáo xem xét các thách thức mà nhiều người Việt Nam gặp phải trong việc tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản đồng thời chỉ ra rằng sự gia tăng bất bình đẳng kinh tế đang đi kèm với sự chênh lệch kéo dài trong các chỉ số giáo dục và y tế cơ bản. Kết luận của báo cáo nhấn mạnh rằng để Việt Nam tiếp tục đạt được mức phát triển con người cao hơn, việc đảm bảo sự tiếp cận toàn diện và công bằng đối với dịch vụ y tế và giáo dục là hết sức cần thiết. Ở nghiên cứu này, tác giả khẳng định xóa đói, giảm nghèo là chủ trương lớn, nhất quán của Đảng, Nhà nước; là sự nghiệp của toàn dân phải được tiếp tục thực hiện đồng thời cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Tác giả cũng đã phân tích những điều kiện ảnh hưởng tác động đến đói, nghèo ở vùng đặc biệt khó khăn. Nguyễn Thị Ánh (2012), “Thực trạng, giải pháp xóa đói, giảm nghèo đối với đồng bào dân tộc Khmer, Chăm ở khu vực Tây Nam Bộ” [2]. Đề tài nghiên cứu khảo sát khá toàn diện về cuộc sống của đồng bào dân tộc Khmer và dân tộc Chăm ở khu vực Tây Nam Bộ, từ đó làm cơ sở để đề xuất những giải pháp xóa đói, giảm nghèo cho đồng bào hai dân tộc ở khu vực này. Nguyễn Thị Ánh, Nguyễn Thị Nghĩa (2012), “Thực trạng, giải pháp xóa đói giảm nghèo đối với đồng bào dân tộc Khmer ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long”[3].
Nghiên cứu đánh giá thực trạng vấn đề đói nghèo của đồng bào dân tộc Khmer ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long và đưa ra các giải pháp xóa đói giảm nghèo đối với đồng bào dân tộc Khmer của vùng. Kết quả điều tra một số tỉnh có đông đồng bào Khmer sinh sống và từ một số báo cáo cho thấy vấn đề đói, nghèo của đồng bào dân tộc Khmer ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long còn cao. Công tác xóa đói, giảm nghèo vùng đồng bào dân tộc Khmer chưa thật sự bền vững, tỷ lệ tái nghèo hàng năm còn cao. Ngân hàng Thế giới (2012), “Báo cáo đánh giá nghèo Việt Nam 2012.
Khởi đầu tốt nhưng chưa phải đã hoàn thành: Thành tựu ấn tượng của Việt Nam trong 10 giảm nghèo và những thách thức mới” [109]. Tổ chức đã sử dụng phương pháp nghiên cứu hiện đại kết hợp cả định lượng và định tính, số liệu khảo sát chi tiết kết hợp với khảo sát của Tổng cục Thống kê trong thời gian dài từ 2004, 2006, 2008 đến 2010 để đánh giá về thành tựu giảm nghèo của Việt Nam và chỉ ra những thách thức mới là “khoảng cách giàu nghèo” ngày càng chênh lệch. Báo cáo cũng phân tích, chứng minh những nhân tố đặc trưng của người nghèo ở thập kỷ 90 vẫn tiếp tục là những đặc trưng cho người nghèo trong giai đoạn hiện nay, như: học vấn, kỹ năng làm việc, sản xuất còn nhiều yếu tố tự cung tự cấp, cô lập về địa lý, xã hội, chịu nhiều rủi ro thiên tai… Oxfam (2013), “Mô hình giảm nghèo tại một số cộng đồng dân tộc thiểu số điển hình ở Việt Nam: Nghiên cứu trường hợp tại Hà Giang, Nghệ An và Đăk Nông” [120], nghiên cứu này nằm trong khuôn khổ của dự án “Theo dõi nghèo theo phương pháp cùng tham gia” do AAV và Oxfam tổ chức thực hiện từ năm 2007 đến năm 2013. Nghiên cứu đã đóng góp một số khuyến nghị cho thảo luận chính sách ở cấp quốc gia và cấp địa phương nhằm nhân rộng các mô hình giảm nghèo thành công tại các cộng đồng dân tộc thiểu số ở Việt Nam.
Tác giả Mai Chiếm Hiếu (2014) với luận án “Nghèo và phân hoá giàu nghèo tại khu vực đồng bào Khmer tập trung sinh sống ở đồng bằng Sông Cửu Long” [58] đã làm rõ thực trạng nghèo, phân hóa giàu nghèo tại khu vực đông đồng bào dân tộc Khmer tập trung sinh sống ở đồng bằng sông Cửu Long. Xác định và lượng hóa các nhân tố tác động đến tình trạng đói, nghèo tại khu vực sinh sống của đồng bào dân tộc Khmer. Ngoài ra, luận án cũng đã tìm thấy những minh chứng về sự bất cập, hạn chế trong các chính sách phân bổ nguồn lực, tạo cơ hội và giáo dục liên quan đến công tác xóa đói, giảm nghèo tại địa bàn nghiên cứu. Qua đó, đề xuất các giải pháp giảm nghèo cho khu vực đồng bào dân tộc Khmer ở vùng đồng bằng Sông Cửu Long.
Nguyễn Quốc Dũng, Võ Thị Kim Thu (2016) “Giảm nghèo đối với đồng bào Khmer Tây Nam Bộ trong quá trình phát triển bền vững [48]. Trong nội dung quyển sách, các tác giả đã đưa ra các giải pháp nhằm giải quyết một số vấn đề về 11 giảm nghèo đối với đồng bào dân tộc Khmer trên cơ sở tiếp cận không chỉ qua các chính sách hỗ trợ về kinh tế, mà còn đi sâu nghiên cứu về đời sống tinh thần, phong tục, tập quán, nét văn hóa truyền thống, tín ngưỡng đặc thù của dân tộc Khmer, tìm ra nguyên nhân chính dẫn đến đói, nghèo và đề ra phương hướng, giải pháp cơ bản góp phần giảm nghèo cho đồng bào một cách thiết thực nhất. Ngân hàng Thế giới và Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2016), “Báo cáo Việt Nam 2035: Hướng tới Thịnh vượng, Sáng tạo, Công bằng và Dân chủ”[110] là ấn phẩm tổng thể nhằm rà soát các mục tiêu và chỉ tiêu phát triển đến năm 2035 cùng một loạt các nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới về các chủ đề phát triển nông nghiệp, nông thôn, phát triển thành phần kinh tế tư nhân, phát triển kỹ năng, trình bày các khía cạnh của vấn đề việc làm.