CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN 1. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỐI NGOẠI VÀ VĂN HOÁ ĐỐI NGOẠI 1. Những công trình nghiên cứu liên quan đến đối ngoại và văn hoá đối ngoại nói chung 1. Những công trình nghiên cứu ở nước ngoài Trên thế giới hiện nay có nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực quan hệ quốc tế được gọi là đối ngoại hay ngoại giao của nhiều quốc gia.
Một số công trình nghiên cứu về phân tích chính sách đối ngoại, có những nghiên cứu như “Foreign Policy Decision Making: an Approach to the Study of International Politics” (Ra quyết định chính sách đối ngoại - một cách tiếp cận nghiên cứu Chính trị Quốc tế) của Richard Snyder, H. Bruck và Burton Sapin (2012) và “Pre-Theories and Theories of Foreign Policy” (Các tiền đề lý thuyết và lý thuyết về chính sách đối ngoại) của James Rosenau (1966). Các nghiên cứu này tìm cách giải mã những yếu tố quyết định hành vi quốc gia, chủ thể nhà nước và các yếu tố liên quan tới việc ra quyết định chính sách đối ngoại. Rosenau cho rằng cần khái quát hóa hành vi của các quốc gia một cách hệ thống và có cách tiếp cận chính sách đối ngoại so sánh (comparative foreign policy) để tìm một lý thuyết bao quát về chính sách đối ngoại trong mọi thời gian và không gian.
Những tài liệu này cho rằng cần nghiên cứu chính sách đối ngoại không những ở kết quả mà còn cả trong quá trình hoạch định chính sách. Vì vậy, nghiên cứu về phân tích chính sách đối ngoại đã được mở rộng và tiếp thu thành quả của nhiều ngành học khác nhau trong quá trình phát triển thành một chuyên ngành nghiên cứu. Trong bối cảnh biến động sâu sắc trong quan hệ quốc tế và chính sách đối ngoại các nước những năm 1990, trong công trình “Changing Course: When Governments Choose to Redirect Foreign Policy” (Tiến trình Thay đổi: Khi các Chính phủ Lựa chọn Điều chỉnh Chính sách đối ngoại), International Studies Quarterly, vol. 1 (3/1990), Charles Hermann đã có những phân tích sâu sắc về quá trình điều chỉnh chính sách đối ngoại của các quốc gia trước sự biến đổi của 9 tình hình trong nước và quốc tế.
Hermann đã hệ thống hoá các khái niệm lý thuyết và đề xuất cách thức diễn giải những quyết định điều chỉnh chính sách đối ngoại của các quốc gia. Nghiên cứu của Hermann trả lời cho các câu hỏi “Những thay đổi này xảy ra trong tình huống nào khi Chính phủ nhận thấy chính sách hiện tại có thiếu sót, sai lầm, hoặc không còn tác dụng? Điều kiện để sự thay đổi xuất hiện là gì?” [196]. Cuốn sách The Oxford Handbook of Modern Diplomacy (Cẩm nang Oxford về ngoại giao hiện đại) của các tác giả Andrew F. Cooper, Jorge Heine và Ramesh Thakur do NXB Đại học Oxford ấn hành năm 2013.
Cuốn sách là một tài liệu tham khảo có giá trị cho những người học tập và thực hành ngoại giao hiện đại, cung cấp một bản tóm tắt cập nhật về những phát triển mới nhất trong lĩnh vực này; cuốn sổ tay mô tả các yếu tố của sự kiên trì và liên tục và những thay đổi đang ảnh hưởng đến ngoại giao. Ngoài ra, cuốn Cẩm nang cung cấp những phân tích và mô tả toàn diện về tình trạng ngoại giao trong thế kỷ 21, Cẩm nang còn hướng tới xa hơn và đưa ra cái nhìn sâu sắc về tương lai của ngành ngoại giao. Cuốn sách Mordern Diplomacy (Ngoại giao hiện đại) của tác giả R. Barston do Routledge ấn hành năm 2014.
Cuốn sách phân tích và trình bày các lĩnh vực chủ đề rộng lớn, bao gồm bản chất ngoại giao, phương pháp ngoại giao và đàm phán, hoạt động ngoại giao ở các khu vực cụ thể, thiên tai và xung đột quốc tế, cuốn sách bao gồm tất cả các lĩnh vực chủ đề chính của ngoại giao đương đại. Bên cạnh đó, các tác giả cuốn sách còn phân tích chi tiết về các vấn đề quốc tế quan trọng tác động đến ngoại giao và mối quan hệ của nó với chính trị quốc tế. Thông qua việc sử dụng các nghiên cứu trường hợp và các ví dụ làm nổi bật công tác ngoại giao đương đại trong đấu trường chính trị quốc tế, cuốn sách làm rõ lý luận và thực tiễn về ngoại giao hiện đại. Cuốn sách Intercultural Communication and Diplomacy (Truyền thông và ngoại giao liên văn hoá) của tác giả Hannah Slavik được ấn hành bởi DiploFoundation năm 2004.
Công trình này là tập hợp các bài báo được trình bày tại hai hội nghị: Hội nghị truyền thông và ngoại giao liên văn hóa năm 2003, và Hội nghị năm 2004 về tổ chức và văn hóa chuyên môn và ngoại giao. Các chủ đề bao gồm lý thuyết cơ bản, giao tiếp đa văn hóa trong thực tiễn về ngoại giao, đàm phán và giải quyết xung đột, văn hóa chuyên nghiệp và tổ chức, đào tạo cho các nhà ngoại giao. Các bài báo 10 trong tập sách này tiếp cận chủ đề giao tiếp văn hóa và ngoại giao từ nhiều quan điểm văn hóa khác nhau, bởi tác giả của các bài viết này đến từ nhiều quốc gia và ở nhiều lĩnh vực nghề nghiệp khác nhau (bao gồm các ngành dịch vụ quốc tế, các trường đại học, các doanh nghiệp), trong đó có cả các tổ chức phi chính phủ. Trong quá trình toàn cầu hoá mạnh mẽ hiện nay, văn hoá trở thành một trong những thành tố quan trọng hình thành “sức mạnh mềm” của các quốc gia.
Xây dựng và thực thi chính sách VHĐN là một trong những chính sách đối ngoại được nhiều quốc gia đặc biệt quan tâm. Nye được xem là “cha đẻ” cho lý thuyết sức mạnh mềm (soft power), với các công trình “Bound To Lead: The Changing Nature Of American Power” (1990) (Rằng buộc để đẫn đầu: sự thay đổi nguồn gốc sức mạnh của nước Mỹ); “Soft power. The means to success in world politics and understand international conflict” (2004) (Quyền lực mềm: Những phương thức để đạt được thành công trong chính trị thế giới và nhận biết về xung đột quốc tế), trong đó, tác giả này cho rằng việc sử dụng VHĐN là một trong những cấu phần quan trọng để xây dựng “sức mạnh mềm” quốc gia đã và đang trở thành xu hướng có tính chiến lược của nhiều quốc gia, trong đó có Trung Quốc, Mỹ, Nga, Hàn Quốc, Nhật Bản, v. Bên cạnh đó, một số học giả phương Tây còn nghiên cứu về chính sách đối ngoại ở Việt Nam trong giai đoạn đổi mới toàn diện đất nước, như: David W.
Elliott trong “Changing Worlds: Vietnam’s Transition from Cold War to Globalization” (Thế giới đang thay đổi: Sự chuyển đổi của Việt Nam từ Chiến tranh lạnh sang Toàn cầu hóa), New York, Oxford University Press (2012); Eero Palmujoki trong “Vietnam and the World: Marxist-Leninist Doctrine and the Changes in International Relations, 1975-93”, Macmillan, London (1997), đã nghiên cứu về chính sách đối ngoại của Việt Nam trong giai đoạn Đổi mới, sự đổi mới trong tư duy và hoạt động đối ngoại trong bối cảnh sau chiến tranh lạnh. Các tài liệu này đã so sánh, khái quát sự thay đổi chính sách đối ngoại Việt Nam trước và trong thời kỳ Đổi mới, trong và sau Chiến tranh lạnh. Thayer và Ramses Amer trong “Vietnamese foreign policy in transition”, Palgrave Macmillan, London (2000) (Chính sách đối ngoại Việt Nam trong quá trình chuyển đổi), đã phân tích những yếu tố khác nhau dẫn tới việc Việt Nam gia nhập ASEAN vào năm 1995. Về cách tiếp cận, Carlyle A.
Thayer trong “Vietnam’s Regional 11 Integration: The Costs and Benefits of Multilateralism” (Sự hội nhập khu vực của Việt Nam: Chi phí và lợi ích của chủ nghĩa đa phương) cho rằng chủ nghĩa khu vực và đa phương là cách tiếp cận phù hợp cho Việt Nam. Vuving trong “Strategy and Evolution of Vietnam’s China Policy: A Changing Mixture of Pathways”, Asian Survey, vol. 2006) lại áp dụng cách tiếp cận cân bằng quyền lực, cân bằng nguy cơ để phân tích các bước đi ngoại giao của Việt Nam. Turley với công trình “Vietnamese security in domestic and regional focus: The political-Economic Nexus” trong Southest Asian Security in the New Millennium, M.
Sharpe Armonk, New York [211, tr.175] cho rằng vị trí địa chiến lược quan trọng của Việt Nam cũng tạo ra nhiều nguy cơ. Vị trí láng giềng với Trung Quốc khiến Việt Nam là một trong những nước ASEAN dễ bị tổn thương nhất và cũng đã từng đối mặt với những thách thức chiến lược nghiêm trọng nhất. Việt Nam phải đấu tranh để duy trì không gian sinh tồn, bảo vệ bản sắc và lợi ích dân tộc, đồng thời phải tránh kích động chủ nghĩa dân tộc của Trung Quốc. Turley cho rằng Việt Nam đã điều chỉnh quan điểm và chính sách của mình “từ đối đầu sang hợp tác với ASEAN”.
Hà Nội đã hướng tới ASEAN “để hỗ trợ cân bằng lại áp lực của Trung Quốc” và “cân bằng kỳ vọng về thị trường và tài chính từ phương Tây và Nhật Bản”. Vuving với “the Impact of China on Governance Structures in Vietnam” trong “The Impact of Russia, India and China on Governance Structures in their Regional Environment (RICGOV)” (2008) đã phân tích ASEAN là lựa chọn chiến lược của Việt Nam trong giai đoạn sau chiến tranh lạnh để bảo đảm không gian sinh tồn chiến lược. Báo cáo của Nhóm chuyên trách về Đối ngoại của Quốc hội Australia “Vietnam’s Foreign Relations: Dilemma of Change” đã phân tích về thế tiến thoái lưỡng nan của Việt Nam giai đoạn đầu thời kỳ Đổi mới, với các khó khăn trong vấn đề Campuchia, quan hệ với các nước lớn và ASEAN. Các tác giả cho rằng đã có sự thay đổi lớn trong chính sách đối ngoại của Việt Nam kể từ cuối những năm 1980 và đầu những năm 1990 khi Việt Nam chuyển sang chính sách đối ngoại cân bằng và đa phương.
Việt Nam đã vươn lên trở thành một thành viên chủ chốt trong các vấn đề ở Đông Nam Á và trên thế giới; cũng như tác động của hệ tư tưởng đối với việc hoạch định chính sách đối ngoại của Việt Nam. 12 Ngoài ra còn có một số công trình nghiên cứu khác, như: cuốn sách The New Public Diplomacy: Soft Power in International Relations (Lý thuyết ngoại giao công chúng mới: Quyền lực mềm trong quan hệ quốc tế hiện nay) của tác giả Jan Melessen do Palgrave Macmillan ấn hành năm 2005. Cuốn sách giới thiệu chính sách ngoại giao công chúng mới trên cả phương diện lý thuyết và thực tiễn; cuốn sách 21st Century Diplomacy: A Practitioner’s Guide (Sổ tay hướng dẫn ngoại giao trong thế kỷ 21) của tác giả Kishan S. Rana do Newgan Imaging Systems Pvt Ltd, Chennai ấn hành năm 2011; v.