CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về văn hóa doanh nghiệp. Các khái niệm cơ bản 1. Văn hóa Hiện nay, khái niệm VH thường được sử dụng chỉ có tính chất quy ước, nhằm hướng tới một khái niệm có tính chất thỏa thuận chung.
Có nhiều định nghĩa khác nhau về VH, mỗi định nghĩa mang đến một góc nhìn và cách đánh giá khác nhau. Theo UNESCO (Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc) năm 1986, “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo của các cá nhân và các cộng đồng trong quá khứ, hiện tại qua các thế kỷ hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên hệ thống các giá trị, các truyền thống và cách thể hiện, đó là những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc”. Năm 2002, UNESCO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: “Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin”.TS Nguyễn Như Ý viết trong cuốn “Đại từ điển Tiếng Việt” của Trung tâm Ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam – Bộ giáo dục và đào tạo tái bản mới nhất năm 2021: “Văn hóa là những giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử”. Trong Khóa luận tốt nghiệp, sinh viên tiếp cận khái niệm VH theo GS.TS Nguyễn Như Ý, bởi đây là khái niệm ngắn gọn, cô đọng nhưng thể hiện rõ ràng được bản chất của VH.
Khái niệm này giúp hiểu sâu sắc hơn về VH từ góc độ lý thuyết và tạo cơ sở vững chắc để phân tích các hiện tượng VH trong thực tiễn. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh hiện nay, khi VH ngày càng đóng vai trò then chốt trong sự phát triển bền vững của xã hội và DN. Tóm lại, VH là sản phẩm của con người, là một hệ thống của các giá trị do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong mối quan hệ giữa môi trường tự nhiên và xã hội. Song, chính VH lại tham gia vào việc tạo nên con 4 người, và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội.
VH được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa. VH được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội của con người. VH là trình độ phát triển của con người và của xã hội được biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần mà do con người tạo ra. Văn hóa doanh nghiệp VHDN hay thường được biết đến với những thuật ngữ như: văn hóa công ty, văn hóa tập đoàn hay văn hóa tổ chức.
Mỗi DN sẽ mang một bản sắc VH của riêng mình. Tương tự như khái niệm về VH, có rất nhiều quan điểm khác nhau khi bàn luận về VHDN. Tất cả các quan điểm đều nói lên một cách toàn diện về bản chất của VHDN. VHDN là tập hợp các giá trị, niềm tin, đạo đức và thái độ đặc trưng cho một tổ chức và hướng dẫn các hoạt động của tổ chức đó.
Ở một mức độ nào đó, VHDN của một tổ chức thường được thể hiện trong tuyên bố sứ mệnh hoặc tuyên bố tầm nhìn của tổ chức đó. Tất cả các tổ chức, dù là doanh nghiệp lâu đời, công ty khởi nghiệp, công ty vì lợi nhuận, tổ chức phi lợi nhuận hay cơ quan chính phủ, đều có VHDN nhằm định hướng các hoạt động của tổ chức đó. Theo Tổ chức Lao động Quốc Tế (ILO): “Văn hóa doanh nghiệp là sự trộn lẫn đặc biệt với các giá trị, các tiêu chuẩn, thói quen và truyền thống, những thái độ ứng xử và lễ nghi mà toàn bộ chúng là duy nhất đối với một tổ chức đã biết”. Dương Thị Liễu (2013): “Văn hóa doanh nghiệp là một hệ thống các giá trị, các chuẩn mực, các quan niệm và hành vi của doanh nghiệp, chi phối hoạt động của mọi thành viên trong doanh nghiệp và tạo nên bản sắc kinh doanh riêng của doanh nghiệp”.
Schein (1980):“Văn hoá doanh nghiệp là toàn bộ giá trị văn hoá (thói quen, chuẩn mực, giá trị, mục tiêu, triết lý, bầu không khí, tập quán,…) được gây dựng nên trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp, từ đó trở thành quy tắc, tập quán quen thuộc ăn sâu vào hoạt động của doanh nghiệp ấy, đồng thời chi phối tình cảm, cách suy nghĩ và hành vi của mọi thành viên của doanh nghiệp trong việc theo đuổi và thực hiện các mục đích”. 5 Khóa luận tốt nghiệp tiếp cận khái niệm về VHDN theo Edgar H. Schein, vì khái niệm này mang tính toàn diện và sâu sắc, giúp hiểu rõ hơn về cấu trúc và tác động của VHDN. Schein định nghĩa VHDN không chỉ bao gồm các giá trị bề mặt như thói quen và chuẩn mực mà còn đi sâu vào các giá trị cốt lõi, triết lý, và bầu không khí của DN.
Đây là những yếu tố hình thành trong suốt quá trình phát triển của DN và có sức ảnh hưởng mạnh mẽ đến hành vi và tư duy của từng thành viên trong DN. Nhìn chung, VHDN là những giá trị, đạo đức, tầm nhìn, hành vi và môi trường làm việc của một tổ chức. VHDN tạo nên những bản sắc riêng cho DN và tác động đến toàn bộ công ty, từ hình ảnh trước công chúng đến bộ máy tổ chức trong công ty, những tuyên bố, môi trường làm việc, sự gắn kết và giữ chân nhân viên. Khi nhân viên chia sẻ đạo đức, tầm nhìn và các yếu tố VH khác của công ty đến với khách hàng, điều đó có thể mang lại những ảnh hưởng tích cực đến hình ảnh, lợi nhuận của công ty.
Các công ty có VHDN tốt sẽ giúp nhân viên có tinh thần làm việc cao, đội ngũ nhân viên làm việc có năng suất và gắn kết với nhau. Vai trò của văn hóa doanh nghiệp. Ngày nay, VHDN đã trở thành một thành một phần không thể thiếu trong hoạt động kinh doanh của DN, đóng vai trò quan trọng cho sự thành công của DN. VHDN đại diện cho các giá trị, niềm tin và mục tiêu của DN, cũng như hành vi mà các nhân viên cần phải tuân thủ.
VHDN không chỉ là chìa khóa quan trọng để thu hút và giữ chân nhân viên, mà còn hỗ trợ nâng cao hiệu suất làm việc cho nhân viên, góp phần tạo nên sự phát triển và tồn tại lâu dài của DN. VHDN có các vai trò chủ yếu như sau: 1. Văn hóa doanh nghiệp là nguồn lực tạo ra lợi thế cạnh tranh VHDN đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong việc tạo ra lợi thế cạnh tranh. VHDN là lợi thế so sánh khi khách hàng phải đưa ra quyết định lựa chọn giữa các DN khác nhau, là cơ sở duy trì và phát triển mối quan hệ khách hàng, tạo ra tâm lý tin tưởng cùng hợp tác liên kết lâu dài và bền vững.
Một DN có VH riêng, bản sắc riêng sẽ luôn để lại được những ấn tượng riêng trong mắt khách hàng. Bên cạnh đó, một VHDN linh hoạt và nhanh nhạy có thể giúp tổ chức đáp ứng nhanh chóng và linh hoạt với các thay đổi trong thị trường và yêu cầu của khách hàng. Điều này giúp tổ chức tiếp tục cung cấp giải pháp, dịch vụ phù hợp và nhanh chóng hơn so với các DN khác. 6 Bằng cách xây dựng và duy trì một VHDN tích cực và độc đáo, tổ chức có thể tạo ra một lợi thế cạnh tranh bền vững trên thị trường.
Điển hình là công ty sản xuất Tesla của Elon Musk. VHDN tại Tesla được xây dựng dựa trên sự sáng tạo, cam kết đối với môi trường và tinh thần khích lệ nhân viên thách thức giới hạn. Là một công ty hàng đầu trong lĩnh vực sản xuất ô tô điện, khách hàng không đắn đo suy nghĩ khi phải đưa ra quyết định trước những sản phẩm của công ty, bởi những lợi thế cạnh tranh của công ty là rất lớn, khách hàng bị thuyết phục bởi chất lượng sản phẩm, thái độ phục vụ và VH của Tesla. Văn hóa doanh nghiệp tạo nên bản sắc của doanh nghiệp VHDN gồm nhiều bộ phận và yếu tố hợp thành: Triết lí kinh doanh, các tập tục, lễ nghi, thói quen, cách họp hành, đào tạo, giáo dục, thậm chí cả truyền thuyết, huyền thoại về người sáng lập,… Tất cả những yếu tố đó tạo ra một phong cách, bản sắc riêng cho DN và giúp phân biệt với các DN khác.
Phong thái đó có vai trò như “không khí và nước”, có ảnh hưởng lớn đến hoạt động hàng ngày của DN. VHDN phản ánh trực tiếp tới bản sắc, tính cách và định hướng phát triển riêng của DN. VHDN không chỉ ảnh hưởng đến hoạt động nội bộ (bầu không khí, là tình cảm, sự giao lưu, mối quan hệ và ý thức trách nhiệm, tinh thần hợp tác phối hợp trong thực hiện công việc,…) mà còn tác động đến sự tương tác với khách hàng, đối tác và cộng đồng xung quanh. Vinamilk là một công ty sữa lớn tại Việt Nam.
Vinamilk có một triết lý kinh doanh rất rõ ràng, tập trung vào việc cung cấp sản phẩm chất lượng cao và an toàn cho người tiêu dùng. Bên cạnh đó, Vinamilk cũng được biết đến là một công ty có môi trường làm việc lý tưởng, với những chế độ đãi ngộ và sứ mệnh mà công ty hướng đến là mang dinh dưỡng đến cho cộng đồng, giúp công ty đạt được bản sắc riêng. Đây cũng chính là lý do mà công ty luôn nhận được sự ủng hộ và tin tưởng của khách hàng. Văn hóa doanh nghiệp tạo nên lực hướng tâm chung cho doanh nghiệp VHDN cũng chính là “trụ cột tinh thần” làm nên cốt cách của DN, là chất keo gắn kết các thành viên hướng tới những mục tiêu chung và hành động chung.
Trong các DN, nhất là DN lớn, thường tập hợp nhiều thành viên là những người khác nhau về 7 trình độ, quan hệ xã hội, năng lực, tính cách,… tạo nên một môi trường làm việc đa dạng và phức tạp. VHDN tạo ra môi trường làm việc tốt, khơi gợi cảm hứng khiến cho các cá nhân cố gắng phấn đấu vì mục tiêu chung, tạo nên lực hướng tâm chung cho toàn DN. VHDN cũng tạo nên tác phong làm việc tích cực, tự giác, năng động, giúp gia tăng năng suất lao động và nâng cao hiệu quả công việc.