phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn đƣợc kết cấu thành bốn chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về văn hóa doanh nghiệp. Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng 3: Thực trạng văn hóa doanh nghiệp tại Tổng công ty cổ phần bảo hiểm Bƣu Điện. Chƣơng 4: Một số giải pháp phát triển văn hóa doanh nghiệp tại Tổng công ty cổ phần bảo hiểm Bƣu Điện.
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA DOANH NGHIỆP TRONG DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu. Tình hình nghiên cứu nước ngoài. Thuật ngữ văn hóa tổ chức trở nên phổ biến sau khi Terrence E.
Deal và Allan A. Kenedy xuất bản tác phẩm ―Văn hóa tổ chức‖ năm 1988. Hai tác giả đã tìm hiểu thực tế tại các công ty tại nƣớc Mỹ để khám phá ra yếu tố then chốt giúp các doanh nghiệp kinh doanh thành công và đó chính là yếu tố văn hóa doanh nghiệp. Họ cũng đã đƣa ra những phƣơng pháp rõ ràng để chẩn đoán tình trạng văn hóa doanh nghiệp của tổ chức.
Nhà nghiên cứu Edgar H. Schein, một tác giả kinh điển chuyên nghiên cứu về lĩnh vực văn hóa tổ chức và văn hóa doanh nghiệp đã phân tích các vấn đề tổng quát liên quan đến văn hóa doanh nghiệp và mối quan hệ của chúng với sự lãnh đạo trong cuốn ―Văn hóa doanh nghiệp và sự lãnh đạo‖ xuất bản năm 2010. Trong tác phẩm này Schein đã chia thành các yếu tố cấu thành VHDN thành 3 nhóm yếu tố là: ―nhóm những giá trị văn hóa hữu hình, những giá trị đƣợc tán đồng và nhóm các giá trị ngầm định‖. Smircich (1983) xác định hai cách tiếp cận để nghiên cứu hiện tƣợng văn hóa trong các tổ chức: văn hóa nhƣ một biến tổ chức, sau đó văn hóa đƣợc xem nhƣ một thứ có thể bị thao túng.
Do đó, bản chất, hƣớng và tác động của việc thao túng nhƣ vậy phụ thuộc vào kỹ năng và khả năng của ngƣời lãnh đạo. Tuy nhiên, theo thời gian, văn hóa tổ chức ảnh hƣởng đến nhà lãnh đạo và hình thành hành động và phong cách lãnh đạo của họ. Nhƣ vậy, qua quá trình tƣơng tác liên tục, nhà lãnh đạo tác động lên văn hóa và đồng thời bị văn hóa tổ chức tạo hình. Phần lớn các tài liệu đề cao các phẩm chất của lãnh đạo chuyển đổi thể hiện sự ủng hộ rộng rãi đối với quan điểm này (ví dụ, Nicholls, 1988; Quick, 1992; Simms, 1997).
Ngƣợc lại, nếu văn hóa đƣợc coi là một phần không thể thiếu của tổ chức, thì suy nghĩ, cảm nhận và phản ứng của các nhà lãnh đạo đƣợc hun đúc bởi văn hóa (Bass và Avolio, 1993; Schein, 1992). 4 Schein (1992) nhận xét rằng văn hóa tổ chức và lãnh đạo gắn liền với nhau. Ông minh họa sự liên kết này bằng cách xem xét mối quan hệ giữa lãnh đạo và văn hóa trong bối cảnh của vòng đời tổ chức. Do đó, trong quá trình hình thành tổ chức, ngƣời sáng lập công ty tạo ra một tổ chức thực hiện các giá trị và niềm tin của họ.
Theo nghĩa này, ngƣời sáng lập tạo ra và định hình các đặc điểm văn hóa của tổ chức của họ. Tuy nhiên, khi tổ chức phát triển và thời gian trôi qua, văn hóa đƣợc tạo ra của tổ chức ảnh hƣởng đến nhà lãnh đạo, định hình các hành động và phong cách của nhà lãnh đạo. Thông qua quá trình liên tục năng động này, nhà lãnh đạo tạo ra và lần lƣợt đƣợc định hình bởi văn hóa tổ chức. Tóm tắt sự đồng thuận của quan điểm về mối liên hệ giữa văn hóa tổ chức và lãnh đạo, Bass và Avolio (1993) phản ánh lập luận của Schein (1992) bằng cách gợi ý rằng mối quan hệ giữa hai khái niệm thể hiện sự tác động qua lại liên tục trong đó nhà lãnh đạo định hình văn hóa và lần lƣợt đƣợc định hình bởi kết quả nuôi cấy.
Bass (1985) chứng minh mối quan hệ giữa lãnh đạo và văn hóa bằng cách xem xét tác động của các phong cách lãnh đạo khác nhau đối với văn hóa. Ông lập luận rằng các nhà lãnh đạo giao dịch có xu hƣớng hoạt động trong phạm vi và giới hạn của nền văn hóa hiện có, trong khi các nhà lãnh đạo chuyển đổi thƣờng làm việc để thay đổi văn hóa tổ chức phù hợp với tầm nhìn của họ. Tƣơng tự, Brown (1992) nhận xét rằng các nhà lãnh đạo giỏi cần phát triển các kỹ năng cho phép họ thay đổi các khía cạnh của văn hóa để cải thiện hiệu quả hoạt động của tổ chức Trong khi không thiếu những tuyên bố rằng lãnh đạo và văn hóa có mối liên hệ với nhau trong tài liệu (Bass và Avolio, 1993; Nicholls, 1988; Quick, 1992; Schein, 1992; Simms, 1997), có rất ít cuộc kiểm tra thực nghiệm về bản chất và tác động của liên kết này. Một ngoại lệ là một nghiên cứu gần đây về sự thay đổi tổ chức trong cơ quan dân sự liên bang của Hoa Kỳ, Hennessey (1998) kết luận rằng lãnh đạo đóng một vai trò quan trọng trong việc nuôi dƣỡng văn hóa tổ chức phù hợp, giúp cải thiện việc thực hiện các cải cách cụ thể của chính phủ.
Hennessey lập luận thêm rằng ―những nhà lãnh đạo hiệu quả nhất nuôi dƣỡng, hỗ trợ và duy trì văn hóa tổ chức tạo điều kiện thuận lợi cho kiểu cải cách quản lý đƣợc hình dung bởi "chính phủ đổi mới" và ngƣời hỗ trợ tăng hiệu quả và hiệu lực‖ (1998: 523). 5 Một trong những chủ đề nổi bật trong nghiên cứu văn hóa và tổ chức là quá trình thay đổi văn hóa tổ chức. Cuốn sách "Changing Organizational Culture: Cultural Change Work in Progress" của Alvesson và Sveningsson (2019) tập trung vào việc nghiên cứu các phƣơng pháp và quá trình thực hiện các dự án thay đổi văn hóa. Tác giả cung cấp các gợi ý và khám phá những thách thức và cơ hội trong quá trình thay đổi văn hóa tổ chức.
Nghiên cứu này đóng vai trò quan trọng trong việc hiểu cách thức áp dụng các biện pháp thay đổi văn hóa để tạo ra sự thay đổi tích cực và nâng cao hiệu suất tổ chức. Nghiên cứu "The Relationship Between Cultural Tightness-Looseness and COVID-19 Cases and Deaths: A Global Analysis" của Gelfand và đồng nghiệp (2022) khám phá mối liên hệ giữa độ chặt chẽ/tự do văn hóa và số ca, số ngƣời chết do COVID-19 trên toàn cầu. Nghiên cứu này phân tích dữ liệu từ nhiều quốc gia và nhận thấy rằng các yếu tố văn hóa nhƣ tính chặt chẽ hay tự do có thể ảnh hƣởng đến việc kiểm soát dịch bệnh và ảnh hƣởng sức khỏe cộng đồng. Nghiên cứu này đóng góp vào việc hiểu về tác động của yếu tố văn hóa trong việc ứng phó với các tình huống khẩn cấp nhƣ dịch bệnh.
Trên đây chỉ là một số ví dụ về nghiên cứu quan trọng trong lĩnh vực văn hóa và tổ chức trong giai đoạn gần đây. Những nghiên cứu này cung cấp cái nhìn sâu sắc về vai trò của văn hóa trong tổ chức và tác động của nó lên hiệu suất và thành công của doanh nghiệp. Việc hiểu và áp dụng kiến thức từ những nghiên cứu này có thể giúp cải thiện quản lý tổ chức và tạo ra môi trƣờng làm việc tích cực và hiệu quả. Đánh giá trên cho thấy rằng mối liên hệ giữa lãnh đạo và hiệu quả hoạt động của tổ chức, mối quan hệ giữa văn hóa tổ chức và hiệu suất, và tác động qua lại giữa lãnh đạo và văn hóa đã đƣợc nghiên cứu riêng biệt.
Nhƣ vậy có rất ít nghiên cứu thực nghiệm kết hợp việc kiểm tra đồng thời văn hóa tổ chức, phong cách lãnh đạo và hiệu suất. Trong khi một số ngƣời viết cho rằng (1) phong cách của một nhà lãnh đạo ảnh hƣởng đến hiệu suất, (2) một số loại văn hóa nhất định có liên quan đến hiệu suất vƣợt trội, và (3) văn hóa và lãnh đạo có liên quan, bản chất chính xác và hình thức tƣơng tác giữa ba khái niệm này không đƣợc hiểu đầy đủ. Tình hình nghiên cứu trong nước. Đỗ Minh Cƣơng (2001), Hoàng Văn Hải (2023) nghiên cứu các vấn đề về văn hóa kinh doanh và triết lý kinh doanh, bao gồm cả cơ sở lý luận và thực tiễn áp dụng trên thế giới và Việt Nam.
Ông đã nghiên cứu sâu về vai trò, sự tác động và những biểu hiện của văn hóa trong kinh doanh và gợi ý về xây dựng triết lý kinh doanh. Bùi Xuân Phong (2006) lại khai thác về đạo đức kinh doanh và văn hóa doanh nghiệp, tác giả cho rằng ―việc xây dựng đạo đức kinh doanh có mối liên hệ mật thiết với xây dựng văn hóa doanh nghiệp‖. Các tác giả này đã nghiên cứu về văn hóa kinh doanh và triết lý kinh doanh, bao gồm cả cơ sở lý luận và thực tiễn áp dụng trên thế giới và Việt Nam. Họ đã tìm hiểu vai trò, sự tác động và biểu hiện của văn hóa trong kinh doanh và đƣa ra gợi ý về xây dựng triết lý kinh doanh.
Nguyễn Viết Lộc (2012) đã nghiên cứu hệ giá trị doanh nhân Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế, đƣa ra cơ sở để nhận diện văn hóa doanh nhân Việt Nam và các thƣớc đo giúp tạo nên cộng đồng doanh nhân Việt Nam đủ tầm vƣơn ra quốc tế. Văn hóa doanh nghiệp cũng là các đề tài đƣợc quan tâm trong các bài báo, công trình khoa học đƣợc công bố. Tác giả đã nghiên cứu hệ giá trị doanh nhân Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Ông đƣa ra cơ sở để nhận diện văn hóa doanh nhân Việt Nam và các thƣớc đo giúp tạo nên cộng đồng doanh nhân Việt Nam có thể vƣơn ra quốc tế.
Đỗ Tiến Long (2015) đã đƣa ra một nghiên cứu điển hình về vấn đề đánh giá văn hóa tại doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam. Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng một bảng hỏi gồm 60 câu hỏi theo mô hình Denison tại một công ty ở Hà Nội với hơn 20 năm kinh nghiệm xây dựng VHDN. Từ kết quả đánh giá văn hóa doanh nghiệp theo mô hình Denison, kết hợp với các kết quả phỏng vấn và thực địa, tác giả nêu ra các đặc điểm đƣợc nhìn nhận (bao gồm cả điểm mạnh và điểm yếu) trong VHDN của công ty này. Từ đó, tác giả đã rút ra các bài học về xây dựng VHDN trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam.
Với mục đích xây dựng bộ công cụ đánh giá VHDN trong điều kiện Việt Nam. Trịnh Quốc Trị (2013) đã đề xuất bộ công cụ đánh giá văn hóa doanh nghiệp CHMA đƣợc chia sẻ rộng rãi trên trang web http://vita-share.