CHƯƠNG 1 NGUYỄN TRÃI VÀ CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG NHÂN NGHĨA CỦA NGUYỄN TRÃI 1. CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CỦA NGUYỄN TRÃI 1. Cuộc đời Nguyễn Trãi hiệu Ức Trai, sinh năm 1380, quê quán làng Chi Ngại, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương sau dời về làng Ngọc Ổi (Nhị Khê) huyện Thường Tín tỉnh Hà Tây. Về dòng họ nội của Nguyễn Trãi, đến nay, chưa được rõ lắm.
Gia phả họ Nguyễn ở làng Nhị Khê chỉ ghi chép từ đời Nguyễn Phi Khanh trở xuống. Có nhiều nguyên nhân ẩn giấu gốc tích của họ Nguyễn ở làng Nhị Khê nhưng nguyên nhân trực tiếp vẫn là vụ án Lệ Chi Viên, vụ án chính trị thảm khốc giết chết toàn gia tộc Nguyễn Trãi. Thân sinh của Nguyễn Trãi - Nguyễn Phi Khanh tên thật là Nguyễn Ứng Long (1345 - 1418) là người học rất giỏi, vì vậy lúc mới 19 tuổi đã được Trần Nguyên Đán yêu mến và mời về dạy cho con gái là Trần Thị Thái. Trong quá trình dạy học, ông và bà Thái yêu mến nhau.
Sau đó Nguyễn Ứng Long trở thành con rể của Tư đồ Trần Nguyên Đán. Được sự động viên của cha vợ, ông đã chăm chỉ dùi mài kinh sử chờ ngày thi cử. Vì rất thông minh, ham học, nổi tiếng hay chữ, nên ông đã thi đỗ Tiến sĩ tại cung Trùng Quang ở Sơn Nam hạ (phía ngoài thành phố Nam Định hiện nay) vào đời vua Trần Duệ Tông (Năm Long Khánh thứ 2, 1374). Nhưng do hoàn cảnh xuất thân nghèo khó, lại lấy con gái của dòng dõi hoàng tộc nên ông không được nhà Trần, lúc đó là thượng hoàng Trần Nghệ Tông trọng dụng.
Ông phải trở về Nhị Khê làm nghề dạy học. Sau khi Hồ Quý Ly lên ngôi, Nguyễn Ứng Long mạnh dạn đổi tên thành Nguyễn Phi Khanh ra phục vụ triều đình nhà Hồ, giữ chức Hàn lâm học sĩ Luan van 9 kiêm Tư nghiệp Quốc tử giám, ít lâu sau được thăng chức Trung thư thị lang ở Trung thư sảnh. Giặc Minh sang, nhà Hồ thất bại. Cả triều thần, trong đó có Nguyễn Phi Khanh đều bị bắt về Trung Quốc.
Cuối đời, ông chết ở Yên Kinh (Trung Quốc). Ông ngoại của Nguyễn Trãi là Trần Nguyên Ðán. Ông là người thuộc dòng dõi hoàng tộc, là cháu bốn đời của Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải, tính tình điềm đạm, khẳng khái, có thành tích xuất sắc chống giặc Chiêm Thành dưới thời Trần Nghệ Tông nên được vua nhà Trần giao cho chức vụ Tư đồ, quyền ngang Tể tướng. Tuy nhiên, khi ông lên nắm quyền, cơ nghiệp nhà Trần đã suy vi.
Chán nản thời thế, ông xin về ở ẩn tại Côn Sơn năm 1385 (Xương Phù thứ 9) và mất năm 1390. Ông ngoại và cha là những người trực tiếp ảnh hưởng đến tư tưởng yêu nước thương dân của Nguyễn Trãi sau này. Nguyễn Trãi được thừa hưởng từ ông ngoại và cha tính tình điềm đạm, học vấn uyên thâm và lòng ưu ái. Ông ngoại Nguyễn Trãi - Trần Nguyên Đán, tuy làm tới chức Tể tướng, được ở trong cung điện nguy nga, nhưng ông vẫn luôn nghĩ đến đời sống lầm than của dân đen, con đỏ.
“Hạn rồi qua lụt đã bao phen Đau nỗi đồng điền lúa chẳng lên Ba vạn sách hóa thành giấy vụn Bạc đầu luống những phụ dân đen!” [38, tr. Nguyễn Phi Khanh trong một bài thơ tặng nhạc phụ Trần Nguyên Đán cũng có viết: “Mênh mông đồng lúa đỏ như thiêu Khắp chốn kêu than xiết nỗi sầu!. …Lưới tham quan lại vơ hầu kiệt Mỡ béo dân lành hút đã hao…” [38, tr. Luan van 10 Nguyễn Trãi là con thứ của Nguyễn Phi Khanh và bà Trần Thị Thái, cháu ngoại của quan Tư đồ Trần Nguyên Đán.
Khi ông vừa tròn 6 tuổi thì mẹ qua đời, ông phải về Côn Sơn ở với ông ngoại. Năm 1390, quan Tư đồ cũng mất, ông theo cha trở về sống ở làng Nhị Khê. Tuổi thơ Nguyễn Trãi là một thời kỳ thanh bần nhưng ông vẫn rất ham học và quyết chí gắng công học tập, điều đó được cha ông nói đến trong bài thơ Gia viên lạc: “Cố viên loạn hậu hữu tiên lư Lục tuế nhi đồng phả ái thư” Nghĩa là: “Vườn xưa sau loạn còn nhà cũ Sáu tuổi con thơ rất thích sách” [60] Nguyễn Trãi nổi tiếng là một người học rộng, có kiến thức sâu về nhiều lĩnh vực, có ý thức về nghĩa vụ của một kẻ sĩ yêu nước thương dân. Tháng 8 Canh Thìn, năm Thánh Nguyên thứ 1 (1400) khi triều Hồ mở khoa thi đầu tiên, lúc này Nguyễn Trãi vừa tròn 20 tuổi cũng vào kinh ứng thí và đỗ Thái học sinh (tiến sĩ) cùng nhiều tài danh khác như Lưu Thúc Kiệm, Lý Tử Tấn, Vũ Mộng Nguyên, Nguyễn Mộng Tuân…Mặc dù còn rất trẻ nhưng ông đã được Hồ Quý Ly cử giữ chức Ngự sử đài Chánh chưởng, một trong những chức quan đầu triều trong giai đoạn này.
Đến tháng chạp năm Tân Tỵ (1401) thân phụ ông đổi tên là Nguyễn Phi Khanh cũng ra làm quan, được cử giữ chức Học sĩ Viện hàn lâm kiêm Tư nghiệp Quốc tử giám, một chức quan chuyên về giáo dục nhưng cũng là đại thần, thường do Thượng thư bộ Lễ đảm nhận. Thời gian làm quan dưới triều Hồ không lâu, vì năm 1407 quân Minh sang xâm lược đã bắt được các quan quân triều Hồ giải về nước, trong đó có Nguyễn Phi Khanh. Nghe tin cha bị bắt, Nguyễn Trãi cùng em là Nguyễn Phi Hùng khóc theo cha lên tận cửa Nam Quan với ý định sang bên kia biên giới Luan van 11 hầu hạ cha già trong lúc bị cầm tù để vẹn tròn chữ hiếu. Tuy nhiên, trên đường đi nhân lúc vắng vẻ, Nguyễn Phi Khanh bảo Nguyễn Trãi: “Con là người có học, có tài, nên tìm cách rửa nhục cho nước, trả thù cho cha.
Như thế mới là đại hiếu. Lọ là cứ phải đi theo cha, khóc lóc như đàn bà mới là hiếu hay sao?” [59]. Nguyễn Trãi nghe lời cha quay trở về tìm kế sách đánh đuổi quân xâm lược, còn Nguyễn Phi Hùng theo cha sang Trung Quốc để chăm lo phụng dưỡng khi già yếu và khi cha mất thì đem hài cốt về quê hương bản quán. Vâng lời cha, Nguyễn Trãi quay trở về Thăng Long để mưu đồ việc lớn.
Về đến Thăng Long, ông bị quân Minh bắt. Thượng thư nhà Minh là Hoàng Phúc biết Nguyễn Trãi là một nhân vật có tài, tìm cách dụ dỗ, nhưng ông kiên quyết không theo giặc. Sau một thời gian bị giam lỏng ở Đông Quan (tức Thăng Long), năm 1416 Nguyễn Trãi vượt được vòng vây của giặc vào Thanh Hóa tìm minh chủ Lê Lợi. Ông gặp Lê Lợi - vị thủ lĩnh nghĩa quân Lam Sơn ở Lỗi Giang và dâng bản chiến lược đánh đuổi quân Minh mà sử sách Việt Nam gọi là Bình Ngô sách.
Sau khi dâng Bình Ngô sách, Nguyễn Trãi được chủ soái Lê Lợi giao cho chức Tuyên phụng đại phu, Học sĩ Hàn lâm viện thừa chỉ. Tuy không gọi là quân sư nhưng chức quan này lại bao hàm công việc của quân sư, ngày đêm dự bàn việc quân. Nguyễn Trãi là người thay mặt Lê Lợi viết các loại văn kiện chỉ đạo nghĩa quân Lam Sơn và giao thiệp với bên ngoài, đồng thời lại là người tuyên đọc các văn kiện đó. Kế sách bình Ngô từng bước được thực hiện trong thực tế chỉ đạo cuộc khởi nghĩa.
Năm 1428, khi cuộc khởi nghĩa của nghĩa quân Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo giành thắng lợi hoàn toàn, Nguyễn Trãi thay Lê Lợi soạn bài cáo Bình Ngô nổi tiếng, nhằm bá cáo cho toàn thể nhân dân trong thiên hạ biết về việc đất nước đã thái bình. Luan van 12 Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn giành được thắng lợi, bên cạnh vị chúa công giỏi điều binh, khiển tướng, sự đoàn kết trên dưới một lòng của các tướng sĩ, sự đoàn kết, ủng hộ của nhân dân thì công lao của Nguyễn Trãi cũng rất to lớn, như nhận xét của tác giả Nguyễn Năng Tĩnh: “Nước Việt ta từ Đinh, Lê, Lý, Trần, đời nào sáng lập cơ nghiệp đế vương, tất cũng đều phải có tướng tá giúp sức, nhưng tìm được người toàn tài toàn đức như Ức Trai tiên sinh, thật là ít lắm” [42, tr. Sau khi đánh đuổi giặc Minh, Lê Lợi lên ngôi vua, Nguyễn Trãi trở thành đầu tàu gương mẫu trong công cuộc xây dựng đất nước. Tuy nhiên, tài năng và đức độ của ông cũng bắt đầu bị bọn quyền thần ganh ghét.
Như trong Biểu tạ của gián nghị đại phu kiêm tri tam quán sự, Nguyễn Trãi có viết: “Mua ghen ghét, chuốc gièm pha, chợt nhặng xanh dơ vết/ Mới biết quả hợp (thẳng thắn) thì người khó thích” [42, tr. Ðặc biệt, sau vụ việc Trần Nguyên Hãn và Phạm Văn Xảo bị bức tử, Nguyễn Trãi bị bắt giam một thời gian ngắn. Sau đó, ông được tha nhưng không còn được nhà vua tin dùng. Năm 1433, khi Lê Thái Tổ băng hà.
Nguyễn Trãi chán nản xin về ở ẩn tại Côn Sơn, sống cuộc đời nhàn dật, ngày đêm làm bạn với thiên nhiên: “Côn Sơn có suối nước trong Ta nghe suối chảy như cung đàn cầm Côn Sơn có đá tần vần Mưa trơn rêu sạch ta nằm ta chơi Côn Sơn thông tốt ngất trời Ngả nghiêng dưới bóng ta thời tự do Côn Sơn trúc mọc đầy gò Lá xanh bóng rợp tha hồ tiêu dao.” (Côn Sơn ca) Luan van 13 “Núi láng giềng, chim bầu bạn Mây khách khứa, nguyệt anh tam.” (Thuật hứng, 19) Khi Lê Thái Tông lớn lên, hiểu rõ Nguyễn Trãi là người tài giỏi và có tấm lòng trung hiếu nên đã cho vời ông trở lại làm quan, giữ chức Gián nghị đại phu. Rất mừng rỡ, ông viết bài Biểu tạ của gián nghị đại phu kiêm tri tam quán sự (Biểu tạ ơn) hết sức xúc động và lại hăng hái ra giúp nước, chỉnh đốn kỷ cương, đào tạo nhân tài. Biểu tạ ơn có đoạn viết: “Cúi nghĩ: Sáu chục tuổi thân tàn, chức vụ đã yên phận mọn; Chín trùng trời chiếu xuống, móc mưa lại đội ân trên. Xét mình biết thế là vinh; Nghĩ bụng lại càng thêm thẹn.
Thần, tấn thân dòng cũ, chương cú nho hèn. Chuyên đọc Điền Phần chí những muốn việc cổ nhân đã muốn. Để tâm dân chúng, mình trước lo điều thiên hạ phải lo. … Thần xin giữ bền tiết cũ, mong kịp người xưa.
Biển rộng non cao, chưa báo được quyên ai chút đỉnh; Trời che đất chở, dám đâu quên ân đức lớn lao!” [42, tr.171-173] Tuy nhiên, hạ tuần tháng bảy năm 1442, vụ án Lệ Chi Viên xảy ra. Lúc đó, vua Lê Thái Tông đi tuần, trên đường đi nhà vua có ghé ngự ở Côn Sơn, cùng đi với Người có người thiếp của Nguyễn Trãi là Nguyễn Thị Lộ, chẳng may sau khi rời Côn Sơn, trên đường về kinh thì nhà vua băng hà.