Tổng quan luận án
Đề tài "Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức công chức và vận dụng tư tưởng đó trong xây dựng đạo đức công chức ở Việt Nam hiện nay" được thực hiện dưới dạng Luận án Tiến sĩ chuyên ngành Triết học. Đề tài thuộc hướng nghiên cứu định tính, kết hợp phương pháp luận triết học mác-xít với phân tích lý luận và tổng kết thực tiễn chính trị - xã hội.
Tính cấp thiết của đề tài và khoảng trống nghiên cứu
Trong hệ thống chính trị Việt Nam, đội ngũ cán bộ, công chức giữ vai trò rường cột, quyết định khả năng vận hành của bộ máy nhà nước cũng như mức độ củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Kể từ Sắc lệnh số 76/SL năm 1950 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành về quy chế công chức cho đến Pháp lệnh Cán bộ, công chức (năm 1998, sửa đổi năm 2000, 2003) và Luật Cán bộ, công chức năm 2008, Đảng và Nhà nước đã liên tục hoàn thiện khuôn khổ thể chế nhằm xây dựng đội ngũ công chức đáp ứng yêu cầu quản lý quốc gia.
Sau hơn 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới, bên cạnh những thành tựu về xây dựng đội ngũ cán bộ có đức, có tài, tư duy năng động và sáng tạo, thực tiễn đã bộc lộ hạn chế: một bộ phận cán bộ, công chức suy thoái đạo đức cách mạng, thiếu ý thức chấp hành pháp luật, thiếu tinh thần tự giác tu dưỡng, dẫn đến thái độ độc đoán, chuyên quyền, hách dịch, quan liêu, tạo bè cánh và lợi dụng chức quyền để mưu cầu lợi ích cá nhân. Yêu cầu đẩy mạnh cải cách hành chính và đổi mới chính trị đặt ra đòi hỏi cấp bách phải xây dựng đội ngũ công chức phát triển toàn diện, vừa có phẩm chất chính trị ("hồng"), vừa có trình độ chuyên môn ("chuyên").
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức công chức được xác định là cơ sở thế giới quan, phương pháp luận và kim chỉ nam định hướng cho quá trình này. Khoảng trống nghiên cứu mà luận án xác định là: mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh hoặc đạo đức công vụ dưới các góc độ khác nhau, song các công trình đó còn tản mạn, chưa có công trình trực tiếp nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức công chức và sự vận dụng tư tưởng đó trong giai đoạn hiện nay dưới góc độ chuyên ngành Triết học.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở làm rõ tầm quan trọng và thực trạng vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức công chức ở Việt Nam, luận án đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức công chức trong xây dựng đạo đức công chức ở Việt Nam hiện nay.
- Nhiệm vụ nghiên cứu: Luận án triển khai 4 nhiệm vụ cụ thể theo đúng thứ tự đánh số trong văn bản:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài, khái quát tình hình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức công chức.
- Làm rõ một số nội dung cơ bản xung quanh tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức công chức.
- Phân tích thực trạng việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức công chức trong xây dựng đạo đức công chức ở Việt Nam hiện nay và nguyên nhân của thực trạng đó.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả của việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức công chức trong xây dựng đạo đức công chức ở nước ta hiện nay.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức công chức và việc vận dụng tư tưởng đó trong xây dựng đạo đức công chức ở Việt Nam hiện nay.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức công chức trong công tác xây dựng đạo đức công chức.
- Thời gian khảo sát: Khảo sát thực tiễn quá trình đổi mới tính từ năm 1986 đến thời điểm nghiên cứu.
- Không gian: Bối cảnh hệ thống hành chính và đội ngũ cán bộ, công chức tại Việt Nam.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tiến hành phân loại và tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước có liên quan theo 3 nhóm nội dung chính:
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1. Nhóm công trình liên quan đến tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức công chức
- Đức Vượng (1995): Tác phẩm "Hồ Chí Minh với vấn đề đào tạo cán bộ" (NXB Chính trị quốc gia) phân tích quan điểm xem cán bộ là "cái gốc của mọi công việc", đòi hỏi người cán bộ phải trung thành với Tổ quốc, làm đúng nghị quyết của Đảng, giữ vững cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, gắn bó mật thiết với nhân dân.
- Trần Văn Phòng (2003): Bài viết "Tiêu chuẩn đạo đức của người cán bộ lãnh đạo chính trị hiện nay" (Tạp chí Lý luận chính trị, số 5) xác định tiêu chuẩn cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế gồm bản lĩnh chính trị, đạo đức lối sống, tư duy đổi mới, dám nghĩ dám làm và gắn bó với nhân dân.
- Thành Duy và Lê Quý Đức (2007): Công trình "Học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh - Xây dựng nền văn hóa ở nước ta hiện nay" (NXB Lý luận Chính trị) hệ thống hóa tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh qua tấm gương hy sinh vì giải phóng dân tộc và thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.
- Hoàng Trung (2010): Sách "Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh qua các phạm trù mà Người sử dụng" (NXB Đại học Quốc gia TP.HCM) phân tích các phạm trù đạo đức cơ bản mà Hồ Chí Minh vận dụng và yêu cầu đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân.
- Nguyễn Đăng Thành và Võ Kim Sơn (đồng chủ biên, 2012): Giáo trình "Đạo đức công vụ" (NXB Lao động, gồm 7 chương) làm rõ mối quan hệ giữa đạo đức cá nhân, đạo đức tổ chức, đạo đức xã hội; tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực thi công vụ (trung với nước, hiếu với dân, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, nhân, nghĩa, trí, dũng); đồng thời khảo cứu pháp luật đạo đức công vụ của Trung Quốc, Liên bang Nga, Thái Lan và các nước khối OECD.
- Nguyễn Thị Kim Dung (2013): Bài viết "Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về sử dụng cán bộ" (Tạp chí Lý luận chính trị, số 6) phân tích nghệ thuật "khéo dùng cán bộ", tin tưởng, luân chuyển và bồi dưỡng cán bộ cách mạng kế cận.
2. Nhóm công trình liên quan đến thực trạng vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức công chức
- Sách hội thảo (1997): "Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề cán bộ và công tác cán bộ trong sự nghiệp đổi mới hiện nay" (NXB Chính trị quốc gia) phân tích tiêu chuẩn cán bộ, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và chính sách cán bộ.
- Nguyễn Chí Mỳ (chủ biên, 1999): "Sự biến đổi thang giá trị đạo đức trong nền kinh tế thị trường với việc xây dựng đạo đức mới cho cán bộ quản lý ở nước ta hiện nay" (NXB Chính trị quốc gia) phân tích sự thoái hóa lối sống, biểu hiện gia tăng của chủ nghĩa cá nhân, cục bộ, thực dụng.
- Nguyễn Trọng Chuẩn và Nguyễn Văn Phúc (đồng chủ biên, 2003): "Mấy vấn đề đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường" (NXB Chính trị quốc gia) phân tích tác động hai mặt của kinh tế thị trường: mặt tích cực nâng cao tính chủ động, trách nhiệm; mặt tiêu cực dẫn đến lối sống chạy theo đồng tiền, sa ngã, sách nhiễu nhân dân.
- Bùi Thế Vĩnh (chủ biên, 2003): "Xây dựng đạo đức cán bộ, công chức Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế" (NXB Thống kê) đánh giá thực trạng đạo đức công chức giai đoạn trước năm 2002 theo các chỉ dẫn của V.I. Lênin và Hồ Chí Minh.
- Nguyễn Trọng Điều (2003): Bài viết trên Tạp chí Cộng sản (số 18) nhấn mạnh phẩm chất, năng lực chuyên môn và khả năng đàm phán độc lập của cán bộ thực thi hội nhập kinh tế quốc tế.
- Lương Đình Hải (2004): Bài viết trên Tạp chí Triết học (số 5) lý giải sự suy thoái đạo đức của cán bộ xuất phát từ cơ sở kinh tế đan xen nhiều thành phần, làm phức tạp các chuẩn mực đạo đức.
- Nguyễn Thế Kiệt (chủ biên 2005, 2011): Các công trình xuất bản tại NXB Chính trị quốc gia phân tích vai trò nêu gương của cán bộ lãnh đạo chính trị, các phẩm chất cần có (trung thực, dân chủ, nguyên tắc, nhân ái, khiêm tốn) và giải pháp khắc phục tiêu cực xã hội.
- Trần Đình Huỳnh (2005): "Hồ Chí Minh kiến trúc sư lỗi lạc của nền hành chính nhà nước Việt Nam" (NXB Lao động - Xã hội) chỉ ra sự đồng nhất giữa đạo đức cách mạng và đạo đức công chức, phân tích thành tựu và hạn chế trong cải cách hành chính, nhận thức của lãnh đạo và thể chế pháp luật.
- Phan Kiều Thanh Hương (2010): Luận văn Thạc sĩ "Đạo đức công vụ trong hoạt động quản lý nhà nước ở Thành phố Hồ Chí Minh" khảo sát việc thực hiện Điều 15 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 và mức độ quan tâm của người dân đối với đạo đức công vụ.
- Trần Đình Thắng (2012): Bài viết trên Tạp chí Tổ chức nhà nước (số 4) nhấn mạnh đạo đức là nền tảng để cán bộ quy tụ, tập hợp quần chúng.
- Cao Minh Công (2012): Luận án Tiến sĩ Triết học "Trách nhiệm công vụ và đạo đức công chức ở nước ta hiện nay" chỉ ra sự chuyển biến từ mệnh lệnh hành chính sang phục vụ nhân dân, song chỉ rõ các hạn chế về cải cách thể chế, thái độ phục vụ và chế độ tiền lương chưa có bước đột phá.
- Lê Thị Hằng (2014): Luận án Tiến sĩ Triết học hệ thống hóa các chuẩn mực đạo đức công chức trong điều kiện kinh tế thị trường.
- Nguyễn Thị Hồng Doan (2015): Luận án Tiến sĩ Triết học nghiên cứu sự kế thừa, phát triển các phạm trù Nho giáo (Nhân, Trí, Lễ, Nghĩa, Tín, Dũng, Trung, Hiếu, Cần, Kiệm, Liêm, Chính) trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh.
3. Nhóm công trình liên quan đến giải pháp
- Thang Văn Phúc (2000): Đề xuất giải pháp giáo dục đạo đức biến nghĩa vụ thành niềm tin vững chắc trong điều kiện cải cách hành chính (Tạp chí Cộng sản, số 11).
- Tô Tử Hạ, Trần Anh Tuấn, Nguyễn Thị Kim Thảo (2002): "Đạo đức trong nền công vụ" (NXB Lao động - Xã hội) đưa ra hệ thống giải pháp đồng bộ: giáo dục tự tu dưỡng, đổi mới cơ chế hoạt động hành chính, chính sách đãi ngộ vật chất - tinh thần, hoàn thiện quản lý và thanh tra xử phạt.
- Nguyễn Hữu Khiển (2003): Nhấn mạnh giải pháp nhận thức hài hòa giữa lợi ích cá nhân và xã hội, kiên trì tích lũy kỹ năng công tác (Tạp chí Triết học, số 10).
- Đào Duy Quát (chủ biên, 2004): Đề xuất giải pháp cụ thể hóa phong trào học tập tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh vào lĩnh vực hành chính quốc gia (NXB Chính trị quốc gia).
- Nguyễn Duy Quý (chủ biên, 2006): "Đạo đức xã hội ở nước ta hiện nay - Vấn đề và giải pháp" (NXB Chính trị quốc gia) gắn giáo dục đạo đức với thực hiện nguyên tắc dân chủ hóa và vai trò của Đảng cầm quyền.
- Lê Thị Hằng (2009): Nhấn mạnh gắn giáo dục đạo đức với cải cách tổ chức bộ máy và tinh gọn nền hành chính (Tạp chí Triết học, số 6).
- Trần Sĩ Phán; Ngô Thành Can (2010): Phân tích tính chuyên nghiệp và vị trí nền tảng của đạo đức đảng viên theo Văn kiện Đại hội X.
- Bùi Đình Phong (2010): Nêu 5 giải pháp xây dựng công chức là công bộc của dân: hoàn thiện khung pháp lý, hành động theo phương châm việc gì lợi cho dân phải hết sức làm, gần dân, thực hành cần kiệm liêm chính, bảo đảm chính sách đãi ngộ.
- Nguyễn Tiến Trung (2010); Lê Đình Mùi (2012): Đề xuất định hướng xây dựng luật về đạo đức công vụ, tăng cường thanh tra công vụ và đề cao trách nhiệm người đứng đầu cơ quan.
- Đỗ Xuân Tuất (2012); Cao Minh Công (2013): Nhấn mạnh cam kết tính liêm trong thực thi công vụ, kiểm soát quyền lực của cán bộ và nâng cao nhận thức thông qua chương trình hành động cụ thể.
- Nguyễn Thị Hoài Phương (2014); Trần Thị Anh Đào (2016); Trần Đình Huỳnh (2016): Khẳng định sự thống nhất giữa đạo đức nghề nghiệp và đạo đức cách mạng, đề xuất đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng theo Điều 4 Hiến pháp năm 2013 và tinh giản biên chế bộ máy.
| Hướng nghiên cứu đã có | Tác giả, công trình tiêu biểu | Giá trị đạt được | Khoảng trống luận án giải quyết |
|---|---|---|---|
| Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức công chức | Đức Vượng (1995), Hoàng Trung (2010), Nguyễn Đăng Thành & Võ Kim Sơn (2012) | Làm rõ các phạm trù đạo đức cơ bản, tiêu chuẩn cán bộ, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. | Các công trình trước nghiên cứu tản mạn, chưa phân tích toàn diện, hệ thống dưới góc độ triết học về cơ sở hình thành và nội hàm đạo đức công chức. |
| Thực trạng vận dụng trong thời kỳ đổi mới | Nguyễn Chí Mỳ (1999), Nguyễn Trọng Chuẩn (2003), Cao Minh Công (2012), Lê Thị Hằng (2014) | Đánh giá tác động của kinh tế thị trường, chỉ ra suy thoái đạo đức, hạn chế về thể chế và chính sách. | Các đánh giá thực trạng còn rời rạc theo từng ngành/địa phương, chưa phân tích đầy đủ các nhân tố tác động từ 1986 đến nay. |
| Giải pháp nâng cao đạo đức công vụ | Tô Tử Hạ et al. (2002), Bùi Đình Phong (2010), Cao Minh Công (2013), Trần Đình Huỳnh (2016) | Đề xuất giải pháp giáo dục, cải cách hành chính, hoàn thiện pháp luật, kiểm soát quyền lực. | Thiếu hệ thống giải pháp triết học đồng bộ gắn kết chặt chẽ giữa chuẩn mực đạo đức Hồ Chí Minh với yêu cầu cải cách nền hành chính hiện nay. |
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận và các khái niệm sử dụng
Luận án dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng các quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về đạo đức, công chức và đạo đức công chức.
- Khái niệm đạo đức: Dưới góc độ triết học mác-xít, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, phản ánh tồn tại xã hội và đời sống kinh tế - xã hội khách quan. Đạo đức là toàn bộ tư tưởng, quan điểm, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và với xã hội, được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội. Đạo đức vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển xã hội qua 3 vai trò: tác động thúc đẩy hoặc kìm hãm kinh tế; là phương thức điều chỉnh hành vi tự giác rộng lớn; và góp phần nhân đạo hóa con người.
- Khái niệm công chức (khảo cứu so sánh):
- Tại Pháp: Theo từ điển Petit Larousse (1992) và Điều 2 Quy chế chung về công chức năm 1994, công chức là người được bổ nhiệm vào công việc thường xuyên, làm việc trọn vẹn và biên chế vào một ngạch bậc hành chính, gồm 3 loại: công chức hành chính nhà nước, công chức địa phương, và công chức trực thuộc các công sở tự quản (bệnh viện).
- Tại Hoa Kỳ: Tất cả nhân viên trong bộ máy hành chính của chính phủ (kể cả người được bổ nhiệm chính trị như bộ trưởng, thứ trưởng) đều là công chức, quan hệ chịu sự điều chỉnh của luật hành chính và hợp đồng dân sự; nghị sĩ và nhân viên lập pháp không thuộc diện này.
- Tại Nhật Bản: Chia thành công chức nhà nước (hưởng lương ngân sách trung ương, tư pháp, quốc hội, quân đội, trường học, bệnh viện quốc lập) và công chức địa phương.
- Định nghĩa đạo đức công chức theo tư tưởng Hồ Chí Minh: Luận án rút ra định nghĩa: Đạo đức công chức là dạng đặc biệt của đạo đức nghề nghiệp bao gồm những chuẩn mực, những nguyên tắc nhằm đánh giá, điều chỉnh thái độ, hành vi, cách xử sự, thực hiện chức trách, bổn phận của công chức đối với xã hội, đối với Tổ quốc và nhân dân.
- Đạo đức là "gốc", là nền tảng của tài năng trong mối quan hệ biện chứng giữa "đức" và "tài".
- Đạo đức công chức đồng nhất với đạo đức cách mạng, mang bản chất giai cấp công nhân (đạo đức cộng sản) và mang tính nhân văn phổ biến.
- Chuẩn mực cốt lõi được cô đọng trong 8 chữ: "Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư".
- Xác định vị thế của người cán bộ, công chức vừa là người "lãnh đạo, dẫn đường", vừa là "công bộc", "đầy tớ" trung thành của nhân dân; đòi hỏi người công chức phải có lòng tự trọng và biết liêm sỉ.
Tiền đề hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức công chức
- Cơ sở thực tiễn:
- Quá trình xây dựng Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ năm 1945; bản Hiến pháp năm 1946 (Điều 1 khẳng định quyền bính thuộc về toàn thể nhân dân; Điều 7 khẳng định công dân bình đẳng và tham gia chính quyền theo tài năng, đức hạnh).
- Các sắc lệnh xây dựng chế độ công vụ: Sắc lệnh số 188/SL ngày 29/5/1948 (sửa đổi chế độ công chức và thang lương), Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 (ban hành Quy chế công chức xác định vị trí, nghĩa vụ và quyền lợi tương xứng với tài năng).
- Thực tiễn 24 năm trên cương vị Chủ tịch nước lãnh đạo kháng chiến và kiến quốc, ban hành 16 đạo luật và ký trên 1300 sắc lệnh, văn bản luật.
- Tiền đề lý luận:
- Truyền thống văn hóa, đạo đức dân tộc Việt Nam: Tinh thần yêu nước nồng nàn, đoàn kết, thương yêu con người.
- Truyền thống đạo đức phương Đông: Tiếp thu và cải biến sáng tạo các phạm trù Nho giáo (Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín, Dũng, Cần, Kiệm, Liêm, Chính; tư tưởng "dân vi quý", "tu thân"); tiếp thu tinh thần từ bi, vị tha, hướng thiện của Phật giáo.
- Tinh hoa tư tưởng phương Tây: Tư tưởng nhân ái thời kỳ Phục hưng; khẩu hiệu "Tự do - Bình đẳng - Bác ái" của các nhà khai sáng Pháp (Voltaire, Diderot, Rousseau, Montesquieu); Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ năm 1776; tư tưởng bác ái, công bằng của Chúa Giêsu.
- Chủ nghĩa Mác - Lênin: Nền tảng đạo đức cộng sản của giai cấp vô sản; các chỉ dẫn của V.I. Lênin về đào tạo chuyên gia, lựa chọn, bố trí cán bộ quản lý và phẩm chất tin tưởng tuyệt đối vào quần chúng nhân dân.
Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
- Phương pháp luận: Luận án sử dụng phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
- Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận kết hợp tổng kết thực tiễn.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp.
- Phương pháp lịch sử và logic.
- Phương pháp thống kê, đối chiếu và so sánh (so sánh thể chế công chức quốc tế, so sánh thang giá trị đạo đức truyền thống và hiện đại).
- Kế thừa kết quả nghiên cứu điều tra xã hội học từ các công trình khoa học đã công bố liên quan đến đề tài.
- Nguồn tư liệu: Các văn bản lập quy của Nhà nước (Hiến pháp 1946, 2013; Sắc lệnh 188/SL, 76/SL; Pháp lệnh Cán bộ, công chức; Luật Cán bộ, công chức 2008); Văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam; Toàn tập Hồ Chí Minh; các công trình sách chuyên khảo, đề tài, luận án, tạp chí chuyên ngành đã công bố.
Nội dung chính theo từng chương
Kết cấu luận án gồm phần Mở đầu, 4 Chương (gồm 14 tiết), Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo.
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án
Chương 1 thực hiện việc hệ thống hóa toàn diện các công trình nghiên cứu trong nước từ năm 1995 đến năm 2016 theo 3 trục nội dung:
- Khái quát các công trình nghiên cứu cơ sở lý luận về tư tưởng Hồ Chí Minh đối với đạo đức cán bộ, công chức (như Đức Vượng, Trần Văn Phòng, Thành Duy, Lê Quý Đức, Hoàng Trung, Nguyễn Đăng Thành, Võ Kim Sơn).
- Phân tích các nghiên cứu về thực trạng biến đổi đạo đức công chức và sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế và cải cách hành chính (Nguyễn Chí Mỳ, Nguyễn Trọng Chuẩn, Bùi Thế Vĩnh, Lương Đình Hải, Cao Minh Công, Lê Thị Hằng).
- Tổng hợp các hướng giải pháp nâng cao phẩm chất đạo đức công chức và phòng chống suy thoái chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" (Tô Tử Hạ, Đào Duy Quát, Bùi Đình Phong, Trần Thị Anh Đào, Trần Đình Huỳnh).
- Kết luận của chương: Đánh giá những đóng góp của các học giả đi trước, đồng thời xác định rõ việc nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức công chức và sự vận dụng trong giai đoạn hiện nay dưới góc độ triết học là nhiệm vụ cần tiếp tục làm rõ.
Chương 2: Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức công chức
Chương 2 tập trung luận giải cơ sở hình thành và nội dung cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức công chức:
- Khái niệm và bản chất: Định nghĩa đạo đức dưới góc độ triết học; so sánh mô hình công chức tại Pháp, Hoa Kỳ, Nhật Bản để định vị khái niệm công chức Việt Nam; làm rõ đạo đức công chức là dạng đạo đức nghề nghiệp đặc biệt gắn với nền công vụ phục vụ nhân dân.
- Mối quan hệ đức - tài: Đạo đức là "gốc", là "nền tảng", tài năng là phương tiện; người cán bộ phải vừa có đức vừa có tài, xử lý đúng đắn 3 mối quan hệ cơ bản: đối với mình, đối với người, và đối với công việc.
- Cơ sở thực tiễn và lý luận: Phân tích bối cảnh xây dựng chính quyền từ Hiến pháp 1946, Sắc lệnh 76/SL (1950) đến tư tưởng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân; phân tích sự kế thừa sáng tạo truyền thống đạo đức dân tộc, các phạm trù Nho giáo, tinh thần từ bi Phật giáo, tư tưởng khai sáng phương Tây và đạo đức cộng sản mác-xít.
- Chuẩn mực và phẩm giá: Phân tích hệ chuẩn mực "Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư", trách nhiệm làm "công bộc" của nhân dân, ý thức về liêm sỉ và danh dự của người cán bộ lãnh đạo, công chức nhà nước.
Chương 3: Thực trạng việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức công chức trong xây dựng đạo đức công chức ở Việt Nam hiện nay
(Nội dung được xác định theo mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án)
- Đánh giá những thành tựu đạt được trong việc quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh để thể chế hóa các quy chế công vụ (Pháp lệnh Cán bộ, công chức; Luật Cán bộ, công chức năm 2008), tinh giản tổ chức bộ máy và nâng cao tinh thần trách nhiệm của đội ngũ công chức trong thời kỳ Đổi mới.
- Phân tích các hạn chế: Sự suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, chủ nghĩa cá nhân, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, hách dịch, xa dân của một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức.
- Luận giải các nhân tố tác động và nguyên nhân của thực trạng: Tác động hai mặt của cơ chế thị trường, sự đan xen giữa các hệ giá trị, bất cập trong cải cách thể chế, chế độ tiền lương chưa thỏa đáng, công tác giáo dục đạo đức có lúc còn hình thức và sự thiếu tự giác rèn luyện của bản thân công chức.
Chương 4: Phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả của việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức công chức trong xây dựng đạo đức công chức ở nước ta hiện nay
(Nội dung được xác định theo mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án)
- Đề xuất phương hướng gắn việc học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh với công tác cải cách hành chính, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và chỉnh đốn Đảng.
- Xác định hệ thống giải pháp cơ bản:
- Đẩy mạnh nâng cao nhận thức, đổi mới nội dung và phương thức giáo dục tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh gắn với chương trình hành động thực tiễn.
- Hoàn thiện khung khổ thể chế pháp luật về công vụ và chuẩn mực đạo đức công chức, nghiên cứu xây dựng luật về đạo đức công vụ.
- Đổi mới cơ chế quản lý, tuyển dụng, luân chuyển và đánh giá cán bộ công chức; thực hiện chính sách đãi ngộ vật chất và tiền lương thỏa đáng.
- Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát công vụ, kiểm soát quyền lực, phát huy vai trò giám sát của nhân dân và xử lý nghiêm các vi phạm đạo đức.
- Đề cao tính tự giác tu dưỡng, rèn luyện liêm sỉ, nói đi đôi với làm và tinh thần nêu gương của cán bộ, đặc biệt là người đứng đầu cơ quan, tổ chức.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Luận án làm rõ cơ sở thực tiễn và tiền đề lý luận hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức công chức, phân tích quá trình kế thừa và chuyển hóa các giá trị đạo đức truyền thống dân tộc, đạo đức phương Đông (Nho giáo, Phật giáo), tư tưởng dân quyền phương Tây và chủ nghĩa Mác - Lênin thành hệ thống chuẩn mực đạo đức mới - đạo đức cộng sản.
- Luận án xác lập định nghĩa khoa học về đạo đức công chức dưới góc độ triết học, khẳng định đạo đức công chức là dạng đặc biệt của đạo đức nghề nghiệp; đồng thời luận giải sâu sắc nguyên lý đạo đức là "cái gốc" của người cách mạng, thống nhất hữu cơ giữa đạo đức và tài năng.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Luận án đánh giá bức tranh thực trạng việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng đạo đức đội ngũ công chức Việt Nam giai đoạn từ năm 1986 đến nay, chỉ rõ các thành tựu, hạn chế và nguyên nhân cốt lõi từ cơ chế quản lý đến ý thức tự tu dưỡng.
- Đề xuất hệ thống nhóm giải pháp đồng bộ có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức công chức, phục vụ trực tiếp cho công cuộc cải cách nền hành chính nhà nước trong sạch, vững mạnh và nâng cao năng lực phục vụ nhân dân.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Phạm vi khảo sát thực tiễn của luận án giới hạn từ mốc khởi đầu công cuộc Đổi mới (năm 1986) đến thời điểm nghiên cứu; luận án chủ yếu sử dụng phương pháp định tính và kế thừa dữ liệu điều tra xã hội học từ các công trình đã công bố mà không tổ chức điều tra thực nghiệm diện rộng độc lập.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Nghiên cứu sự biến đổi của chuẩn mực đạo đức công vụ trong bối cảnh đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia và hội nhập quốc tế sâu rộng.
- Đánh giá tác động thực tế của các chính sách cải cách chế độ tiền lương và cơ chế kiểm soát tài sản, thu nhập đối với việc duy trì đức tính "liêm chính" của đội ngũ công chức.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng phục vụ:
- Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Triết học, Hồ Chí Minh học, Xây dựng Đảng, Quản lý hành chính công và Khoa học chính trị.
- Các nhà hoạch định chính sách, cơ quan tham mưu về công tác tổ chức cán bộ, cơ quan quản lý nhà nước về nội vụ và thanh tra công vụ.
- Các nội dung có giá trị tham khảo nổi bật:
- Khung tổng quan tài liệu phong phú, hệ thống hóa chi tiết các công trình nghiên cứu về đạo đức công chức tại Việt Nam từ năm 1995 đến 2016 (Chương 1).
- Phân tích đối chiếu khái niệm công chức giữa Việt Nam và các quốc gia (Pháp, Hoa Kỳ, Nhật Bản), cùng sự kế thừa các phạm trù Nho giáo trong tư tưởng Hồ Chí Minh (Chương 2).
- Hệ thống giải pháp gắn kết việc rèn luyện đạo đức công chức với cải cách thể chế và kiểm soát quyền lực (Chương 4).
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án định nghĩa đạo đức công chức theo tư tưởng Hồ Chí Minh như thế nào?
Theo luận án, đạo đức công chức là dạng đặc biệt của đạo đức nghề nghiệp bao gồm những chuẩn mực, những nguyên tắc nhằm đánh giá, điều chỉnh thái độ, hành vi, cách xử sự, thực hiện chức trách, bổn phận của công chức đối với xã hội, đối với Tổ quốc và nhân dân. Đạo đức là nền tảng, là gốc của tài năng, gắn với hệ chuẩn mực "cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư".
2. Phạm vi thời gian khảo sát thực tiễn của luận án được xác định trong giai đoạn nào?
Phạm vi thời gian khảo sát thực tiễn của luận án được xác định từ năm 1986 (thời điểm bắt đầu công cuộc Đổi mới đất nước) đến thời điểm nghiên cứu.
3. Những tiền đề lý luận nào đã hình thành nên tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức công chức?
Tư tưởng của Người được hình thành từ 3 tiền đề lý luận chính: (1) Truyền thống đạo đức dân tộc Việt Nam kết hợp với việc kế thừa, phát triển sáng tạo các phạm trù đạo đức phương Đông (Nho giáo, Phật giáo); (2) Các tư tưởng tiến bộ phương Tây (tư tưởng nhân ái thời Phục hưng, tư tưởng Tự do - Bình đẳng - Bác ái của các nhà khai sáng Pháp, Tuyên ngôn Độc lập Mỹ 1776, lòng bác ái của Chúa Giêsu); (3) Các nguyên lý về đạo đức cộng sản của chủ nghĩa Mác - Lênin và tấm gương của V.I. Lênin.
4. Khái niệm công chức tại Pháp được phân loại như thế nào trong phần khảo cứu so sánh của luận án?
Theo Điều 2 Quy chế chung về công chức năm 1994 của Pháp được luận án trích dẫn, công chức gồm 3 loại: công chức hành chính nhà nước (trực thuộc các bộ trưởng quản lý), công chức địa phương (làm việc cho chính quyền địa phương), và công chức trực thuộc các công sở tự quản (bao gồm các bệnh viện).
5. Những sắc lệnh ban đầu nào thời kỳ 1945-1950 thể hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng quy chế công chức?
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trực tiếp ban hành 2 sắc lệnh cơ bản: Sắc lệnh số 188/SL ngày 29/5/1948 về sửa đổi chế độ công chức và đặt các thang lương cho công chức; và Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 ban hành Quy chế công chức, xác định vị trí, vai trò, nghĩa vụ và quyền lợi của công chức tương xứng với tài năng.
Kết luận
Luận án Tiến sĩ Triết học "Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức công chức và vận dụng tư tưởng đó trong xây dựng đạo đức công chức ở Việt Nam hiện nay" là công trình nghiên cứu hệ thống và toàn diện về mặt lý luận triết học mác-xít đối với di sản tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh. Tác giả đã làm rõ các cơ sở hình thành, bản chất, nội dung của đạo đức công chức với tư cách là đạo đức cộng sản, lấy phẩm chất "cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư" và tinh thần "công bộc của dân" làm giá trị cốt lõi. Đồng thời, trên cơ sở đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ công chức từ năm 1986 đến nay, luận án đã đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục, hoàn thiện thể chế và kiểm soát quyền lực, phục vụ thiết thực cho sự nghiệp cải cách nền hành chính nhà nước tại Việt Nam.