Chương 1: Một số vấn đề chung về đạo đức, tác giả cũng đề cập đến mối quan hệ giữa đạo đức và các hình thái ý thức xã hội khác; những khía cạnh liên quan đến đạo đức cá nhân; đạo đức tổ chức và đạo đức xã hội. Chương 2: Đạo đức người làm việc cho nhà nước và tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức. Các tác giả cho rằng, đạo đức người làm việc cho nhà nước phải trở thành tấm gương; chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật nhà nước; chấp hành một cách tự giác những nét biểu hiện văn hóa đạo đức được xã hội tôn trọng. Chương 3: Đạo đức nghề nghiệp.
Tác giả cho rằng: Đạo đức nghề nghiệp chính là tập hợp tất cả những hành vi được coi là phù hợp với các nhân viên, người lao động trong một công ty, doanh nghiệp. Chương 4: Đạo đức thực thi công vụ của công chức, đạo đức thực thi công vụ của công chức. Tác giả đã nhấn mạnh các yếu tố đạo đức công vụ là công việc và con người thực thi công việc đó. Đạo đức công vụ trước hết được hình thành từ đạo đức cá nhân của công chức; đạo đức công vụ được hình thành từ khía cạnh đạo đức xã hội của công chức, đạo đức công vụ là đạo đức nghề nghiệp đặc biệt - công vụ của công chức….đạo đức thực thi công vụ là sự hài hóa của các giá trị.
Chương 5: Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh trong thực thi công vụ: Đạo đức công vụ trước hết là đạo đức cách mạng: trung với nước, hiếu với dân; cần, kiệm, liêm, chính; chí công vô tư, nhân, nghĩa, trí, dũng. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng từng đề cập một nội dung mới, phản ánh đạo đức cao rộng hơn là "trung với nước hiếu với dân". Đó là một cuộc cách mạng trong quan niệm đạo đức. Nội dung chủ yếu của "trung với nước" là: trong mối quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng và xã hội, phải biết đặt lợi ích của Đảng, của Tổ quốc, của cách mạng lên trên hết, trước hết; Quyết tâm phấn đấu thực hiện mục tiêu cách mạng; Thực hiện tốt mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.
7 Một phẩm chất đạo đức nữa luôn gắn liền với những hoạt động hàng ngày của Chủ tịch Hồ Chí Minh và luôn được đề cập nhiều nhất, thường xuyên nhất là Cần Kiệm - Liêm Chính - Chí Công - Vô Tư. Hồ Chí Minh đã sử dụng những khái niệm cần kiệm liêm chính, chí công vô tư của đạo đức phương Đông và đạo đức truyền thống Việt Nam. Chương 6: Pháp luật về đạo đức công vụ. Tác giả đưa ra những nguyên tắc chung để xây dựng pháp luật về đạo đức công vụ: Chương 7: Pháp luật về đạo đức của một số nước lựa chọn như: Trung Quốc, Liên Bang Nga, Thái Lan, và đạo đức công vụ của các nước thuộc khối OECD.
Cuốn sách trình bày ngắn gọn, súc tích nhưng vô cùng sâu sắc về tấm gương, tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức, về vấn đề học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong sự nghiệp của nhân dân ta ngày nay. Trong tác phẩm này, tác giả đã đề cập, phân tích sâu sắc, minh chứng rõ ràng về nội dung tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh trong một số lĩnh vực, đó là: Đạo đức trong lao động, đạo đức trong chiến đấu, đạo đức trong học tập… Tác giả Nguyễn Thị Kim Dung, "Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về sử dụng cán bộ" Tạp chí Lý luận chính trị số 6-2013 [20]. Tác giả đã chỉ ra quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về cách sử dụng cán bộ như: phải khéo dùng cán bộ. Trong công tác cán bộ phải "khéo dùng", là phải dùng đúng người, đúng việc, đúng năng lực, sở trường, làm cho cán bộ vui vẻ, thoải mái, yên tâm công tác và hăng hái thi đua cống hiến sức mình cho sự nghiệp cách mạng.
Phải tin tưởng, yêu thương, giúp đỡ cán bộ. Tin tưởng cán bộ là sự tôn trọng phẩm chất, năng lực của cán bộ. Tin tưởng trao việc cho họ, "thả cho họ làm", "thả cho họ phụ trách", không bao biện làm thay. Có như vậy, họ mới phấn khởi, mạnh dạn, tin vào năng lực của mình, dám làm dám chịu trách nhiệm.
Phải kết hợp giữa cán bộ lớn tuổi và cán bộ trẻ, lớp cán bộ cũ và cán bộ mới, tạo nguồn cán bộ kế cận để bảo đảm sự chuyển giao công việc, phải bồi 8 dưỡng cán bộ cách mạng cho đời sau vượt qua khó khăn để vươn lên hoàn thành tốt nhiệm vụ. Trong công tác cán bộ, cần phải chú trọng thực hiện việc luân chuyển cán bộ nhằm đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác của cán bộ. Thông qua thực tiễn để rèn luyện, thử thách cán bộ, làm cho cán bộ thích ứng với nhiệm vụ Đảng giao, phát huy năng lực của mình ở mức cao hơn trong nhiều hoàn cảnh khác nhau. Qua việc luân chuyển cán bộ, phát hiện được điểm mạnh, điểm yếu của họ về năng lực và phẩm chất để từ đó bổ nhiệm công tác phù hợp hơn.
Trách nhiệm của công chức là phạm trù quan trọng trong đời sống xã hội, từ trách nhiệm đối với bản thân, đối với cộng đồng xã hội mà mỗi cán bộ, công chức đều phải đảm trách một công việc nhân danh công quyền, nhất định phải thực hiện và gánh vác. Như vậy, các công trình trên đã nghiên cứu đạo đức công chức ở những khía cạnh khác nhau nhằm góp phần giải quyết những vấn đề cấp thiết của thực tiễn đạo đức công chức trong nền công vụ Việt Nam và góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, thực tiễn của đạo đức công chức ở nước ta hiện nay. Những công trình này ở một mức độ nhất định đã đề cập đến một số phương diện trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức công chức. Những công trình đó đã gợi mở cho tôi nhiều ý tưởng quan trọng, đồng thời là nguồn tư liệu quý báu trong quá trình tôi thực hiện đề tài của mình.
Tuy nhiên, những công trình trên do khuôn khổ và mục đích riêng, chưa làm sáng tỏ được tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức công chức, cũng như chưa vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức công chức trong xây dựng đạo đức công chức trong điều kiện hiện nay. Những nghiên cứu liên quan đến thực trạng vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức công chức trong xây dựng đạo đức công chức ở Việt Nam hiện nay Trong những năm qua, cùng với công cuộc đổi mới phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, vấn đề văn hóa, tư tưởng, đạo đức, đạo đức công chức cũng 9 được quan tâm cả trên lĩnh vực lý luận lẫn thực tiễn. Điển hình là các công trình nghiên cứu vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức công chức: Cuốn sách "Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề cán bộ và công tác cán bộ trong sự nghiệp đổi mới hiện nay", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997. Cuốn sách được biên soạn trên cơ sở hội thảo khoa học: "Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ trong sự nghiệp đổi mới hiện nay".
Các tham luận đã đề cập đến nhiều vấn đề cơ bản như: cơ sở lý luận và thực tiễn hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ, tiêu chuẩn cán bộ, công tác đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng và chính sách cán bộ… các ý kiến tham luận đã làm rõ thêm sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay đồng thời đưa ra những giải pháp, những kiến nghị nhằm góp phần đổi mới công tác tổ chức và đào tạo cán bộ trong thời gian tới. Tác giả Nguyễn Chí Mỳ (chủ biên, 1999) "Sự biến đổi thang giá trị đạo đức trong nền kinh tế thị trường với việc xây dựng đạo đức mới chi cán bộ quản lý ở nước ta hiện nay" Nxb Chính trị quốc gia [75], gồm ba phần: Phần 1, Đạo đức mới trong nền kinh tế thị trường Phần 2, Sự biến đổi của thang giá trị đạo đức trong nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Phần 3, Xây dựng đạo đức mới cho cán bộ quản lý trong nền kinh tế thị trường phương hướng và giải pháp hình thành thang giá trị đạo đức mới, tác giả đưa ra yêu cầu đối với cán bộ quản lý trong đó có công chức: tác giả đã phân tích sự thoái hóa về đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên đã ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, làm giảm sút lòng tin của nhân dân, tổn thương mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân, hạ thấp sức chiến đấu và vai trò lãnh đạo của Đảng. Những biểu hiện rõ nhất của sự thoái hóa về đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý là chủ nghĩa cá nhân, cục bộ, thực dụng, đang có xu hướng gia tăng. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ về tác hại của chủ nghĩa cá nhân: Chủ nghĩa cá nhân đẻ trăm thứ bệnh nguy hiểm: quan liêu, mệnh lệnh, bè phái, chủ quan, tham ô, lãng phí.
10 Tác giả Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Văn Phúc (đồng chủ biên, 2003), "Mấy vấn đề đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội [14]. Cuốn sách gồm ba phần: Phần 1: Những tác động của nền kinh tế thị trường đối với đạo đức. Các tác giả đã phân tích những tác động của kinh tế thị trường đến đạo đức xã hội Việt Nam hiện nay và khẳng định kinh tế thị trường đang có những tác động tích cực và tiêu cực tới đời sống đạo đức xã hội Việt Nam. Tác động tích cực của kinh tế thị trường là làm cho con người chủ động, tích cực, ý thức trách nhiệm của mỗi cá nhân không ngừng được nâng lên.
Những tác động tiêu cực của nền kinh tế thị trường đến đời sống đạo đức xã hội Việt Nam như: lối sống chạy theo đồng tiền, thực dụng, tệ nạn xã hội có xu hướng gia tăng; điều đó cũng tác động đến một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, công chức. Kinh tế thị trường đòi hỏi và tạo điều kiện cho công chức thực hiện công vụ tốt hơn. Nhưng mặt trái của kinh tế thị trường cũng khiến nhiều công chức sa ngã, chạy theo lợi ích cá nhân, tham nhũng, sách nhiễu nhân dân, trái với tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức công chức.