Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẬN DỤNG TRUYỀN THỐNG VĂN HÓA PHÁP LÝ VIỆT NAM TRONG XÂY DỰNG VĂN HOÁ PHÁP LÝ HIỆN NAY 1. VĂN HÓA PHÁP LÝ VÀ TRUYỀN THỐNG VĂN HÓA PHÁP LÝ VIỆT NAM 1. Khái niệm văn hóa pháp lý và truyền thống văn hoá pháp lý 1. Khái niệm văn hoá pháp lý Văn hóa là một khái niệm rộng, được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau.
Có quan niệm cho rằng văn hóa là tổng thể những hoạt động tinh thần, trí tuệ của xã hội, thể hiện phong tục tập quán, ngôn ngữ, ứng xử, hành vi phổ biến của xã hội. Cũng có quan điểm cho rằng, văn hóa là một quá trình nhận thức, phản ánh trong đời sống xã hội của con người. Có quan niệm lại chia văn hóa thành văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể; văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần, đồng thời đưa ra các quan niệm về những loại hình văn hoá đó…. Paul Scheffer, chuyên gia của UNESCO đã thống kê được 256 định nghĩa khác nhau về văn hóa [51, tr.16] Tuy nhiên, trong các quan niệm về văn hoá đó đều có một điểm chung: Văn hóa gắn liền với sự phát triển của xã hội loài người và phản ánh trình độ văn minh của xã hội.
Văn hóa là hệ thống giá trị vật chất và tinh thần do con người tạo ra, tích lũy và lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác phản ánh nhu cầu và năng lực của con người hướng tới Chân, Thiện, Mỹ; là giá trị tồn tại trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội. Văn hoá với quan niệm trên được thể hiện trong tất cả các sản phẩm do con người tạo ra, từ công cụ sản xuất đến các vật dụng sinh hoạt, từ tri thức khoa học, tác phẩm nghệ thuật, trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Văn hóa pháp lý là một bộ phận của nền văn hoá nói chung, là kết quả của bản thân hoạt động pháp luật của mỗi quốc gia, một dân tộc, một cộng đồng người. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 Về phương diện lý luận, văn hóa pháp lý ngày càng được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, theo PGS.TS Lê Minh Tâm: Văn hóa pháp luật, nói một cách tổng quát là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần mà con người sáng tạo ra trong lĩnh vực pháp luật, bao gồm hệ thống quy phạm pháp luật trong các thời kỳ lịch sử, những tư tưởng, quan điểm, luận điểm, nguyên lý, nguyên tắc, những tác phẩm văn hóa pháp luật, những kinh nghiệm và thói quen tích lũy được trong quá trình xây dựng và thực thi pháp luật… [42, tr.
Lê Thanh Thập viết: Văn hóa pháp luật là những giá trị nhân đạo, tiến bộ, tích cực của hệ thống pháp luật trong xã hội được thể hiện trong các đạo luật và thiết chế xã hội. Đồng thời, các giá trị đó còn đươc thể hiện trong các hoạt động pháp luật, thẩm thấu vào nhận thức và hành động của mỗi cá nhân, biến thành nhu cầu thường trực trong ứng xử của họ [47, tr. Với PGS, TS Nguyễn Văn Mạnh: Văn hoá pháp luật là một bộ phận của nền tảng tinh thần xã hội, biểu hiện trình độ văn minh của đời sống pháp luật trong xã hội bao gồm tư tưởng, quan điểm khoa học về pháp luật gắn với hệ thống pháp luật, được đưa vào vận hành trong đời sống cộng đồng thông qua các thiết chế chính trị - xã hội và được biểu hiện bằng hành vi thực hiện pháp luật của cá nhân, tổ chức và cộng đồng xã hội nhằm phục vụ cho đời sống của con người và sự phát triển của xã hội [34, tr. Xuất phát từ các yếu tố hợp thành, LS Lê Đức Tiết cho rằng: Văn hóa pháp lý là một dạng, một bộ phận hợp thành của nền văn hóa dân tộc.
Cũng như các dạng, thành phần văn hóa khác, văn hóa pháp lý bao gồm trong nó ba yếu tố: Ý thức pháp luật của Nhà nước, của dân tộc, của các cộng đồng và của các công dân qua các thời kỳ lịch sử; nền pháp luật bao gồm pháp luật thành văn và chưa LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 thành văn được xây dựng nên qua các thời kỳ lịch sử; trình độ, kỹ năng, nghệ thuật với vai trò là vũ khí bảo vệ quyền con người, quyền công dân, là công cụ quản lý thống nhất của nhà nước, là căn cứ pháp lý điều chỉnh mọi hoạt động của Nhà nước, của xã hội, là mực thước xử xự đúng pháp luật của mọi công dân [51, tr. Năm 2001, tại Hội thảo khoa học của Viện nghiên cứu Khoa học pháp lý thuộc Bộ Tư pháp về Văn hóa tư pháp, các nhà khoa học đã đề cập đến nên diễn đạt thuật ngữ “văn hóa pháp luật” hay “văn hóa pháp lý” và đi đến thống nhất sử dụng thuật ngữ “ văn hóa pháp lý”, bởi khái niệm pháp lý rộng hơn khái niệm pháp luật, phù hợp hơn [61, tr. Tác giả hoàn toàn thống nhất với nhận thức văn hoá pháp lý tại cuộc Hội thảo này. Như trên đã đề cập, nói văn hoá là nói tới toàn bộ những giá trị sáng tạo về tinh thần và vật chất, thể hiện trình độ sống, dân trí, những quan niệm về đạo lý nhân sinh, thẩm mỹ của một dân tộc và dấu ấn ở mỗi con người.
Văn hoá góp phần trực tiếp tạo nên bản sắc của dân tộc, tạo nên sự khác biệt giữa dân tộc này với dân tộc khác. Văn hóa pháp lý là một bộ phận của văn hóa nói chung. Vì lẽ đó, văn hóa pháp lý phải là những giá trị, là thành quả của quá trình lao động và sáng tạo của con người Từ những cách tiếp cận như trên, tác giả cho rằng khái niệm văn hóa pháp lý của các tác giả trong Từ điển Luật học - Viện khoa học pháp lí, Bộ Tư pháp là đầy đủ nhất, theo đó: Văn hoá pháp lí là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần mang tính pháp lí không có sẵn trong thiên nhiên mà do nhà nước và nhân dân tạo ra. Do pháp luật có một vị trí đặc biệt trong đời sống của một quốc gia, có quan hệ mật thiết với cuộc sống con người, gắn liền hữu cơ với những phạm trù có vị trí đặc biệt trong đời sống tinh thần của một cá nhân như công bằng, lẽ phải, công lí, dân chủ tự do, nên ở mỗi con người, nhìn từ nhiều góc độ, có mối quan tâm đặc biệt đối với pháp luật, đời sống pháp luật của xã hội LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 14 làm hình thành ở mỗi con người những quan niệm, nhận thức, có khi cả những lí tưởng đối với những giá trị của pháp luật; đồng thời, cũng làm hình thành thói quen, ham muốn, thích thú được sống và và làm việc theo hiến pháp và pháp luật và qua pháp luật qua thời gian được nâng lên thành lí tưởng, thành nhân sinh quan pháp luật có tính văn hoá và giá trị văn hoá cao, đặc thù ở cả một bộ phận, có khi không nhỏ của dân cư, trở thành một bộ phận không thể tách rời của văn hoá dân tộc.
Văn hoá pháp lí là một bộ phận cấu thành của một nền văn hoá dân tộc. văn hóa pháp lí bao gồm hệ thống pháp luật, ý thức pháp luật (gồm tư tưởng pháp luật và tâm lí pháp luật), thể hiện ở tri thức pháp luật, thói quen, lối sống theo pháp luật, nghệ thuật vận dụng pháp luật trong đời sống hàng ngày [62, tr.840] Từ đó, có thể hiểu văn hóa pháp lý là sự phản ánh và thể hiện một cách tổng quát, sống động mọi mặt của đời sống pháp luật (của cá nhân và cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ và hiện tại, nó cấu thành một hệ thống giá trị và lối sống pháp luật của một cộng đồng, một quốc gia, dân tộc. Văn hóa pháp lý có cấu trúc gồm: hệ thống pháp luật, ý thức pháp luật (gồm tư tưởng pháp luật và tâm lí pháp luật) và hành vi, lối sống theo pháp luật. Khái niệm truyền thống văn hóa pháp lý và vận dụng truyền thống văn hoá Việt Nam trong xây dựng văn hoá pháp lý hiện nay Thứ nhất, khái niệm truyền thống văn hóa pháp lý Việt Nam Truyền thống trong gốc chữ La -tinh là: "Traditio", dịch nghĩa là: Nối đời, nối truyền, truyền lại…Truyền thống là những gì được truyền từ đời này sang đời khác.
Với người Trung Quốc: " Truyền thống là sức mạnh của tập quán của xã hội đươc lưu truyền lại từ lịch sử. Nó tồn tại ở các lĩnh vực chế độ, tư tưởng văn hóa, đạo đức. Truyền thống có tác động khống chế vô hình đến hành vi xã hội của con người. Truyền thống biểu hiện tính kế thừa của lịch sử [30, tr.
Bách khoa từ điển Xô - Viết quan niệm, Truyền thống: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 15 Đó là những yếu tố của di tồn văn hóa, xã hội truyền từ đời này và được lưu giữ trong các xã hội, giai cấp và nhóm xã hội trong một quá trình lâu dài. Truyền thống được thể hiện trong chế định xã hội, chuẩn mực của hành vi, các giá trị, tư tưởng, phong tục tấp quán và lối sống…Truyền thống tác động khống chế đến mọi xã hội và tất cả mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội [30, tr. Giáo sư Trần Quốc Vượng chỉ rõ: Có thể hiểu "truyền thống" như là một hệ thống các tính cách, các thế ứng xử của một cộng đồng, được hình thành trong lịch sử, trong một môi trường sinh thái và nhân văn nhất định, trở nên ổn định, trường tồn, nhưng không vĩnh cửu, có thể định chế hóa bằng luật hay lệ (phong tục tập quán) và được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác - Có thể gọi là di truyền văn hóa, bên cạnh sự di truyền sinh vật về thân xác - để bảo đảm tính đồng nhất của một cộng đồng [68, tr. Từ những quan niệm trên, cho thấy khái niệm truyền thống không đồng nhất với những gì diễn ra trong quá khứ.
Truyền thống là những yếu tố của di tồn văn hóa, xã hội từ đời này sang đời khác. Nó là sản phẩm của sự thống nhất giữa điều kiện khách quan và chủ quan, chịu sự chi phối của môi trường tự nhiên, điều kiện địa lý, hoàn cảnh lịch sử xã hội…và luôn mang các đặc trưng: Cộng đồng, ổn định và lưu truyền. Truyền thống mang tính chất ổn định, trường tồn và được chuyển trao (truyền) và nối tiếp (thống) từ thế hệ này sang thế hệ khác.