phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn được cấu trúc gồm 03 chương, cụ thể: Chương 1. Cơ sở lý luận về dạy học tiếng Anh lớp 5 tại trường tiểu học theo thuyết Đa trí thông minh Chương 2. Thực trạng dạy học tiếng Anh lớp 5 theo thuyết Đa trí thông minh tại Trường Tiểu học Anh Việt Mỹ, quận 4, TP. Hồ Chí Minh hiện nay 5 Luan van Chương 3.
Phương pháp dạy học tiếng Anh lớp 5 theo thuyết Đa trí thông minh tại Trường Tiểu học Anh Việt Mỹ, quận 4, TP. Hồ Chí Minh 6 Luan van CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DẠY HỌC TIẾNG ANH LỚP 5 TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC THEO THUYẾT ĐA TRÍ THÔNG MINH 1. Vài nét về đề tài nghiên cứu 1. Nghiên cứu ở nước ngoài Nhà tâm lý học người Mỹ Howard Gardner trên cơ sở tận dụng các tiến độ trong y học, dựa trên các phân tích về khả năng hệ thần kinh của con người, đã công bố tác phẩm “Frames of Mind – The Theory of Multiple Intelligences” năm 1983.
Và ông cũng xác định rằng con người tồn tại bảy dạng trí thông minh riêng biệt: Trí thông minh ngôn ngữ, Trí thông minh logic/toán, Trí thông minh không gian, Trí thông minh hình thể - động năng, Trí thông minh âm nhạc, Trí thông minh giao tiếp, Trí thông minh nội tâm. Kể từ khi công bố, thuyết Đa trí thông minh đã thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học thuộc ngành Tâm lý học, Giáo dục học, tiêu biểu như: Thomas Armstrong (2000), Linda Campbell, Bruce Campbell & Dee Dickinson (1992), Thomas R. Hoerr (2000), Mark Wahl (1997)… Các nhà nghiên cứu đã tập trung tìm ra những cách thức, con đường để đưa các phương pháp ứng dụng thuyết Đa trí thông minh vào DH trong các nhà trường để nâng cao chất lượng DH, đồng thời, có những chỉ dẫn cụ thể giúp cho các bậc phụ huynh HS biết cách phát huy hết tiềm năng trí thông minh tiềm ẩn trong bản thân mỗi HS. Thomas Armstrong đã tập trung nghiên cứu về thuyết Đa trí thông minh dựa trên nền tảng thuyết “Đa trí thông minh” (1983) của Howard Gardner, những nỗ lực nghiên cứu của ông đã giúp cho thuyết Đa trí thông minh tỏa sáng trong giáo dục.
Đặc biệt, với những công sức nghiên cứu về thuyết Đa trí thông minh, ông đã viết một số cuốn sách rất nổi tiếng xung quanh về trí thông minh con người, như: “7 loại hình thông minh” (Thomas Armstrong, 2011), “Bạn thông minh hơn bạn nghĩ” 7 Luan van (Thomas Armstrong, 2011) … Trong các cuốn sách tác giả chủ yếu nghiên cứu và chỉ ra về cách nhận biết các dạng trí thông minh nổi trội của HS để giúp các nhà quản lý giáo dục, GV và phụ huynh HS đưa ra các phương pháp giáo dục phù hợp với các dạng trí thông minh nổi trội đó. Bước ngoặt trong nghiên cứu về thuyết Đa trí thông minh của Thomas Armstrong là vào năm 2000 ông đã công bố công trình “Đa trí thông minh trong lớp học”. Cuốn sách đi sâu nghiên cứu chương trình, môi trường học, chiến lược học, cách quản lý, đánh giá và thiết kế kế hoạch DH Đa trí thông minh. Đây thực sự là một gợi ý quan trọng để thực hiện DH theo thuyết Đa trí thông minh chung cho tất cả các môn học, các cấp học.
Tác giả đã có hướng dẫn tương đối cụ thể về tám cách DH Đa trí thông minh, như: (1) Trí thông minh ngôn ngữ, gồm có hoạt động dạy, thuyết trình, thảo luận, chơi chữ, đọc đồng thanh, viết nhật kí; tài liệu dạy, sách băng đĩa, dụng cụ để viết, giấy, sổ nhật kí; kỹ thuật dạy, đọc một tài liệu sau đó thực hiện viết, nói, trao đổi, thảo luận; (2) Trí thông minh logic/toán, gồm: Hoạt động dạy, các trò chơi đấu trí, các bài toán giải quyết vấn đề, các trò chơi với con số, tính nhầm, tư duy phê phán; tài liệu dạy, máy tính, các bài tập toán, các thiết bị khoa học, thiết bị toán; kỹ thuật dạy, DH theo logic/toán, phân tích, so sánh, tổng hợp…; (3) Trí thông minh không gian gồm có: Hoạt động dạy, trưng bày mẫu nhìn, hoạt động nghệ thuật, trò chơi cần trí tưởng tượng, vẽ trang trí, tìm ẩn dụ, tạo ảnh trong đầu; tài liệu dạy, biểu đồ, đồ họa, trò chơi xếp hình, máy ảnh, máy quay phim, các trưng bày hội họa; kỹ thuật dạy, quan sát mô hình, bảng biểu… Cùng với đó, tác giả còn gợi ý các soạn giáo án DH theo thuyết Đa trí thông minh gồm có 7 mục. Theo Thomas Armstrong, khi điều khiển các hoạt động học tập, GV phải liên tục thay đổi cách dạy, khi sử dụng ngôn ngữ để thuyết trình (trí thông minh ngôn ngữ), khi sử dụng mô hình, vật thật, chiếu video, clip để minh họa cho bài học (trí thông minh không gian), dừng một khoảng thời gian nhất định để HS suy nghĩ (trí thông minh nội tâm), đặt câu hỏi cho HS suy nghĩ thảo luận (trí thông minh giao tiếp)… khuyến khích HS vận dụng kiến thức vào thực tế, HS được học trong môi trường tự nhiên, xem vật thật, tham quan dã ngoại (trí thông minh tự nhiên học). (Thomas Armstrong, 2011) 8 Luan van Linda Campbell, Bruce Campbell & Dee Dickinson cũng đã có những nghiên cứu tương đối kỹ về “Dạy và học tập theo thuyết Đa trí thông minh”. Trong công trình nghiên cứu của mình, các tác giả đã tập trung nghiên cứu chỉ ra phương pháp giáo dục truyền thống chỉ tập trung vào trí thông minh ngôn ngữ và trí thông minh logic/toán, còn lại sáu dạng trí thông minh phi truyền thống lại bị xem nhẹ, chưa tập trung khai thác.
Nếu quá trình DH vận dụng theo thuyết Đa trí thông minh thì sẽ làm tăng khả năng thành công của HS; đồng thời, tạo ra một môi trường giáo dục lành mạnh, cởi mở và sáng tạo hơn, giúp HS có nhiều cơ hội phát triển tài năng và thỏa sức sáng tạo. Theo các tác giả, để DH theo thuyết Đa trí thông minh, GV cần dựa vào các dạng trí thông minh nổi trội thực tế của HS được thể hiện trong lớp học, trên cơ sở đó tiến hành chia ra thành các nhóm tương ứng. Trong các nhóm có các chương trình học tập, như: chương trình giảng dạy theo chủ đề và từng nhóm được cung cấp tám cách khác nhau để học các môn học. Khi làm việc tại các nhóm, HS qua lại giữa các nhóm từ 15 đến 20 phút ở mỗi nhóm và từng cá nhân HS chia sẻ công việc của họ trong các nhóm.
Hoerr (2000) cũng tập trung nghiên cứu về thuyết Đa trí thông minh, tác giả cho rằng: Thuyết Đa trí thông minh dạy chúng ta rằng tất cả mọi HS đều thông minh, nhưng chúng thông minh theo những cách khác nhau. Từ quan điểm và cách tiếp cận đó, tác giả và các GV bắt đầu tìm kiếm các dạng trí thông minh nổi trội ở mỗi cá nhân và tạo điều kiện để mọi HS đều có cơ hội phát triển các dạng trí thông minh nổi trội đó. Tác giả khẳng định rằng, theo thuyết Đa trí thông minh, HS có nhiều con đường để đạt được thành công trong học tập. Trong quá trình nghiên cứu về thuyết Đa trí thông minh, tác giả đã đặt ra được các vấn đề trong DH làm thế nào để giúp HS biết phát huy được các dạng trí thông minh nổi trội.
Nếu HS có trí thông minh ngôn ngữ nổi trội, làm thế nào để HS lợi dụng mặt mạnh này để học được môn toán hoặc các môn xã hội; nếu HS có trí thông minh logic toán thì lợi dụng những mặt mạnh ấy để học tốt môn toán và các môn khoa học tự nhiên; nếu HS có trí thông minh không gian nổi trội, GV giúp HS lợi dụng 9 Luan van thế mạnh này để học môn toán và môn địa lý và chia sẻ với HS khác về cách vẽ tác phẩm nghệ thuật; nếu HS có trí thông minh giao tiếp nổi trội, GV tổ chức các hoạt động học tập mà HS có nhiều cơ hội được tương tác với nhau; nếu HS có trí thông minh nội tâm, GV cần giúp HS tự đề xuất, kế hoạch, mục tiêu học tập cho mình… (Thomas R. Như vậy, trên thế giới nghiên cứu về vận dụng thuyết Đa trí thông minh và DH nói chung và DH tiếng Anh cấp tiểu học nói riêng đã thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học giáo dục. Những kết quả nghiên cứu đó có thể tiếp cận, khai thác và luận giải dưới nhiều góc độ, khía cạnh và phạm vi khác nhau, song đều là nền tảng quan trọng để tác giả kế thừa có chọn lọc trong thực hiện đề tài của mình. Nghiên cứu ở trong nước Ở Việt Nam, nghiên cứu về việc vận dụng thuyết Đa trí thông minh vào trong DH ở các cấp học đã được quan tâm nghiên cứu, thông qua các bài viết, luận văn, nhất là trong một số luận án cũng đã tập trung nghiên cứu làm rõ những vấn đề cơ bản về vận dụng thuyết Đa trí thông minh vào DH các môn học, trong đó có môn tiếng Anh.
Có thể phân tích một vài công trình có liên quan tới DH theo hướng vận dụng thuyết Đa trí thông minh dưới đây: Trần Đình Châu-Đặng Thị Thuy Thủy (2013), Vận dụng thuyết Đa trí thông minh trong DH phổ thông. Tác giả đã tập trung làm rõ được một số vấn đề lý luận về thuyết Đa trí thông minh, khái quát 8 loại trí thông minh nổi trội; làm rõ những đặc điểm trong DH ở bậc phổ thông như yêu cầu kiến thức, kỹ năng, đặc điểm đối tượng, đặc điểm môn học… từ đó chỉ ra hướng vận dụng thuyết Đa trí thông minh vào trong DH phổ thông. Đặc biệt, tác giả còn chỉ ra được cách thức, trình tự vận dụng thuyết Đa trí thông minh vào DH phổ thông một cách tương đối cụ thể, tương đối khả thi. Mặc dù, không đề cập tới DH tiếng Anh theo thuyết Đa trí thông minh, song những nội dung tác giả đề cập, phân tích, khơi gợi mang lại những giá trị quan trọng giúp tác giả kế thừa, phát triển để thực hiện đề tài của mình.
(Trần Đình Châu- Đặng Thị Thuy Thủy, 2013) 10 Luan van Phan Văn Nhân (2013), DH theo thuyết Đa trí thông minh.Tác giả đã tập trung phân tích tương đối kỹ về thuyết Đa trí thông minh với 8 trí thông minh nổi trội mà GV cần biết để phát huy trong mỗi HS. Với xu hướng đổi mới quá trình DH, tập trung vào phát huy tính tích cực, tự giác và khả năng của người học, việc DH theo thuyết Đa trí thông minh sẽ giúp cho GV và HS phát huy cao độ vai trò của mình cùng nâng cao chất lượng đào tạo.