CHƯƠNG 1 QUAN ĐIỂM HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC 1.1 NGUỒN GỐC HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC 1.1 Kế thừa giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Tư tưởng Hồ Chí Minh có cội nguồn từ những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Dân tộc Việt Nam trải qua hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước đã tạo lập cho mình một nền văn hóa, đạo đức riêng, phong phú và bền vững với những giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp và cao quý. Trong quá trình sinh tồn và phát triển, dân tộc ta đã trải qua bao thử thách hiểm nghèo của nạn ngoại xâm. Tuy vậy, dân tộc Việt Nam vẫn tồn tại và phát triển, vẫn giữ được bản sắc riêng của mình, vẫn tạo lập nên những thời kỳ phát triển rực rỡ.
Thực tế đó đã chứng tỏ sức sống bền bỉ của dân tộc và thể hiện tính ưu việt của những giá trị văn hóa truyền thống mà trước hết là các giá trị, chuẩn mực về lòng yêu nước của con người Việt Nam. Chúng ta biết rằng, dân tộc Việt Nam vốn có truyền thống văn hiến lâu đời với một kho di sản văn hoá vô cùng phong phú, đa dạng và bền vững từ phương diện tư duy, tâm lý, lối sống đến phong tục tập quán, .trong đó, nổi lên những giá trị tiêu biểu cho bản sắc dân tộc như truyền thống đoàn kết, lao động cần cù, sáng tạo, hiếu học, trọng nghĩa khí, tinh thần nhân ái khoan dung, lối sống thanh cao giản dị, lòng yêu nước. Trước hết, đó là chủ nghĩa yêu nước và ý chí bất khuất đấu tranh để dựng nước và giữ nước. Đây là một trong những tài sản có giá trị nhất trong hành trang của Hồ Chí Minh lúc ra đi tìm đường cứu nước năm 1911.
Nó là cơ sở xuất phát, là động lực, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người. Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam đã có quá trình lịch sử hàng Luan van 8 ngàn năm với nội dung phong phú và sâu sắc như: yêu nước gắn liền với yêu quê hương, yêu con người Việt Nam, yêu truyền thống văn hóa quý giá. Hồ Chí Minh đã làm phong phú nội dung của chủ nghĩa yêu nước. Yêu nước đối với Người là gắn liền với yêu nhân dân.
Trên cơ sở tư tưởng của giai cấp công nhân, Người đã nêu ra nội dung mới: Yêu Tổ quốc, yêu nhân dân gắn liền với yêu chủ nghĩa xã hội, vì chỉ có chủ nghĩa xã hội thì nhân dân mới ngày một ấm no, hạnh phúc, Tổ quốc mới ngày một giàu mạnh. Trong các giá trị truyền thống Việt Nam, tinh thần nhân nghĩa, truyền thống đoàn kết, tương thân, tương ái là những nét hết sức đặc sắc. Truyền thống này hình thành một lúc với sự hình thành dân tộc, từ hoàn cảnh và nhu cầu đấu tranh quyết liệt với thiên nhiên và giặc ngoại xâm. Người Việt Nam gắn bó với nhau trong tình làng, nghĩa xóm.
Hồ Chí Minh đã kế thừa, phát huy sức mạnh bốn chữ “đồng” (đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh). Người thường nhấn mạnh, nhân dân ta đã từ lâu sống với nhau có tình có nghĩa. Tình nghĩa ấy được Người nâng lên cao đẹp hơn, trở thành tình nghĩa đồng bào, đồng chí, tình nghĩa năm châu bốn biển một nhà. Và ngay cả khi tiếp thu lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, Người cũng đứng trên nền tảng của những giá trị truyền thống dân tộc.
Người nhấn mạnh: Hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin là phải sống với nhau có tình, có nghĩa. Nếu thuộc bao nhiêu kinh sách mà sống không có tình nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin được. Tư tưởng đại nhân, đại nghĩa ở Hồ Chí Minh là phấn đấu vì sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội, vì tự do và hạnh phúc của con người, tạo mọi điều kiện cho con người phát triển. Trong văn hóa đạo đức Việt Nam, chữ “Nghĩa” có ý nghĩa là lẽ phải, ngay thẳng.
Nguyễn Trãi đã từng nói: Phàm mưu việc lớn phải lấy nhân nghĩa làm gốc, nên “công to phải lấy nhân nghĩa làm đầu”, Hồ Chí Minh lấy chữ nghĩa để Luan van 9 phân rõ bạn thù. Ai làm điều gì có lợi cho nhân dân, cho Tổ quốc đều là bạn. Bất kỳ ai làm điều gì có hại cho nhân dân và Tổ quốc đều là kẻ thù. Trong những giá trị truyền thống cao đẹp của dân tộc, Hồ Chí Minh đã kế thừa tinh thần cộng đồng, một lối sống thành thực, thân ái, những thuần phong mỹ tục, trở thành những yếu tố đậm nét trong tư tưởng Hồ Chí Minh Ngay từ năm 1947, trong khi cuộc chiến chống thực dân Pháp đang diễn ra quyết liệt, người đã nói đến đời sống mới của một người, một nhà, một làng và khắp cả nước.
Người nhắc đến tục ngữ “lá lành đùm lá rách”, “đói cho sạch rách cho thơm”. Và, nếu một mình no ấm mà nỡ để đồng bào xung quanh đói rét…, thì dù giàu cũng không hưởng được. Người nói: Cách cư xử đối với đồng bào thì nên thành thực, thân ái, sẵn lòng giúp đỡ lẫn nhau. Nhiều lần, Người nhấn mạnh đến việc xây dựng và phát triển thuần phong mỹ tục, tức là phát triển một trong những giá trị truyền thống dân tộc.
Mặt khác, khi trân trọng giữ gìn thuần phong mỹ tục, Hồ Chí Minh luôn gắn với việc phê phán, bài trừ đồi phong, bại tục. Người đã nói đến việc “khôi phục vốn cũ” với một tinh thần trân trọng các giá trị của người xưa để lại như: tương thân tương ái, tận trung với nước, tận hiếu với dân…Song, Người yêu cầu xóa bỏ cái xấu (tính lười biếng, tham lam…), sửa đổi các phiền phức (cúng bái, cưới hỏi quá xa xỉ…). Ngoài ra, truyền thống lạc quan yêu đời của người Việt đã trở thành sơ sở và niềm tin để Người tin vào sức mạnh của bản thân mình, tin vào sự tất thắng của chân lý, chính nghĩa. Hồ Chí Minh chính là hiện thân của truyền thống lạc quan đó.
Thêm nữa, dân tộc Việt Nam là một dân tộc cần cù, dũng cảm, thông minh, sáng tạo trong sản xuất và chiến đấu nên cũng là một dân tộc ham học hỏi và không ngừng sáng tạo. Hồ Chí Minh là hình ảnh sinh động và trọn vẹn cho truyền thống đó. Luan van 10 Những giá trị truyền thống của dân tộc được hình thành qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước là cơ sở quan trọng để hình thành nên tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức. Hồ Chí Minh là người đã đặt nền móng cho sự nghiệp xây dựng nền đạo đức mới ở Việt Nam.2 Tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại Tinh hoa văn hoá Phương Đông Văn hóa Phương Đông nổi bật lên hai trung tâm văn hóa lớn là Trung Quốc và Ấn Độ.
Hồ Chí Minh là người có vốn hiểu biết rất uyên thâm về văn hoá phương Đông. Với tư duy và tầm nhìn xa rộng của mình, Người đã nhận thấy những mặt hạn chế, tiêu cực trong các học thuyết triết học hoặc trong tư tưởng của Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo, trong chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn. Đồng thời, Người cũng đã biết chắt lọc lấy những gì tinh túy nhất trong các luồng tư tưởng trên. Nho giáo là một học thuyết chính trị, đạo đức có ảnh hưởng rất lớn trong lịch sử văn hóa Phương Đông.
Bên cạnh những yếu tố hạn chế như: tư tưởng phân biệt đẳng cấp, tư tưởng coi thường phụ nữ, coi thường lao động chân tay.thì Nho giáo cũng chứa đựng nhiều yếu tố tích cực, đó là: Nho giáo chủ trương nhập thế hay Nho giáo cũng đưa ra lý tưởng về một xã hội bình trị, tức là ước vọng về một xã hội an ninh, hòa mục, một “thế giới đại đồng” có vua sáng tôi hiền, cha từ, con thảo; là triết lý nhân sinh tu thân dưỡng tính, chủ trương từ thiên tử đến thứ dân, ai cũng phải lấy tu thân làm trọng; tư tưởng đề cao văn hóa, lễ nghĩa truyền thống, coi trọng việc học hành. Hồ Chí Minh đã lựa chọn những yếu tố tích cực của Nho giáo đưa vào đó nội dung và ý nghĩa cho phù hợp với cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới. Nho giáo đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức. Nho giáo đã từng ảnh hưởng đến Nguyễn Ái Quốc ngay từ thời niên thiếu qua giáo dục của gia đình và nhà trường thời bấy giờ.
Vì thế, không khó để nhận ra Luan van 11 những ảnh hưởng của giáo lí này đến việc hình thành nên tư tưởng của Người. Ảnh hưởng của Nho giáo đối với Hồ Chí Minh thể hiện rõ nhất trong nhiều bài viết của Người tính từ năm 1921 đến sau này Trong xây dựng nhà nước, Hồ Chí Minh luôn nghĩ, xây dựng đất nước "thực túc, binh cường, dân tín" (Khổng Tử) tức là lương thảo nhiều, binh mạnh và lòng dân. Hoặc "dân vi bang bản" - lấy dân là gốc nước. Hay tư tưởng quan hệ giữa triều đình với dân như "thuyền với nước" (nước có thể chở thuyền nhưng cũng có thể lật thuyền) của Tuân Tử.
Đó là cội nguồn của tư tưởng xây dựng nhà nước của dân, do dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Người cầm quân phải thực hiện dưỡng dân, giáo dân: tức là nuôi dưỡng nhân dân như có chính sách hợp lòng dân (chính sách ruộng đất, chính sách thuế, xóa đói giảm nghèo. Hồ Chí Minh nói "không sợ thiếu chỉ sợ không công bằng, không sợ nghèo chỉ sợ lòng dân không yên". Giáo dân tức là nâng cao dân trí, cải cách giáo dục, người cán bộ phải làm gương cho dân, phải dùng đức trị trong tư tưởng "tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ" của Nho giáo.
Hồ Chí Minh cũng sử dụng phạm trù đạo đức của Nho giáo, loại bỏ những yếu tố không còn phù hợp và bổ sung những yếu tố tích cực cho phù hợp với thời đại mới. Chẳng hạn như tư tưởng "Trung - hiếu", Nho giáo cho rằng trung với vua và hiếu với cha mẹ. Hồ Chí Minh bổ sung là "Trung với nước, hiếu với dân" để giáo dục cán bộ. Có thể nói, Hồ Chí Minh đã khai thác Nho giáo, lựa chọn những yếu tố tích cực, phù hợp để phục vụ cho nhiệm vụ cách mạng.
Người dẫn lời của Lênin: “Chỉ có những người cách mạng chân chính mới thu hái được những điều hiểu biết quý báu của các đời trước để lại” Một lần nữa, ta thấy được rằng Hồ Chí Minh luôn biết cách tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại, cụ thể ở đây là những tư tưởng tích cực trong Nho giáo.