CHƯƠNG 1 NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG THUYẾT CHÍNH DANH CỦA NHO GIÁO 1. CƠ SỞ HÌNH THÀNH THUYẾT CHÍNH DANH 1. Hoàn cảnh lịch sử - xã hội Xã hội và quốc gia chiếm hữu nô lệ ở Trung Quốc cổ đại đƣợc hình thành vào khoảng thiên niên kỷ thứ II trƣớc công nguyên. Lịch sử xã hội chiếm hữu nô lệ Trung Quốc cổ đại là lịch sử đấu tranh tàn khốc giữa chủ nô và nô lệ, giữa tầng lớp thƣợng lƣu của xã hội chiếm hữu nô lệ với những ngƣời nông dân bị phá sản, bị nô dịch và phụ thuộc.
Giữa tầng lớp quý tộc gia truyền bị bần cùng hóa với những thƣơng nhân và trọc phú tiếm quyền. Những xung đột giai cấp trong quốc gia chiếm hữu nô lệ Trung Quốc trở nên sâu sắc. Cuộc đấu tranh ấy để lại những dấu ấn rất nặng nề. Nó tạo tiền đề chính trị - xã hội cho cuộc đấu tranh của các trƣờng phái chính trị, bộ máy cai trị khác nhau rất đa dạng và phong phú.
Thời Xuân Thu - Chiến Quốc, Trung Quốc loạn bởi sự xâu xé lẫn nhau, tranh bá quyền với nhau, tới mức Khổng Tử than rằng “quân bất quân, thần bất thần, phụ bất phụ, tử bất tử” - nghĩa là vua không ra vua, tôi không ra tôi, cha không ra cha, con không ra con. Trung Quốc bị chia thành hàng trăm tiểu quốc, rồi những nƣớc nhỏ có tƣơng đồng với nhau trong hoàn cảnh nào đó liên minh với nhau chống lại liên minh khác, cuối cùng dẫn đến phong trào ngũ bá (Tề, Tấn, Tần, Tống, Sở). Câu hỏi lớn của lịch sử Trung Quốc thời kỳ này là làm thế nào để ổn định xã hội? Trả lời câu hỏi ấy là phong trào "bách gia tranh minh, bách hoa tề phóng" (Trăm nhà đua tiếng, trăm hoa đua nở). Để trả lời cho câu hỏi đó, trong lịch sử xã hội Trung Hoa đã xuất hiện nhiều nhà tƣ tƣởng, trƣờng phái, trào lƣu, tiêu biểu trong số đó là Đạo Gia, Nho gia, Luan van 10 Mặc Gia, Pháp gia.
Trong đó, thuyết Chính danh của Nho gia đƣợc xem là một trong những thuyết có ý nghĩa rất quan trọng. Thân thế - sự nghiệp của Khổng Tử (551 - 479 TrCN) Khổng Tử sinh ra ở ấp Trâu, quận Xƣơng Bình, nƣớc Lỗ (nay thuộc miền Sơn Đông - phía Bắc Trung Quốc). Ông là ngƣời dòng dõi nƣớc Tống nhƣng do chiến tranh mà lƣu lạc song nƣớc Lỗ, tên là Khâu, tên chữ là Trọng Ni. Ngoài 50 tuổi ông mới đƣợc vua Lỗ Định Công phong chức Trung Đô Tể, 4 năm sau đƣợc phong chức Tƣ Không, rồi Đại Tƣ Khấu trông coi pháp luật.
Suốt thời gian làm quan ông chăm lo chính sự cho nƣớc Lỗ ổn định. Nƣớc Tề lập kế để vua Lỗ mãi vui chơi, quên việc triều đình. Ông can gián nhƣng vua Lỗ không nghe, bèn cùng học trò bỏ vua Lỗ mà đi. Khổng Tử nhiều lần đi sang các nƣớc chƣ hầu mong muốn áp dụng học thuyết của mình vào việc trị nƣớc, nhƣng không đƣợc dùng, bản thân ông cũng không đƣợc trọng dụng.
Sau 14 năm du thuyết không thành, quay về nƣớc Lỗ khi ông đã 68 tuổi. Ông viết sách và mở trƣờng tƣ dạy học, học trò theo học rất đông. Ông đã để lại cho hậu thế một khối lƣợng tác phẩm đồ sộ, tiêu biểu nhƣ: Luận ngữ, Đại học, Trung dung, Xuân thu… Nội dung học thuyết của Khổng Tử chủ yếu đề cập đến những vấn đề chính trị - xã hội. Vì vậy, nó là học thuyết chính trị.
Tuy nhiên, dƣới góc độ tiếp cận và hƣớng giải quyết những vấn đề chính trị - xã hội, tƣ tƣởng của Khổng Tử lại là tƣ tƣởng về con ngƣời, về đạo đức. Hay nói cách khác, học thuyết của Khổng Tử về cơ bản là học thuyết chính trị - đạo đức. Tƣ tƣởng chính trị của Khổng Tử đƣợc thể hiện tập trung nhất trong quan niệm của ông về nhân, lễ, nghĩa, chính danh và mối quan hệ giữa chúng. Trong phạm vi luận văn này, tác giả chỉ xin đề cập đến học thuyết “chính danh” của Nho giáo.
Tuy nhiên,“chính danh” không phải là học thuyết độc Luan van 11 lập mà nó nằm trong chỉnh thể đức trị (nhân - lễ - chính danh). Có nhân và lễ thì mới có chính danh. Và khi có "chính danh" thì chi phối cái nhân, lễ. Con ngƣời không có nhân và lễ thì không có chính danh.
Vì vậy, trong quá trình phân tích học thuyết "chính danh" chúng ta không thể không đề cập đến "nhân" và "lễ". Sinh thời Khổng Tử thƣờng nói với học trò rằng “Ngộ thuật nhi bất tác, tín nhi hiếu cổ” nghĩa là: Ta chỉ thuật lại mà không trƣớc tác, tin vào đạo lý đời xƣa. Các nhà nghiên cứu về Nho giáo và Khổng tử ngày nay đều cho rằng, trong các tác phẩm nhƣ Kinh Thi, Kinh Dịch, Kinh Xuân Thu, Luận Ngữ… thì chỉ có quyển Luận Ngữ đƣợc xem là đáng tin cậy nhất vì những lời phát biểu của Khổng tử khi sinh thời, phần lớn là đàm thoại với học trò của ông. Trong thời đại của mình, Khổng Tử nhận thấy tình trạng rối ren, phức tạp của xã hội phong kiến thời Chu.
Khổng tử lấy làm tiếc cái thời đầu nhà Chu nhƣ Chu Võ Vƣơng, Chu Công… sao mà thời đại tƣơi đẹp, phong hóa tốt tƣơi đến thế! Ông nhìn thấy tình cảnh “tôi thí vua, con giết cha không phải nguyên nhân của một sáng một chiều”. Mọi sự việc, nguyên nhân đều có cái cớ của nó. Mà cái cớ này không tự dƣng mà có mà nó đƣợc tích tập dần dần qua thời gian mà đến một thời điểm nào đó, chúng ta tạm gọi đó là điểm nút thì sẽ xảy ra kịch tính nhƣ trên. Kinh Dịch có câu “Đi trên sƣơng mà băng giá tới” (Lý sƣơng kiên băng chí) là thuận với lẽ diễn tiến tự nhiên của mọi sự vậy.Từ đó ông đƣa ra học thuyết chính danh, nhằm để đƣa xã hội về tôn ti trật tự.
NỘI DUNG QUAN ĐIỂM CỞ BẢN CỦA NHO GIÁO VỀ CHÍNH DANH 1. Khái niệm về Chính danh "Danh" là tên gọi, là danh vị, nghĩa là cƣơng vị, quyền hạn."Chính danh" là sự quy định rõ cƣơng vị và quyền hạn. Khi bàn về chính danh, Khổng Tử Luan van 12 giải thích nhƣ sau: Chính danh là làm cho mọi việc ngay thẳng. Chính danh thì ngƣời nào có địa vị, bổn phận chính đáng của ngƣời ấy, trên - dƣới, vua - tôi, cha - con, chồng - vợ,… trật tự phân minh, vua lấy nghĩa mà khiến tôi, tôi lấy trung mà thờ vua.
Cụ thể là vua cho ra vua, tôi cho ra tôi, chồng cho ra chồng, vợ cho ra vợ, con cho ra con,… Nói một cách khái quát là ai ở vị trí nào cũng phải làm tròn trách nhiệm, bổn phận của mình ở các cƣơng vị đó theo thang bậc. Nhƣ vậy, theo Khổng Tử chính danh là điểm mấu chốt để đƣa xã hội trở nên trật tự, nền nếp. Nhƣng để có chính danh, mỗi ngƣời phải thực hiện đúng danh phận của mình không lạm quyền. Một xã hội có chính danh là một xã hội có trật tự kỷ cƣơng, thái bình, thịnh trị.
Do đâu mà Khổng tử đề ra học thuyết chính danh? Khổng tử thấy tình trạng xã hội thời ngài hỗn loạn đến nỗi “tôi giết vua, con giết cha” là tệ hại lắm rồi, nhƣng ông là ngƣời không thích bạo lực, không thích làm cuộc thay đổi triệt để, để triệt tiêu cái tệ trên bằng bạo lực cho nên ông mới đề ra học thuyết chính danh nhằm để cải tạo xã hội, giáo hóa xã hội dần dần. Bản tính ông thích ôn hòa, thích giáo huấn dần dần hơn là bạo lực, mà bạo lực chƣa chắc gì đã giải quyết triệt để cái tệ “tôi giết vua, con giết cha” nói trên mà chẳng qua chỉ thay thế cuộc thí quân này bằng cuộc thí quân khác hoặc vụ giết cha này bằng vụ giết cha khác. Bạo lực bất quá chỉ giải quyết việc trƣớc mắt, tức thời, chỉ trị đƣợc ngọn chứ làm sao trị đƣợc gốc của tình hình trên, chỉ có cuộc cách mạng tƣ tƣởng mới giải quyết gốc của cái tệ tôi giết vua, con giết cha nhƣ nói ở trên. Cũng theo Hồ Thích “Khổng tử chủ trƣơng chính danh chính từ, một mặt muốn cổ vũ hành động con ngƣời một mặt muốn cấm dân làm bậy.” Muốn ổn định trật tự xã hội, Khổng Tử chủ trƣơng phải giáo hoá đạo đức và thực hiện chủ nghĩa “Chính danh, định phận”.
Danh và Phận của mỗi ngƣời trƣớc hết do xã hội quy định, Khổng Tử đã quy tất cả các quan hệ xã hội thành năm mối quan hệ cơ bản (Ngũ luân) nhƣ sau: Vua - Tôi (bề tôi phải Luan van 13 lấy chữ trung làm đầu); Cha - Con (bề con phải lấy chữ hiếu làm đầu); Chồng - Vợ (vợ phải lấy tiết hạnh làm đầu); Anh - Em (phải lấy chữ hữu làm đầu);Bạn - Bè (phải lấy chữ tín làm đầu). Năm mối quan hệ này có tiêu chuẩn riêng: Vua thì phải minh, Tôi thì phải trung, Cha phải hiền từ, Con phải hiếu thảo, Phu xƣớng phụ tuỳ… Trong năm quan hệ đó Khổng Tử nhấn mạnh ba quan hệ đầu là cơ bản nhất (Tam cƣơng) cụ thể là: Vua - Tôi (vua là trụ cột); Cha - Con (cha là trụ cột) Chồng - Vợ (chồng là trụ cột); hay Quân - Thần, Phụ - Tử, Phu - Thê. Nhƣ vậy, năm mối quan hệ đã nói rõ danh, phận, của từng ngƣời, vế sau phải phục tùng vế trƣớc, nếu mỗi ngƣời thực hiện đúng danh, phận đó sao cho vua ở hết phận vua, tôi ở hết phận tôi, cha ở hết phận cha, con ở hết phận con,… thì có chính danh. Vai trò của Chính danh Cuối thời Xuân Thu - Chiến Quốc, tình hình xã hội hết sức rối loạn.
Trƣớc mắt các nhà Nho là những vấn đề: Sự hỗn loạn về quan niệm đẳng cấp và danh phận; Các chƣ hầu xâm lấn và thôn tính lẫn nhau; Sự phát triển của những mâu thuẫn giai cấp; giữa nông dân với lãnh chúa phong kiến; địa vị của bọn chúa phong kiến bị lung lay; Quan hệ tông pháp rối loạn. Trƣớc tình hình đó, các nhà Nho chủ trƣơng lấy thuyết "Chính danh" làm vũ khí để củng cố trật tự nội bộ phong kiến, ổn định xã hội. Theo Khổng Tử, sự hỗn loạn của quan niệm danh phận, đẳng cấp, sự sa sút của thiên tử nhà Chu, sự suy yếu của các chƣ hầu địa phƣơng, sự "tiếm ngôi việt vị". Tất cả những tình trạng đó không chỉ phá hoại trật tự xã hội phong kiến mà còn là mối nguy cơ chính trị rất lớn thời bấy giờ.