Chương 1 tác giả đã tiến hành nghiên cứu và hệ thống hóa Mô hình quản lý theo kết quả theo hai luận điểm chính: Nội dung mô hình và sự vận dụng mô hình quản lý theo kết quả vào thẩm định dự án GTĐB. Mô hình Quản lý theo kết quả đầy đủ bao gồm các thành tố: đầu vào, hoạt động hay quá trình, các kết quả (đầu ra, kết quả đầu ra và tác động). Các thành tố này có sự liên kết logic với nhau biểu thị quan hệ nguyên nhân – kết quả. Thẩm định dự án GTĐB sẽ bao gồm các khía cạnh chính như sự phù hợp của dự án đối với mục tiêu phát triển tổng thể, kiểm tra tính hiệu quả trong sử dụng nguồn lực, tính khả thi trong việc đạt được các kết quả và tác động dự kiến, kế hoạch triển khai thực hiện hay xác định nguồn lực cần phải có cho hoạt động đầu tư.
Những nội dung này nhất quán với các cấp mục tiêu trong chuỗi kết quả và được thể hiện thông qua việc phân tích mối quan hệ logic giữa đầu vào, hoạt động, đầu ra, kết quả và tác động của dự án. OECD đã vận dụng quản lý theo kết quả vào đánh giá phát triển được thể hiện qua các tiêu chí bao gồm: Tính phù hợp: xem xét sự phù hợp của dự án với mục tiêu phát triển tổng thể. Tính hiệu quả: quan đến đến việc phân bổ và sử dụng nguồn lực một cách tiết kiệm thành kết quả. Tính hiệu suất đánh giá mức độ dự kiến hoặc khả năng đạt được các mục tiêu/kết quả trực tiếp hoặc kết quả dự định Tính bền vững xem xét các rủi ro (yếu tố tiềm ẩn nguy cơ và mối đe dọa với dự án) đối với việc tiếp tục duy trì các đầu ra và kết quả trực tiếp của dự án.
v CHƢƠNG 2: KINH NGHIỆM THẾ GIỚI TRONG THẨM ĐỊNH DỰ ÁN GIAO THÔNG ĐƢỜNG BỘ THEO KẾT QUẢ. Chương 2 tác giả đã tiến hành nghiên cứu kinh nghiệm của các tổ chức trên thế giới trong thẩm định dự án GTĐB theo kết quả từ đó rút ra những điều kiện áp dụng mô hình quản lý theo kết quả trong thẩm định dự án GTĐB. Cách tiếp cận của World Bank. Theo World Bank quy trình quản lý ĐTC bao gồm tám bước trong đó bốn bước đầu tiên liên quan đến quy trình thẩm định dự án dựa trên kết quả được tóm tắt như sau: (i) Định hướng đầu tư, xây dựng dự án, và sàng lọc bước đầu; (ii) Thẩm định chính thức;(iii) Đánh giá độc lập; (iv) Lựa chọn và lập ngân sách dự án Cách tiếp cận của ADB.
Các bước được thực hiện bao gồm: Xác định dự án; chuẩn bị dự án và thảm định dự án chính thức Nội dung thẩm định dự án GTĐB theo thông lệ quốc tế. Nội dung đánh giá lựa chọn dự án tuân thủ theo các tiêu chí đánh giá phát triển được ban hành bởi OECD bao gồm: Tính phù hợp: Xem xét chất lượng thiết kế dự án trước khi thực hiện, lập luận về sự cần thiết phải đầu tư, tính nhất quán KHPT của quốc gia, ngành và địa phương; tính thực tiễn và mức độ sẵn sàng của dự án. Tính hiệu quả: Tiêu chí này đánh giá hiệu quả của dự án dựa trên các tiêu chí: hiệu quả theo quy trình (tiến độ thực hiện); khả thi về mặt tài chính; tính vững chắc (khả thi) kinh tế; tính hiệu quả XH và các tiêu chí thành phần khác cụ thể theo từng tỉnh/ngành có thể được bổ sung thêm. Tính hiệu suất: Có hai tiêu chí được dùng để đánh giá tính hiệu suất đó là: (i) Chỉ tiêu cần đạt nhất quán với những gì đã được nêu trong khung kết quả; (ii) Các chỉ tiêu kỳ so sánh (kỳ gốc) tại thời điểm bắt đầu và chỉ tiêu cuối kỳ (kết thúc) về các đầu ra và kết quả.
Tính bền vững: Có ba tiêu chí thành phần được chọn để đánh giá tính bền vi vững trong đánh giá lựa chọn dự án, đó là: (i) xác định rủi ro; (ii) vốn cho VHBD; và (iii) kế hoạch phát triển năng lực. Phương pháp thẩm định dự án GTĐB theo thông lệ quốc tế. Áp dụng phương pháp CBA cho phân tích tài chính – kinh tế: thông qua các chỉ tiêu giá trị bao gồm: Giá trị hiện tại ròng (NPV); Tỷ suất sinh lợi nội bộ (IRR); Tỷ suất lợi ích chi phí (B/C) Áp dụng chấm điểm theo tiêu chí với các khía cạnh khác. Phương pháp chung và chủ yếu được sử dụng là phương đánh giá đa tiêu chí.
Có thể áp dụng thang điểm để chấm điểm và xếp hạng dự án. Phương pháp này phù hợp với với bối cảnh thiếu các số liệu đáng tin cậy để lượng hóa “lợi ích - chi phí” dự án. Biên độ xếp hạng kết quả đầu tư bao gồm: Tốt (A) với điểm tổng hợp trung bình trên (>) 80% số điểm điểm tối đa; Khá (B) với điểm tổng hợp trung bình từ trên (>) 60% đến (≤) 80% số điểm tối đa; Trung bình (C) với điểm tổng hợp trung bình từ (≥) 50% đến (≤) 60% số điểm tối đa và Kém (D) với tổng hợp trung bình dưới (≤) 50% số điểm tối đa Cán bộ thẩm định sẽ tiến hành chấm điểm dựa trên các luận chứng, luận cứ trong văn kiện dự án và sự giải trình của chủ đầu tư. Cuối cùng, các dự án sẽ được tổng hợp và tính số điểm trung bình để xếp hạng.
Thực tiễn cho thấy phương thức quản lý truyền thống mới chỉ chú trọng đến việc kiểm soát đầu vào hay chú trọng đến tiến độ thi công mà chưa đặt ra những yêu cầu về đầu ra dẫn tới nhiều dự án được lựa chọn không giải trình được những hiệu quả mà dự án đó mang lại dẫn tới đầu tư dàn trải kém hiệu quả. Phương thức quản lý theo kết quả sẽ khắc phục được những hạn chế đó bởi nó đặc biệt hữu ích trong việc đo lường kết quả đạt được. Đồng thời, việc áp dụng mô hình này cũng giúp cho công tác theo dõi, đánh giá dự án được tốt hơn, góp phần nâng cao trách nhiệm giải trình – điều mà phương thức quản lý cũ chưa làm triệt để. Điều kiện áp dụng quản lý theo kết quả trong thẩm định dự án giao thông đường bộ.
vii Điều kiện về bản thân thiết kế dự án: bản thân dự án phải được thiết kế định hướng theo kết quả. Điều kiện về kỹ thuật năng lực: Phương pháp thẩm định dự án được các quốc gia phát triển sử dụng là phương pháp đa tiêu chí. Công cụ TDDG tiếp nhận một trong các phương án (i) trước khi; (ii) sau khi; (iii) có và không có bước lập hồ sơ tác động của dự án Điều kiện về thể chế, tổ chức: Khuôn khổ thể chế được điều chỉnh theo cách quản lý dựa trên kết quả, đẩy mạnh phân cấp quản lý trao quyền chủ động nhiều hơn cho người điều hành dự án. Ban hành các tiêu chuẩn, tiêu chí làm cơ sở cho việc thẩm định dự án.
Điều kiện về nguồn lực: CSDL phục vụ cho công tác thẩm định dự án phải đầy đủ, kịp thời, chính xác và minh bạch. CHƢƠNG 3: SO SÁNH THỰC TIỄN THẨM ĐỊNH DỰ ÁN GIAO THÔNG ĐƢỜNG BỘ THEO THÔNG LỆ QUỐC TẾ VÀ THỰC TIỄN VIỆT NAM VỚI CÁC DỰ ÁN ĐIỂN HÌNH. Luận văn đã lựa chọn một số dự án GTĐB có thể tiếp cận được để phân tích, so sánh với phương pháp luận đã tổng quan. Cụ thể, tác giả sẽ lựa chọn và phân tích báo cáo nghiên cứu khả thi đã được phê duyệt của dự án đường cao tốc GMS Hà Nội – Lạng Sơn được tài trợ bởi nguồn vốn ODA và dự án mở rộng Quốc lộ 18 từ nút giao thông đường cao tốc Hạ Long – Vân Đồn đến đường Hoàng Quốc Việt được tài trợ bằng nguồn vốn NSNN để so sánh thực tiễn thẩm định dự án GTĐB theo thông lệ quốc tế và thực tiễn Việt Nam.
So sánh về quy trình thẩm định. a) Giống nhau Các dự án sử dụng nguồn vốn ODA và vốn NSNN đều được thẩm định về tính phù hợp của mục tiêu dự án với mục tiêu phát triển tổng thể của đất nước. Ở bước này, cán bộ thẩm định sẽ dựa trên những luận chứng về sự cần thiết phải đầu tư, mục tiêu được nêu trong báo cáo khả thi dự án để đánh giá. viii b) Khác nhau Các dự án thuộc nguồn vốn ODA sẽ được tiến hành chấm điểm dựa trên mức độ đạt được các tiêu chí song đối với dự án thuộc nguồn vốn NSNN sẽ chỉ dựa trên nhận định của cán bộ thẩm định và sự giải trình của chủ đầu tư.
Các dự án được tài trợ bằng nguồn vốn ODA trong quá trình thẩm định sẽ phải trải qua quá trình đánh giá từ các tổ chức bên ngoài giúp cung cấp những phản biện độc lập và khách quan từ các chuyên gia am hiểu sâu về lĩnh vực của dự án. So sánh về nội dung thẩm định. Về tính phù hợp: Dự án nguồn vốn ODA: tiêu chí này được đánh giá một cách đầy đủ về tính hợp lý trong luận chứng sự cần thiết phải đầu tư; khung kết quả được xây dựng rõ ràng; tính thực tiễn trong kế hoạch thực hiện; tiến hành tham vấn các bên liên quan và đối tượng thụ hường từ đó xây dựng được kế hoạch GPMB và tái định cư; tổng mức đầu tư được dự toán hợp lý và hiện thực đặc biệt dự án sử dụng hình thức hợp tác công tư (PPP). Dự án sử dụng nguồn vốn Ngân sách Nhà nước: khi được đánh giá theo tiêu chí này đã bộc lộ hạn chế đó là mới chỉ chú trọng chủ yếu vào việc tuân thủ pháp luật và các thủ tục hành chính liên quan.
Dự án không xây dựng khung kết quả dẫn đến không chỉ ra được sự gắn kết logic các cấp kết quả. Về tính hiệu quả: Dự án sử dụng nguồn vốn ODA: xác định khá tốt về lịch biểu, kế hoạch sử dụng vốn, luận chứng tốt về tính khả thi tài chính, kinh tế được khẳng định dựa trên các chỉ số tính toán khoa học. Dự án cũng đã có những đánh giá đầy đủ về hiệu quả xã hội và tác động môi trường. Đối với dự án được tài trợ bằng nguồn vốn NSNN: dự án đã xây dựng lịch biểu kế hoạch triển khai tốt; đã lượng hóa và ước tính chi phí và lợi ích kinh tế của dự án một cách hiện thực.
Dự án cũng tính toán đầy đủ các chỉ tiêu về tài chính, kinh tế. Tuy nhiên, hiệu quả XH của dự án chưa được xác định.