Chương 1: Cơ sở lý luận của QLHĐDH môn tin học theo mô hình định hƣớng nghề nghiệp ứng dụng (POHE) tại trƣờng CĐ ANND I Chương 2: Thực trạng QLHĐDH môn tin học theo định hƣớng nghề nghiệp ứng dụng tại trƣờng CĐ ANND I Chương 3: Đề xuất biện pháp QLHĐDH môn tin học theo mô hình POHE tại trƣờng CĐ ANND I Nội dung chi tiết các chƣơng cụ thể nhƣ sau: 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QLHĐDH MÔN TIN HỌC THEO MÔ HÌNH ĐỊNH HƢỚNG NGHỀ NGHIỆP ỨNG DỤNG (POHE) TẠI TRƢỜNG CĐ ANND I 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới “Giáo dục là một dạng hoạt động đặc biệt có nguồn gốc từ xã hội” [29, tr 15]. Trong quá trình phát triển xã hội, con ngƣời luôn nhận thức về thế giới xung quanh, tích lũy, học hỏi kinh nghiệm lao động và truyền đạt lại kiến thức của các lớp ngƣời đi trƣớc cho thế hệ sau.
Nhiều quan điểm về hoạt động dạy học đã đƣợc các nhà khoa học nghiên cứu trong chiều dài lịch sử nhƣ: Quan điểm của Khổng Tử (551-479 TCN) là học tập thông qua các gợi mở, học trò luyện tập thƣờng xuyên và tự giải đáp vấn đề; Các kỹ thuật đặt câu hỏi của Socrate (469-399 TCN) giúp học sinh nghiên cứu các ý tƣởng và xác định giá trị của chúng. Cùng với sự phát triển của xã hội, hoạt động dạy học cũng đƣợc QL trên bình diện thực tiễn ngay từ khi có tổ chức mới hình thành. Nhà sƣ phạm lỗi lạc John Dewey (Mỹ, 1859-1952) đặc biệt lƣu ý các trải nghiệm thực tiễn, phê phán mạnh mẽ lối giáo dục chỉ có mục tiêu cố định, những lạc hậu của phƣơng thức tƣ duy thầy đọc- trò chép, chứng minh môn khoa học là những trải nghiệm liên tục trong thực tế ứng dụng và hoạt động nghề nghiệp. Các nghiên cứu của L.
Xtôliarenkô tập trung vào việc sinh viên cần nắm vững kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp thông qua các thực hành ứng dụng trong nghề nghiệp. Nhà khoa học M. Savickas đặc biệt coi trọng “sự thích ứng nghề còn có giá trị hơn cả sự trƣởng thành về nghề nghiệp” [51, tr 54-62]. Bên cạnh đó, các kiến giải của Theodor Sander, Lisbeth Lundahh, Christian Ebner & Rita Nikolai, trung tâm Cedefop (European Centre for the Development of Vocational Training) nhấn mạnh lợi ích của hoạt động hợp tác đào tạo với cơ sở nghề nghiệp để nâng cao chất lƣợng đào tạo [49] [50] [48].
Qua những nghiên cứu có tính phổ quát của các tác giả ở nhiều nƣớc cho thấy QLHĐDH định hƣớng nghề nghiệp ứng dụng đƣợc các nhà khoa học rất quan 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Trên cơ sở đó, đã xuất hiện những cải tiến, nâng cao hiệu quả QLHĐDH định hƣớng nghề nghiệp ứng dụng nhƣ: Ở Trung Quốc, quan điểm “Ba trong một” là “Đào tạo-dịch vụ-sản xuất” đƣợc triển khai thành các chính sách, quy định, tổ chức thực hiện dựa trên mối quan hệ phối hợp giữa trƣờng dạy nghề và cơ sở sản xuất, đơn vị dịch vụ. Tại Thái Lan, từ năm 1999, Chính phủ đã triển khai “Hệ thống hợp tác đào tạo nghề” nhằm hƣớng tới phát triển nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu thực tế. Đƣợc ban hành từ năm 1951, Luật dạy nghề của Nhật Bản cũng thể hiện các cơ sở pháp lý quan trọng cho các chính sách, hoạt động đào tạo đáp ứng nhu cầu phát triển nghề nghiệp ứng dụng.
Là một trong những trung tâm giáo dục lớn nhất Hà Lan, trƣờng Saxion University of Applied Sciences (thành lập năm 1875) đã khẳng định đƣợc chất lƣợng giáo dục trong quá trình đào tạo ĐH định hƣớng nghề nghiệp ứng dụng (POHE) bởi nhiều tổ chức quốc tế và trong nƣớc. Triết lý cơ bản của trƣờng Saxion là đặt “ngƣời học làm trung tâm” của quá trình đào tạo để tăng cƣờng kiến thức, kỹ năng, năng lực cá nhân, phát triển nghề nghiệp tƣơng lai. Đại diện cho tính cởi mở với thị trƣờng lao động, trƣờng Vrije Universiteit Amsterdam (thành lập năm 1880) đã triển khai chƣơng trình POHE từ rất sớm. Nhà trƣờng rất khuyến khích mối quan hệ tích cực, chủ động, trách nhiệm của các đơn vị, cá nhân tham gia liên kết đào tạo, chuyển giao kiến thức, phát triển tƣ duy sáng tạo.
Ngoài ra, trƣờng ĐH Van Hall Larenstein University of Applied Science, công ty đào tạo & tƣ vấn toàn cầu MDF cũng liên kết chặt chẽ với thị trƣờng lao động và các tổ chức xã hội để tham gia hỗ trợ kỹ thuật, đào tạo định hƣớng nghề nghiệp, nghiên cứu ứng dụng, đổi mới trải nghiệm thực tế. Tại Việt Nam Ở trong nƣớc, hoạt động đào tạo ứng dụng nghề đƣợc bắt đầu manh nha ở một số cơ sở từ rất sớm nhƣ: Trƣờng Kỹ nghệ thực hành Hà Nội (thành lập năm 1898), trƣờng Cơ khí Á Châu Sài Gòn (thành lập năm 1989), trƣờng ĐH FPT (thành lập năm 2006). Vận dụng sáng tạo các tƣ tƣởng giáo dục tiên tiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng để lại nhiều tác phẩm trong đó nhấn mạnh vai trò, định hƣớng, nội dung giáo dục phải liên hệ với thực tiễn Việt Nam, học đi đôi với hành, lý luận phải gắn với thực tế, học tập phải kết hợp với lao động sản xuất [40]. Khẳng định tƣ 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tƣởng tiến bộ của ngƣời, thủ tƣớng Phạm Văn Đồng cũng phát động phong trào “Đào tạo thế hệ trẻ của dân tộc thành những ngƣời chiến sĩ Cách mạng dũng cảm, thông minh, sáng tạo” [22].
Từ sau khi thống nhất đất nƣớc (năm 1975), vấn đề QLHĐDH thu hút sự chú ý của nhiều nhà khoa học trong nƣớc. Các tác phẩm của Phạm Minh Hạc, Đặng Vũ Hoạt, Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Ngọc Quang, Hà Thế Ngữ. đã có những nghiên cứu sâu sắc về nâng cao chất lƣợng dạy học, làm rõ những ƣu điểm và nhƣợc điểm của các hình thức, tổ chức dạy học phổ biến. Bƣớc vào thời kỳ hội nhập, các thách thức đặt ra cho Việt Nam tăng lên khi hệ thống giáo dục ĐH “còn nặng lý thuyết, nhẹ thực hành”.
Nghị quyết 29/NQ-TW xác định “Hình thành hệ thống giáo dục nghề nghiệp với nhiều phƣơng thức và trình độ đào tạo kỹ năng nghề nghiệp theo hƣớng ứng dụng, thực hành, bảo đảm đáp ứng nhu cầu nhân lực kỹ thuật công nghệ”[1]. Thực hiện chƣơng trình đổi mới giáo dục, nhiều tác giả có công trình nghiên cứu về QLHĐDH nhƣ: “Biện pháp quản lý hoạt động thực hành ở trƣờng Cao đẳng Công nghiệp Việt Đức đáp ứng yêu cầu nghề nghiệp” của Nghiêm Trung Thực (Luận văn thạc sĩ năm 2013); “Quản lý đào tạo tại trƣờng Trung cấp nghề 18/Bộ Quốc phòng nhằm đáp ứng nhu cầu thị trƣờng lao động” của Ngô Lan Phƣơng (Luận văn thạc sĩ năm 2016). Cùng với đó, nhiều cuộc hội thảo về QL dạy học đã đƣợc tiến hành nhƣ: Hội thảo “Đào tạo theo nhu cầu xã hội” của Bộ Giáo dục & Đào tạo nhằm chia sẻ, phân tích những nhu cầu của thị trƣờng lao động đối với hoạt động QL dạy học (tại Hồ Chí Minh, năm 2007); Hội thảo “Quản lý dạy học chuyển từ tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực; Vấn đề và giải pháp” của Học viện QLGD, tham luận về các mặt của hoạt động giáo dục và những biện pháp đổi mới hoạt động dạy học theo xu hƣớng tiếp cận năng lực (tại Hà Nội, năm 2014). Bộ Giáo dục & Đào tạo cũng có hƣớng dẫn cơ chế đặc thù đào tạo các ngành thuộc lĩnh vực CNTT trình độ ĐH giai đoạn 2017-2020 để đáp ứng nhu cầu của thị trƣờng lao động và hội nhập quốc tế, trong đó có yêu cầu “Phối hợp chặt chẽ giữa các cơ sở giáo dục ĐH với doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực CNTT để chia sẻ kinh nghiệm, nguồn lực trong quá trình đào tạo” [10].
Đặc biệt, từ năm 2005, Dự án Giáo dục ĐH Việt Nam – Hà Lan (PROFED) 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com triển khai hơn 40 chƣơng trình đào tạo theo định hƣớng nghề nghiệp ứng dụng POHE tại 8 trƣờng ĐH và thu đƣợc kết quả rất khả quan về đào tạo sinh viên dựa vào ứng dụng kỹ năng trong hoạt động nghề nghiệp theo cách tiếp cận sinh viên là trung tâm của quá trình đào tạo [34]. Đối với chuyên ngành CNTT, chƣơng trình POHE kế thừa hầu hết những ƣu điểm của chƣơng trình đào tạo theo hƣớng học thuật đã có ở các trƣờng và phát triển các chƣơng trình đào tạo theo định hƣớng ứng dụng nghề nghiệp. Thông qua công tác khảo sát thị trƣờng việc làm, các đánh giá từ các chuyên gia, nhà QL, kỹ sƣ đã tốt nghiệp và các trƣờng ĐH khác để xây dựng chƣơng trình có khối lƣợng kiến thức nền tảng cơ bản và hƣớng học thuật đủ lớn đảm bảo sinh viên ứng dụng, tiếp cận đƣợc trong hoạt động nghề nghiệp sau này. Có thể thấy, những đặc điểm ƣu việt của đào tạo đáp ứng nhu cầu thực tế nghề nghiệp đã và đang đƣợc nghiên cứu, xây dựng, phát triển.
Nó đóng góp rất nhiều cho lý luận QLGD, làm nổi bật lên vấn đề phát triển theo định hƣớng ứng dụng cho HV trong hoạt động thực tiễn của nhà trƣờng ở Việt Nam. Cách tiếp cận nghề nghiệp ứng dụng là đổi mới căn bản xây dựng chƣơng trình, chú trọng không chỉ nội dung kiến thức, kỹ năng cơ bản, mà còn đặt ra yêu cầu vận dụng kiến thức, kỹ năng vào ứng dụng, thực hành, giải quyết các tình huống trong học tập và hoạt động nghề nghiệp. Hiện nay, vấn đề QLHĐDH môn tin học theo định hƣớng ứng dụng nghề nghiệp chƣa đƣợc nghiên cứu sâu sắc, có hệ thống và thiếu biện pháp phù hợp với điều kiện thực tế của HV trƣờng CĐ ANND I. Vì vậy, tác giả nghiên cứu thực trạng và tìm hiểu các biện pháp để QLHĐDH môn tin học theo mô hình định hƣớng ứng dụng nghề nghiệp (POHE) cho HV trƣờng CĐ ANND I.
Các khái niệm cơ bản 1. Quản lý Từ điển tiếng Việt định nghĩa: “Quản lý là trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định”, coi QL là “Tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” [41, tr 789]. Hoạt động QL ra đời từ khi con ngƣời bắt đầu chuyển từ lao động riêng rẽ sang quan hệ hợp tác, phân công, phối hợp với nhau trong đời sống xã hội. Ngày nay, lý luận QL đƣợc nhiều nhà khoa học nghiên cứu, đƣa ra với nhiều cách tiếp cận nhƣ: 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Tác giả Đặng Quốc Bảo đánh giá “Quản lý là quá trình tác động gây ảnh hƣởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt đƣợc mục tiêu chung” [3, tr 17].