Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Quan điểm dạy học theo LTKT 1. Khái niệm về LTKT trong dạy học Theo Từ điển Tiếng Việt, kiến tạo là “xây dựng nên” [15]. Như vậy, ở đây kiến tạo là một động từ chỉ hoạt động của con người tác động lên một đối tượng nhằm tạo nên một đối tượng mới theo nhu cầu của bản thân.
Theo Mebrien và Brandt (1997) thì: “LTKT là một cách tiếp cận “dạy” dựa trên nghiên cứu về việc “học” với niềm tin rằng: tri thức được kiến tạo nên bởi mỗi cá nhân sẽ trở nên vững chắc hơn nhiều so với việc nhận được từ người khác” 1. Một số quan điểm dạy học theo LTKT Các lý thuyết dạy học đã thay đổi mạnh mẽ trong ba hoặc bốn thập kỷ trở lại đây để đáp ứng nhu cầu phát sinh từ một xã hội tri thức. Thuyết kiến tạo là một trong những sản phẩm đầu ra thành công nhất từ những nghiên cứu về cách thức học tập của con người. Theo Briner (1999) thì: “Người học tạo nên kiến thức cho bản thân bằng cách điều khiển những ý tưởng và cách tiếp cận dựa trên những kiến thức và kinh nghiệm đã có, áp dụng chúng vào những tình huống mới để tạo thành thể thống nhất giữa những kiến thức mới thu nhận được với những kiến thức đang tồn tại trong trí óc” Theo Donald P.Kauchak và Paul D.Eggen trong Learner centered intruction, LTKT là “một quan điểm học tập trong đó người học qua sự trải nghiệm của mình tự tích lũy những kiến thức có ý nghĩa với bản thân họ hơn là tiếp thu những kiến thức sẵn có, là một nhân tố quan trọng trong sự chuyển dịch này: Chuyển dịch từ dạy học mà người dạy đóng vai trò trung tâm sang coi người học là nhân tố trung tâm.
Học tập dựa trên LTKT đặt người học vào vai Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại11 học Thái Nguyên http://www.vn trò chủ động, giúp họ xây dựng những kiến thức mới từ những kiến thức mà họ sẵn có và áp dụng kiến thức của họ vào những tình huống thực tế. Kinh nghiệm trực tiếp, sự tương tác giữa người dạy và người học, sự tương tác giữa các người học với nhau là những yếu tố quan trọng của dạy học theo LTKT”[5,tr9] Cơ sở tâm lý học của LTKT là tâm lý học phát triển của J.Piaget và lý luận về: "Vùng phất triển gần nhất" của Vygotsky. Hai khái niệm quan trọng của J.Piaget được sử dụng trong "Lý thuyết kiến tạo" là đồng hoá (assimi - lation) và điều ứng (accommodation). Theo ông nhận thức của con người là quá trình thích ứng với môi trường qua 2 hoạt động đồng hoá và điều ứng tri thức không phải truyền thụ từ người biết đến người không biết mà tri thức được chính chủ thể xây dựng thông qua hoạt động.
Ông cho rằng những ý tưởng cần được trẻ em tạo nên chứ không phải tìm thấy như một viên sỏi hoặc nhận được từ tay người khác như một món quà, trẻ tập đi bằng cách đi chứ không phải bằng cách được dạy những quy tắc để đi. Đồng hoá là quá trình nếu gặp một tri thức mới tương tự như tri thức đã biết thì tri thức mới này có thể được kết hợp trực tiếp vào sơ đồ nhận thức đang tồn tại, hay nói cách khác HS có thể dựa vào những kiến thức cũ để giải quyết một tình huống mới. Hay nói cách khác quá trình HS vận dụng tri thức đã có không phải tổ chức lại, cấu trúc lại, những tri thức đó để nhận thức hay giải quyết được gọi là quá trình đồng hoá. Nếu trong quá trình đồng hoá những tri thức đã có của HS tỏ ra chưa đủ để nhận thức chưa đủ để giải quyết vấn đề mới cần phải có sự thay đổi điều chỉnh, phải tổ chức lại những tri thức đó, có khi phải đưa ra quan niệm mới cái giải quyết mới thì xem như sự điều ứng.
Như vậy, có thể thấy lý thuyết kiến tạo về cơ bản là một lý thuyết dựa trên quan sát và nghiên cứu khoa học nhằm trả lời câu hỏi: Con người học như thế nào? Thuyết này cho biết con người xây dựng những hiểu biết và kiến thức Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại12 học Thái Nguyên http://www.vn của mình về thế giới thông qua trải nghiệm và phản ánh. Khi chúng ta bắt gặp một sự kiện mới, chúng ta phải hoà hợp những kinh nghiệm mới này với những ý tưởng và kinh nghiệm trước đó, có thể thay đổi những điều mà chúng ta đã tin tưởng hoặc có thể loại bỏ chúng vì không phù hợp. Trong bất kì trường hợp nào chúng ta vẫn là người chủ động tạo ra kiến thức cho chính mình. Để làm điều này chúng ta phải đưa ra những nghi vấn, khám phá đánh giá cái mà chúng ta chưa biết.
Thuyết kiến tạo có thể coi là bước phát triển tiếp theo của thuyết nhận thức. Tư tưởng nền tảng cơ bản của thuyết kiến tạo là đặt vai trò của chủ thể nhận thức lên vị trí hàng đầu của quá trình nhận thức. Khi học tập mỗi người hình thành thế giới quan của riêng mình. Tất cả những gì mà mỗi người trải nghiệm thì sẽ được sắp xếp chúng vào trong "Bức tranh toàn cảnh về thế giới" của người đó tức là tự kiến tạo riêng cho mình một bức tranh thế giới.
Từ đó cho thấy cơ chế học tập theo thuyết kiến tạo chuyển hoá HS từ một người tiếp thu thông tin một cách bị động thành một thành viên tích cực trong quá trình học. Với sự hướng dẫn của GV, HS sẽ tạo dựng kiến thức của mình một cách chủ động hơn chỉ là tiếp thu kiến thức một cách máy móc từ giáo viên hay từ SGK Có thể tóm tắt những quan niệm chính của thuyết kiến tạo như sau: + Không có tri thức khách quan tuyệt đối. Tri thức được xuất hiện thông qua việc chủ thể nhận thức tự cấu trúc vào hệ thống bên trong của mình vì thế tri thức mang tính chủ quan. + Việc nhấn mạnh vai trò chủ thể nhận thức trong việc giải thích và kiến tạo tri thức, thuyết kiến tạo thuộc lý thuyết định hướng chủ thể.
+ Cần tổ chức sự tương tác giữa người học và đối tượng học tập để giúp người học xây dựng thông tin mới và cấu trúc tư duy của chính mình đã được chủ thể điều chỉnh. + Học không chỉ là khám phá mà còn là sự giải thích, cấu trúc tri thức mới. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại13 học Thái Nguyên http://www.vn Thuyết kiến tạo phản ánh quá trình mà GV hỗ trợ HS tạo dựng tri thức hơn là tái sản xuất một loạt các sự kiện. Một GV theo thuyết kiến tạo cung cấp các công cụ như giải quyết vấn đề và các hoạt động học tập dựa trên những câu hỏi của HS mà với những hoạt động này HS có thể xây dựng và thử nghiệm những ý tưởng của mình rút ra các kết luận và suy luận.
Những đặc điểm cơ bản của học tập theo thuyết kiến tạo - Tri thức được lĩnh hội trong học tập là một quá trình và sản phẩm kiến tạo theo từng cá nhân thông qua tương tác giữa người học và nội dung học tập. - Về mặt nội dung dạy học phải định hướng theo những lĩnh vực và vấn đề phức hợp gần với cuộc sống và nghề nghiệp được khảo sát một cách tổng thể. - Việc học tập chỉ có thể được thực hiện trong hoạt động tích cực của người học vì chỉ từ những kinh nghiệm và kiến thức mới của bản thân thì mới có thể thay đổi và cá nhân hoá những kiến thức và kỹ năng đã có. - Học tập trong nhóm có ý nghĩa quan trọng.
Thông qua tương tác xã hội trong nhóm góp phần cho người học tự điều chỉnh sự học tập của bản thân. - Học qua sai lầm là điều có ý nghĩa. - Nội dung học tập cần định hướng vào hứng thú người học, vì có thể học hỏi dễ nhất từ nội dung mà người ta thấy hứng thú hoặc có tính - Thuyết kiến tạo không chỉ giới hạn ở những khía cạnh nhận thức của việc dạy và học. Sự học tập hợp tác đòi hỏi và khuyến khích phát triển không chỉ có lý trí mà còn cả về mặt tình cảm, thái độ, giao tiếp.
- Mục đích của việc học tập là kiến tạo kiến thức của bản thân nên khi đánh giá các kết quả học tập không định hướng theo các sản phẩm học tập, mà cần kiểm tra những tiến bộ trong quá trình học tập và trong những tình huống học tập phức hợp. Những đặc điểm trên đây của dạy học kiến tạo cho thấy hình thức dạy học này là sự kế thừa và phát triển ở mức độ cao của các phương pháp dạy học Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại14 học Thái Nguyên http://www.vn nêu vấn đề, dạy học khám phá. LTKT đòi hỏi phải thay đổi hình thức dạy học cũ và thực hiện các yêu cầu,nhiệm vụ sau: - Yêu cầu: + Học trong hành động, thông qua xử lí các tình huống học tập mà kiến tạo tri thức mới. + Học trong sự tương tác xã hội, thông qua tranh luận, trao đổi với các thành viên trong tập thể.
+ Học là vượt qua những trở ngại về mặt trí tuệ, phá vỡ những sai lầm cũ. + Học thông qua hoạt động giải quyết vấn đề. - Nhiệm vụ: + Xây dựng mục tiêu, kế hoạch - học theo phương pháp kiến tạo + Thiết kế, phát hiện các tình huống học tập, tạo điều kiện để người học trình bày các ý kiến riêng và học hỏi lẫn nhau. + Tổ chức các hoạt động trao đổi, làm việc theo nhóm.
+ Vận dụng kiến thức mới vào giải quyết các nhiệm vụ học tập cụ thể. Lâu nay, việc dạy và học thường diễn ra theo kiểu mọi kiến thức, nội dung bài học được GV nghiên cứu và chuẩn bị trước. Khi đến lớp, GV trình bày, giảng giải, chứng minh (tất nhiên có hướng dẫn học sinh tham gia vào quá trình đó). Sau đó những kết quả cần thiết được GV kết luận và người học tiếp thu, chấp nhận ghi nhớ.
Với cách này, GV là người cung cấp kiến thức cho HS theo kiểu áp đặt một chiều. HS tiếp thu một cách thụ động, đôi khi máy móc. Ngoài việc nghe giảng và ghi chép thỉnh thoảng tham gia một vài ý kiến nên nhiều khi HS không có điều kiện để bộc lộ khả năng của mình. Mọi vấn đề của bài học đã được GV giải quyết, về nhà HS được giao làm một số bài tập dựa theo các bài mẫu GV giải trên lớp.