Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỔ CHỨC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHO CÁC DOANH NGHIỆP 1.1 Vai trò của kế toán quản trị đối với công tác quản lý điều hành hoạt động của doanh nghiệp.1 Khái niệm kế toán quản trị. Kế toán quản trị đã từng xuất hiện rất lâu trong hệ thống kế toán doanh nghiệp ở các nước có nền kinh tế thị trường. Trong nền kinh tế thị trường, các tổ chức tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp với những mục tiêu và lợi ích khác nhau, và cần những nhu cầu về thông tin cũng khác nhau. Do đó, đã hình thành nên những nhận thức khác nhau về kế toán quản trị và thúc đẩy kế toán phát triển.
Theo khoản 3, điều 4 của luật kế toán Việt Nam năm 2003, kế toán quản trị được định nghĩa như sau: “ Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý , phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán”. Theo Liên đoàn Kế toán quốc tế công bố trong tài liệu tổng kết các khái niệm kế toán quản trị trên thế giới năm 1998, “ Kế toán quản trị được xem như là một quy trình định dạng , kiểm soát , đo lường , tổng hợp, phân tích, trình bày, giải thích và truyền đạt thông tin tài chính, thông tin phi tài chính liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp cho những nhà quản trị thực hiện hoạch định, đánh giá , kiểm soát , điều hành hoạt động tổ chức nhằm đảm bảo sử dụng có trách nhiệm, hiệu quả nguổn lực kinh tế của doanh nghiệp. Theo viện nghiên cứu kế toán quản trị của Mỹ, “Kế toán quản trị là một quy trình nhận dạng, tổng hợp, trình bày, giải thích và truyền đạt thông tín thích hợp cho nhà quản trị thiết lập chiến lược kinh doanh, hoạch định và kiểm soát hoạt động, ra quyết định kinh doanh, sử dụng có hiệu quả nguồn lực kinh tế , cải tiến và nâng cao giá trị doanh nghiệp, đảm bảo an toàn cho tài sản, kết hợp chặt chẽ việc quản trị và kiểm soát nội bộ.” [Charles,2002, tr6] 7 Theo nhóm tác giả Charles T.Horngren, Alnoor Bhimani, Srikant M.Datar, George Foster, “ Kế toán quản trị là ứng dụng nguyên tắc kế toán, nguyên tắc quản trị tài chính để tạo lập, bảo vệ, gìn giữ và gia tăng giá trị cho tổ chức [Charles,2002, tr897] Theo Wilson và Wai (1993, page 15) “Kế toán quản trị bao gồm các kỹ thuật và quá trình nhằm mục đích cung cấp các thông tin tài chính và phi tài chính cho những người bên trong tổ chức để ra các quyết định hữu hiệu và thông qua đó kiểm soát được tổ chức và cải thiện sự hữu hiệu của tổ chức.” Kế toán quản trị có thể hiểu là một công cụ chuyên ngành của kế toán nhằm thực hiện quá trình nhận diện, đo lường, tổng hợp và truyền đạt thông tin hữu ích cho các nhà quản trị trong doanh nghiệp thực hiện tốt nhất các chức năng quản trị, gồm hoạch định, kiểm tra, đánh giá và đặc biệt là ra quyết định trong mọi khâu công việc trong quá trình kinh doanh. Kế toán quản trị được định nghĩa theo nhiều khía cạnh khác nhau, tuy nhiên tất cả đều thống nhất chung mục đích kế toán quản trị là cung cấp thông tin định lượng tình hình kinh tế tài chính về hoạt động doanh nghiệp cho các nhà quản trị ở doanh nghiệp và kế toán quản trị là một bộ phận kế toán linh hoạt do doanh nghiệp xây dựng phù hợp với đặc điểm kinh tế kỹ thuật, tổ chức quản lý và đánh giá thành quả hoạt động của từng bộ phận, phòng ban chức năng, nhằm đảm bảo sử dụng có hiệu quả tối ưu các nguồn lực của doanh nghiệp.2 Vai trò kế toán quản trị trong doanh nghiệp.
Kế toán quản trị ra đời, phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin để nhà quản trị thực hiện toàn diện các chức năng quản trị: - Cung cấp thông tin cho quá trình lập kế hoạch: Việc lập kế hoạch trong một tổ chức liên quan đến hai vấn đề, đó là: xác định được mục tiêu của tổ chức và xây dựng những phương thức để đạt được mục tiêu đó. Dự toán ngân sách trong KTQT sẽ là một công cụ để kế toán viên giúp ban quản trị trong quá trình lập kế hoạch và kiểm soát việc thực hiện kế hoạch. Vì vậy, kế toán quản trị trên cơ sở đã ghi chép, tính toán, phân tích chi phí, doanh thu, kết quả 8 từng loại hoạt động, từng sản phẩm… ,lập các dự toán chi phí, doanh thu, lợi nhuận … để cung cấp thông tin trong việc phát hoạ, dự kiến tương lai nhằm phát triển doanh nghiệp. - Cung cấp thông tin cho quá trình tổ chức điều hành hoạt động: Kế toán quản trị sẽ cung cấp các thông tin cho các tình huống khác nhau với các phương án khác nhau để nhà quản trị có thể xem xét, để ra quyết định đúng đắn nhất trong quá trình tổ chức điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh phù hợp với các mục tiêu đã vạch ra.
Vì vậy, kế toán quản trị phải tổ chức ghi chép, xử lý thông tin đầu vào và hệ thống hoá các số liệu chi tiết theo hướng đã định. - Cung cấp thông tin cho quá trình kiểm soát: Kế toán quản trị sẽ cung cấp các báo cáo thực hiện với những báo cáo biến động kết quả giữa thực tế so với mục tiêu hay dự toán và những nguyên nhân ảnh hưởng đến biến động chi phí sản xuất, đến hoạt động tiêu thụ, đến kinh doanh,… kế toán quản trị giúp nhà quản trị nhận biết được tình hình thực hiện và những nguyên nhân dẫn đến biến động hoạt động sản xuất kinh doanh. Từ đó giúp nhà quản trị nhận thức được tình hình tốt hay xấu, những nguyên nhân ảnh hưởng thuận lợi hay bất lợi đến hoạt động sản xuất kinh doanh của từng bộ phận, của doanh nghiệp để đưa ra chính xác các những phương pháp khai thác, kiểm soát, giải pháp điều chỉnh, thay đổi nhằm hướng hoạt động của tổ chức về mục tiêu đã xác định. - Cung cấp thông tin cho quá trình ra quyết định: Chức năng ra quyết định đòi hỏi nhà quản trị phải có sự lựa chọn hợp lý trong nhiều phương án khác nhau được đưa ra.
Các quyết định ngắn hạn trong một tổ chức có thể có ảnh hưởng ngắn hạn đến tổ chức hoặc có thể là các quyết định chiến lược ảnh hưởng lâu dài đến tổ chức. Tất cả các quyết định đều có nền tảng từ thông tin, và phần lớn thông tin do KTQT cung cấp nhằm để thực hiện ra quyết định của nhà quản trị. Với những báo cáo phân tích các phương án kinh doanh, phân tích chi phí hữu ích, phân tích tiềm năng kinh tế, tài chính của tài sản và nguồn vốn,… kế toán quản trị giúp nhà quản trị đưa ra các quyết định quản trị khoa học, khai thác 9 được tiềm năng kinh tế, tài chính và đảm bảo mục tiêu doanh nghiệp. [Đào Văn Tài và cộng sự, 2003, tr42,43] Như vậy, kế toán quản trị là công cụ để xây dựng các mục tiêu thông qua các kế hoạch chiến lược, là công cụ đánh giá thực hiện mục tiêu thông qua các chức năng tổ chức điều hành và kiểm soát để ra các quyết định phù hợp, kịp thời giúp các nhà quản trị điều hành, quản lý doanh ngiệp một cách hiệu quả.
Do đó, kế toán quản trị đã tạo nên một kênh thông tin hữu ích đối với nhà quản trị trong môi trường sản xuất kinh doanh, khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin ngày càng thay đổi nhanh chóng như hiện nay.2 Nội dung tổ chức kế toán quản trị cho các doanh nghiệp. Nội dung kế toán quản trị là tổng hợp tất cả các mặt, các yếu tố cấu thành nên kế toán quản trị, thể hiện kết quả của quy trình công việc kế toán quản trị và phương pháp kỹ thuật kế toán quản trị. Nội dung kế toán quản trị phải hướng đến xây dựng hệ thống thông tin kinh tế, tài chính liên quan với các tác động đến quy trình tạo giá trị trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Do đó, nội dung cơ bản của kế toán quản trị sẽ bao gồm các phần sau: - Hệ thống kế toán chi phí và quản trị chi phí trong doanh nghiệp.
- Dự toán ngân sách - Thiết lập thông tin phục vụ cho việc ra quyết định và dự báo - Kế toán các trung tâm trách nhiệm và đánh giá trách nhiệm quản lý Kế toán quản trị vừa là một phân hệ, vừa là một bộ phận của hệ thông kế toán; vì vậy kế toán quản trị có những phương pháp kỹ thuật đặc trưng và riêng để phù hợp với những đặc điểm của nó nhằm phát huy được những chức năng và đảm bảo nội dung kế toán quản trị. Về phương pháp, kế toán quản trị hướng đến thiết lập những mô hình quản trị, mô hình kiểm soát…, về kỹ thuật, kế toán quản trị hướng đến áp dụng, xây dựng những kỹ thuật định lượng, đo lường, tính toán, so sánh, phân tích thông tin cần cho quản trị, phù hợp với những phương pháp sử dụng. Như vậy, nội dung kế toán quản trị và phương pháp kỹ thuật kế toán quản trị luôn có mối 10 quan hệ mật thiết với nhau. Nội dung kế toán quản trị là mục đích, phương pháp kỹ thuật là phương tiện [ Phạm Văn Dược và Huỳnh Lợi, 2009,tr 23,tr24].
Xác lập nội dung thông tin kế toán quản trị với từng loại quy mô doanh nghiệp Dựa theo quy mô có thể phân loại doanh nghiệp thành doanh nghiệp có quy mô lớn, vừa và nhỏ. Trong đó, việc xác định các tiêu chí và định mức để đánh giá quy mô của một DNNVV có sự khác biệt ở các quốc gia trên thế giới. Ngay trong cùng một quốc gia, những tiêu chí này cũng có thể được thay đổi theo thời gian vì sự phát triển của doanh nghiệp, đặc điểm nền kinh tế hay tốc độ phát triển kinh tế của quốc gia đó. Tuy nhiên, các tiêu chí phổ biến nhất được nhiều quốc gia sử dụng là: số lượng lao động bình quân mà doanh nghiệp sử dụng trong năm, tổng mức vốn đầu tư của doanh nghiệp, tổng doanh thu hàng năm của doanh nghiệp (Bảng 1.1: Tiêu chí phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa của một số quốc gia và khu vực Quốc gia/ Số lao Phân loại DN vừa và nhỏ động bình Vốn đầu tư Doanh thu Khu vực quân A.
NHÓM CÁC NƯỚC PHÁT TRIỂN 1. Hoa kỳ Nhỏ và vừa 0-500 Không quy định Không quy định - Đối với ngành sản xuất 1-300 ¥ 0-300 triệu Không quy định 2.