CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1.1 SỰ CẦN THIẾT CỦA KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1.1 Khái niệm kế toán quản trị Có nhiều định nghĩa khác nhau về kế toán quản trị: Theo Luật Kế toán Việt nam, Kế toán quản trị “là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán. Theo Viện nghiên cứu Kế toán quản trị của Mỹ, “Kế toán quản trị là một quy trình nhận dạng, tổng hợp, trình bày, giải thích và truyền đạt thông tin thích hợp cho nhà quản trị thiết lập chiến lược kinh doanh, hoạch định và kiểm soát hoạt động, ra quyết định kinh doanh, sử dụng có hiệu quả nguồn lực kinh tế, cải tiến và nâng cao giá trị doanh nghiệp, đảm bảo an toàn cho tài sản, kết hợp chặt chẽ việc quản trị và kiểm soát nội bộ”[2, tr. Theo nhóm tác giả Robert S.Kaplan và Anthony A.Atkinson thì “Kế toán quản trị là hệ thống kế toán cung cấp thông tin cho những nhà quản lý trong việc lập kế hoạch và kiểm soát hoạt động của đơn vị. Hoạt động của kế toán quản trị bao gồm việc thu thập, sắp xếp, phân loại, xử lý phân tích và báo cáo thông tin cho các nhà quản trị.
Không như thông tin do kế toán tài chính cung cấp cho những người sử dụng bên ngoài đơn vị như nhà đầu tư, chủ nợ, nhà cung cấp và cơ quan thuế, thông tin kế toán quản trị giúp cho việc ra quyết định trong nội bộ đơn vị”[16, tr. Kế toán quản trị đã từng xuất hiện rất lâu trong hệ thống kế toán doanh nghiệp ở các nước có nền kinh tế thị trường. Những năm cuối thế kỷ 18 và Luan van 7 đầu thế kỷ 19, kế toán quản trị đã xuất hiện trong hệ thống kế toán doanh nghiệp. Đầu tiên kế toán quản trị xuất hiện dưới hình thức kế toán chi phí trong doanh nghiệp sản xuất nhỏ nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin cho những nhà quản trị trong nội bộ doanh nghiệp sản xuất kiểm soát chi phí, định hướng sản xuất để nâng cao năng lực cạnh tranh, chống đỡ sức ép từ những doanh nghiệp sản xuất lớn.
Sau đó, với thực tiễn hữu hiệu, hiệu quả, kế toán quản trị bắt đầu được chú ý, áp dụng, phát triển nhanh trong những loại hình doanh nghiệp khác và cả trong những tổ chức phi lợi nhuận như cơ quan của Nhà nước, bệnh viện…[2, tr. Ngày nay, kế toán quản trị bắt đầu chuyển sang một kỷ nguyên mới, rất gần với quản trị, là một công cụ hợp nhất giữa chiến lược kinh doanh với thị trường, hợp nhất giữa kiểm soát và thông tin phản hồi với thông tin định hướng hay kế toán quản trị là một bộ phận thiết yếu của quản trị, kế toán chiến lược. Tóm lại, tùy thuộc vào các quan điểm khác nhau, có thể có những định nghĩa khác nhau về kế toán quản trị. Tuy nhiên sự khác nhau là không nhiều.
Các định nghĩa trên đều nhìn nhận kế toán quản trị là một bộ phận cấu thành không thể tách rời của hệ thống kế toán, có nhiệm vụ tổ chức thông tin kế toán trong đơn vị, KTQT có quan hệ chặt chẽ với KTTC trong việc sử dụng số liệu kế toán chi tiết của KTTC, song KTQT không phải là kế toán chi tiết. Có thể nói, nhìn từ góc độ phục vụ cho việc quản lý và ra quyết định thì kế toán quản trị là công việc ghi chép, thu thập, đo lường, phân tích và xử lý các thông tin kinh tế tài chính nhằm phục vụ cho các nhà quản lý doanh nghiệp trong việc hoạch định, kiểm soát và ra quyết định kinh doanh.2 Đặc điểm hoạt động của các trường đại học Khi nói đến kế toán quản trị chúng ta thường nghĩ ngay đó là công việc của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh vì ở đó mới thực hiện mục tiêu lợi Luan van 8 nhuận, cần phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh, phân tích lời lỗ,… Còn đối với các trường đại học, theo quan điểm từ trước đến nay có nhiều điểm khác biệt đối với doanh nghiệp mà về cơ bản là hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, hoạt động để thực hiện mục tiêu chính trị, xã hội được Nhà nước giao phó. Vì vậy, việc vận dụng kế toán quản trị vào các trường đại học không phải là điều dễ dàng. Khi vận dụng KTQT cần xem xét các đặc điểm sau: a.
Đặc điểm về đào tạo Thứ nhất là, đặc điểm về sản phẩm đào tạo: sản phẩm của trường là đào tạo nguồn nhân lực có kiến thức tích tụ qua quá trình học tập để có thể làm việc. Sản phẩm của trường đại học có tính đa ngành, đa lĩnh vực, nhiều cấp bậc và nhiều hệ đào tạo. Trường đại học có thể mở rộng địa bàn trên cả nước và có thể liên kết đào tạo với các nước trên thế giới miễn là hoạt động đúng chức năng, nhiệm vụ và pháp luật cho phép. Trường đại học được quyền điều chỉnh chỉ tiêu tuyển sinh từ ngành này sang ngành khác để sản phẩm của trường đáp ứng được nhu cầu xã hội trong từng giai đoạn.
Điều này đặt ra vấn đề cho nhà quản lý là làm sao phải tính toán mở ngành đào tạo, hệ đào tạo hợp lý theo từng giai đoạn, nâng cao chất lượng đào tạo nhằm tạo ra sản phẩm tốt nhất đáp ứng được nhu cầu của thị trường trong điều kiện nguồn lực của Trường có hạn. Trường phải tạo ra được sản phẩm đào tạo có thương hiệu riêng để có thể cạnh tranh và đứng vững trong xu thế cạnh tranh và toàn cầu hóa giáo dục đại học hiện nay. Thứ hai là, đặc điểm về quá trình đào tạo: quá trình tạo ra sản phẩm trong trường đại học khác với doanh nghiệp. Để đào tạo được nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của xã hội thì các trường đại học phải có những điều kiện sau: § Về cơ sở vật chất: có phòng học theo tiêu chuẩn, thư viện được trang bị đủ đầu sách và mạng thông tin được kết nối để người học và người dạy có Luan van 9 thể truy cập dễ dàng, có phòng thực hành đạt tiêu chuẩn theo chương trình giảng dạy của các ngành,… Điều này đòi hỏi phải có đầu tư ban đầu đủ lớn và chi phí cố định rất lớn.
§ Về con người: có đủ trình độ và năng lực để đảm nhận việc giảng dạy, nghiên cứu khoa học và quản lý theo chuẩn quy định. Lực lượng cán bộ giảng dạy cơ hữu chiếm tỷ lệ và quyết định số lượng tuyển sinh. Do vậy, có quan hệ giữa quy mô sinh viên – giáo viên ở cơ sở đào tạo. § Khung chương trình: các ngành, các hệ đều có khung chương trình đã được kiểm duyệt theo tiêu chuẩn của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
§ Tổ chức công tác giảng dạy: một cách khoa học, đúng quy chế và có sự linh hoạt. Điều này đặt ra vấn đề là các nhà quản trị trường đại học phải tính toán, cân đối nguồn tài chính hiện có, tìm kiếm thêm nguồn lực tài chính để đầu tư cơ sở vật chất, tổ chức bộ máy biên chế, khuyến khích cán bộ giảng dạy nâng cao trình độ để đáp ứng tốt nhất cho nhu cầu dạy học. Đặc điểm về tài chính Thứ nhất là, đặc điểm về nguồn thu: ở Việt Nam, nguồn thu của các trường đại học được huy động từ 3 nguồn tài chính sau: § Nguồn ngân sách nhà nước cấp: bao gồm kinh phí thường xuyên và kinh phí không thường xuyên. Nguồn tài chính này chỉ có đối với các trường đại học công lập.
§ Nguồn thu sự nghiệp bao gồm: thu học phí, lệ phí từ người học theo quy định của nhà nước; thu từ các hoạt động hợp tác đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, sản xuất thử; thu từ hoạt động sản xuất dịch vụ; các nguồn thu sự nghiệp khác (lãi tiền gửi ngân hàng, tiền thanh lý, khấu hao tài sản mua sắm từ nguồn thu quy định tại khoản này). § Các nguồn thu khác: tài trợ, viện trợ, ủng hộ, quà tặng của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước; vốn vay ngân hàng và các tổ chức tín dụng, vốn Luan van 10 góp của các tổ chức, cá nhân để đầu tư, mở rộng và phát triển nhà trường; các nguồn thu hợp pháp khác. Với nguồn tài chính như trên, trường có quyền tự chủ về nguồn kinh phí của trường hiện có để tính toán các khoản chi cho phù hợp với điều kiện tài chính về hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học của đơn vị. Thứ hai là, yêu cầu quản lý tài chính của trường đại học Đối với trường đại học công lập Cơ chế quản lý đối với các trường đại học công lập trước đây là quản lý “đầu vào” mang tính bao cấp, các trường hết sức thụ động đợi “sự cho phép” và “trông chờ” vào nguồn kinh phí được cấp từ nguồn ngân sách nhà nước.
Với đặc điểm đó thì yêu cầu thông tin cho quản lý ở mức độ đơn giản, chủ yếu có tính mệnh lệnh. Tuy nhiên, các trường đại học công lập thực hiện cơ chế quản lý tài chính mới hiện nay là quản lý theo hình thức “đầu ra” chuyển từ cơ chế “bao cấp” sang “phân cấp”. Với cơ chế quản lý tài chính mới hiện nay, quyền tự chủ của các trường được tăng cường hơn bao giờ hết. Với tinh thần của Nghị định 43/2006/NĐ-CP thì các đơn vị sự nghiệp có thu được tự chủ tài chính, được chủ động bố trí kinh phí để thực hiện nhiệm vụ, được ổn định kinh phí hoạt động thường xuyên do ngân sách nhà nước cấp đối với đơn vị tự đảm bảo một phần chi phí, được vay vốn tín dụng ngân hàng, chủ động về biên chế, chế độ tiền công, hình thành cơ chế quản lý tài chính mới thông thoáng hơn, phù hợp với yêu cầu quản lý tài chính của các đơn vị sự nghiệp có thu trong điều kiện mới.
Hơn nữa, cơ chế tài chính này đã tạo động lực mới cho các đơn vị sự nghiệp có thu trong quá trình hoạt động, phát huy tính sáng tạo ở mỗi đơn vị cơ sở, phá bỏ những rào cản về chế độ đãi ngộ đối với CBVC và về việc tìm kiếm nguồn lực tài chính phục vụ cho công tác chuyên môn. Luan van 11 Do vậy để có thể huy động tốt nguồn tài chính, các trường đại học phải áp dụng nhiều biện pháp quản lý giáo dục, trong đó cần vận dụng KTQT để quản lý tài chính của đơn vị hiệu quả, tránh thất thoát, lãng phí.