Luận văn ThS Dương Thị Hải Yến: Dạy học theo vấn đề chương Chuyển hóa Sinh học 10

Luận văn Thạc sĩ tập trung vận dụng dạy học theo vấn đề cho chương Chuyển hóa vật chất và năng lượng trong tế bào Sinh học 10 THPT.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ Khoa học Giáo dục

2017

117
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

2. Mục đích nghiên cứu

3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

4. Nhiệm vụ nghiên cứu

5. Giả thuyết khoa học

6. Phương pháp nghiên cứu

7. Những đóng góp mới của đề tài

8. Cấu trúc của luận văn

1. Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA DẠY HỌC THEO VẤN ĐỀ

1.1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

1.2. Tình hình nghiên cứu và vận dụng dạy học theo vấn đề trên thế giới

1.3. Tình hình nghiên cứu và vận dụng dạy học theo vấn đề ở Việt Nam

2. Chương 2: VẬN DỤNG DẠY HỌC THEO VẤN ĐỀ ĐỂ DẠY HỌC CHƯƠNG CHUYỂN HÓA VẬT CHẤT VÀ NĂNG LƯỢNG TRONG TẾ BÀO

3. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Vận Dụng DH Theo Vấn Đề Chương Chuyển Hóa SV 10

Dạy học theo vấn đề (DHTVĐ) là một quan điểm dạy học theo vấn đề mà bản chất của nó là đặt ra trước học sinh một hệ thống các vấn đề nhận thức có chứa đựng mâu thuẫn giữa cái đã biết và cái chưa biết. Chuyển học sinh vào tình huống có vấn đề, kích thích học sinh tự giác, có nhu cầu mong muốn giải quyết vấn đề, kích thích hoạt động tư duy tích cực của HS trong quá trình giải quyết vấn đề. Làm cho học sinh tích cực tự giác trong việc dành lấy kiến thức một cách chủ động [8], [9]. Trong DHTVĐ, người ho ̣c thường làm viê ̣c theo nhóm hợp tác, tham gia vào hoạt động dạy học Sinh học tư ̣ đinh ̣ hướng để xác đinh ̣ cái gì cầ n phải ho ̣c để giải quyế t vấn đề, suy nghi ̃ về những gì ho ̣c đươ ̣c và những chiế n lươ ̣c sử du ̣ng, qua đó giúp cho ho ̣c sinh liñ h hội đươ c̣ cả về nô ̣i dung và cá ch thức suy nghi,̃ tư duy. Vấ n đề người ho ̣c cầ n phải giải quyế t đó là vấ n đề phức ta ̣p, có liên quan đến thực tiễn và không có một câu trả lời đúng duy nhấ t. Vì vấ n đề nà y có chứa đưṇ g mâu thuẫn mà bằ ng kiến thức cũ đã đươ ̣c ho ̣c có thể se ̃ không đủ để lý giải vấ n đề , chính vì vâ ̣y nó sẽ kích thích hoa ̣t đô ̣ng nhân thức của học sinh, bởi sư ̣ tò mò và ham hiểu biế t, thái đô ̣, động cơ và nhu cầ u se ̃ mang la ̣i nhiều yế u tố tích cực cho hoạt động dạy học của ho ̣c sinh. Đồng thời trong quá trình tìm kiếm thông tin, lý giải vấ n đề , người học se ̃ đươc̣ rèn luyện phương pháp tư duy khoa ho ̣c, kỹ năng đọc tài liê ̣u, tranh luâ ̣n và là m viê ̣c tâ ̣p thể,…là những kỹ năng cầ n thiế t cho công việc sau nà y của người học. DHTVĐ không xem nhẹ vai trò của giáo viên mà qua đó đòi hỏi GV phải không ngừng vươn lên và có những kỹ năng nhấ t đinh ̣ để làm tố t nhiê ̣m vu ̣ định hướng và hỗ trơ ̣ cho người ho ̣c. Vâ ̣n du ̣ng DHTVĐ trong da ̣y ho ̣c nói chung và trong da ̣y ho ̣c sinh ho ̣c nói riêng sẽ gắ n lý luâ ̣n gầ n với thực tiễn hơn. Trang bi ̣ cho ho ̣c sinh nhiề u kiế n thức và ki ̃ năng để giải quyế t nhiề u vấ n đề gă ̣p trong cuô ̣c số ng.

1.1. Lịch Sử Phát Triển Dạy Học Theo Vấn Đề Trên Thế Giới

Trên thế giới, dạy học theo vấn đề đã xuất hiện khá sớm với các mức độ khác nhau. Ngay từ thời trung cổ, nhà triết học Hy lạp, Socrates quan tâm đến “tính vấn đề” trong dạy học. Năm 1909, lần đầu tiên quan điểm về DHNVĐ đã được nhà giáo dục nổi tiếng của Hoa Kì, Jonh Deway trình bày trong cuốn “Chúng ta suy nghĩ như thế nào”. Cuốn này đã được viết hoàn chỉnh hơn vào năm 1933 và tái bản nhiều lần. Deway và học trò của ông đã cho rằng DHTVĐ rất có hiệu quả trong việc tạo cho HS khả năng làm việc độc lập trong giờ học, nhưng lại chưa đề cập đến lý thuyết của DHTVĐ. Giáo sư E. Brunov và Viện sỹ I. Zverev có các công trình lớn chuyên khảo về phát triển năng lực độc lập tích cực nhận thức của học sinh trong quá trình học tập giáo trình sinh học nói chung và dạy học Giải phẫu sinh lý người nói riêng.

1.2. Tình Hình Nghiên Cứu DHTVĐ ở Việt Nam Tổng Quan

Từ những năm 60 của thế kỷ XX đến nay, ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm về dạy học nêu vấn đề với mục đích nâng cao chất lượng dạy học theo hướng tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh. Hầu hết các giáo viên đã làm quen với thuật ngữ dạy học nêu vấn đề, dạy học giải quyết vấn đề. Trong lĩnh vực dạy học sinh học, Giáo sư Trần Bá Hoành là người sớm có những nghiên cứu về mặt lý luận và vận dụng thành công dạy học giải quyết vấn đề. Các tác giả Nguyễn Quang Vinh, Trần Doãn Bách (Hà nội), Nguyễn Như Ất (Thái Nguyên) đã vận dụng dạy học giải quyết vấn đề vào một số bài dạy học cụ thể.

II. Vận Dụng DH Theo Vấn Đề Giúp Giải Quyết Thách Thức Nào

Một trong những thách thức lớn trong dạy học Sinh học 10 là làm thế nào để học sinh không chỉ học thuộc kiến thức mà còn hiểu sâu sắc và có khả năng vận dụng chúng vào thực tế. Chương Chuyển hóa vật chất và năng lượng trong tế bào là một chương khó, chứa đựng nhiều khái niệm trừu tượng và phức tạp. Vì vậy, việc vận dụng DHTVĐ không chỉ giúp học sinh hiểu rõ bản chất của các quá trình sinh học mà còn rèn luyện tư duy phản biện, kỹ năng giải quyết vấn đề và khả năng hợp tác. DHTVĐ cũng tạo ra một môi trường học tập tích cực, nơi học sinh được khuyến khích đặt câu hỏi, thảo luận và chia sẻ ý kiến. Điều này giúp học sinh cảm thấy hứng thú và chủ động hơn trong quá trình học tập.

2.1. Khó Khăn Trong Tiếp Thu Kiến Thức Chuyển Hóa Vật Chất

Kiến thức về khái niệm - Năng lượng: là đại lượng đặc trưng cho khả năng sinh công. Gồm động năng và thế năng + Động năng: là dạng năng lượng sẵn sàng sinh ra công. + Thế năng: là loại năng lượng dự trữ có tiềm năng sinh công. - Chuyển hóa năng lượng: là sự chuyển đổi qua lại giữa các dạng năng lượng. - Hô hấp: Là quá trình phân giải nguyên liệu hữu cơ thành các chất đơn giản và giải phóng năng lượng cho các hoạt động sống. - Quang hợp: là quá trình tổng hợp chất hữu cơ từ các chất vô cơ đơn giản nhờ năng lượng ánh sáng với sự tham gia của các hệ sắc tố. - Hóa tổng hợp: là con đường đồng hóa CO2 nhờ năng lượng của các phản ứng ôxi hóa để tổng hợp thành các chất đặc trưng của cơ thể.

2.2. Tại Sao Cần Rèn Luyện Kỹ Năng Tư Duy Phản Biện

DHTVĐ không chỉ giúp học sinh hiểu rõ bản chất của các quá trình sinh học mà còn rèn luyện tư duy phản biện, kỹ năng giải quyết vấn đề và khả năng hợp tác. DHTVĐ cũng tạo ra một môi trường học tập tích cực, nơi học sinh được khuyến khích đặt câu hỏi, thảo luận và chia sẻ ý kiến. Điều này giúp học sinh cảm thấy hứng thú và chủ động hơn trong quá trình học tập.

III. Hướng Dẫn Vận Dụng DH Theo Vấn Đề Trong Chuyển Hóa SV 10

Để vận dụng dạy học theo vấn đề hiệu quả trong chương Chuyển hóa vật chất và năng lượng cần tuân thủ một quy trình rõ ràng. Đầu tiên, giáo viên cần xác định rõ mục tiêu bài học và lựa chọn vấn đề phù hợp với nội dung và trình độ của học sinh. Vấn đề cần có tính thực tiễn, liên quan đến đời sống hàng ngày của học sinh. Sau đó, giáo viên tạo tình huống có vấn đề, kích thích học sinh đặt câu hỏi và suy nghĩ. Giáo viên hướng dẫn học sinh thu thập thông tin, phân tích và giải quyết vấn đề theo nhóm. Cuối cùng, học sinh trình bày kết quả và giáo viên tổng kết, đánh giá. Quan trọng là khuyến khích học sinh tự đánh giá và rút ra bài học kinh nghiệm.

3.1. Cách Xác Định Mục Tiêu Bài Học và Chọn Vấn Đề Phù Hợp

Đầu tiên, giáo viên cần xác định rõ mục tiêu bài học và lựa chọn vấn đề phù hợp với nội dung và trình độ của học sinh. Vấn đề cần có tính thực tiễn, liên quan đến đời sống hàng ngày của học sinh. Vấn đề cần phải đủ sức thách thức nhưng không quá khó để học sinh có thể tiếp cận và giải quyết.

3.2. Phương Pháp Tạo Tình Huống Có Vấn Đề Kích Thích Tư Duy

Giáo viên có thể sử dụng nhiều cách tác động để xây dựng tình huống có vấn đề. Dựa vào đặc thù môn học và đặc điểm tâm lý học sinh, chúng tôi đã xây dựng một số kĩ thuật tạo tình huống có vấn đề như sau: Kĩ thuật tạo tình huống có vấn đề 1: Xuất phát từ những tình huống có vấn đề trong thực tiễn đời sống, xây dựng thành VĐ.

3.3. Hướng Dẫn Thu Thập Thông Tin Phân Tích Giải Quyết Vấn Đề

Giáo viên hướng dẫn học sinh thu thập thông tin, phân tích và giải quyết vấn đề theo nhóm. Cuối cùng, học sinh trình bày kết quả và giáo viên tổng kết, đánh giá. Quan trọng là khuyến khích học sinh tự đánh giá và rút ra bài học kinh nghiệm.

IV. Ví Dụ Cụ Thể Vận Dụng DH Theo Vấn Đề Chuyển Hóa SV 10

Ví dụ, khi dạy về quang hợp, giáo viên có thể đặt vấn đề: “Tại sao cây xanh có thể sống được mà không cần ăn thức ăn như con người?”. Học sinh sẽ thảo luận về vai trò của ánh sáng, nước và CO2 trong quá trình quang hợp. Giáo viên có thể cho học sinh làm thí nghiệm chứng minh vai trò của ánh sáng trong quang hợp. Hoặc khi dạy về hô hấp tế bào, giáo viên có thể đặt câu hỏi: “Tại sao khi vận động mạnh, chúng ta lại cảm thấy mệt mỏi và thở gấp?”. Học sinh sẽ tìm hiểu về vai trò của oxy và glucose trong hô hấp tế bào và mối liên hệ giữa hô hấp tế bào và năng lượng.

4.1. Vận Dụng DH Theo Vấn Đề Trong Bài Quang Hợp Chi Tiết

Giáo viên có thể đặt vấn đề: “Tại sao cây xanh có thể sống được mà không cần ăn thức ăn như con người?”. Học sinh sẽ thảo luận về vai trò của ánh sáng, nước và CO2 trong quá trình quang hợp. Giáo viên có thể cho học sinh làm thí nghiệm chứng minh vai trò của ánh sáng trong quang hợp.

4.2. DH Theo Vấn Đề Bài Hô Hấp Tế Bào Gợi Ý Thực Hành

Giáo viên có thể đặt câu hỏi: “Tại sao khi vận động mạnh, chúng ta lại cảm thấy mệt mỏi và thở gấp?”. Học sinh sẽ tìm hiểu về vai trò của oxy và glucose trong hô hấp tế bào và mối liên hệ giữa hô hấp tế bào và năng lượng.

V. Đánh Giá Hiệu Quả Vận Dụng DH Theo Vấn Đề Sinh Học 10

Việc đánh giá hiệu quả của vận dụng DHTVĐ cần dựa trên nhiều tiêu chí. Thứ nhất, đánh giá sự tiến bộ về kiến thức và kỹ năng của học sinh thông qua bài kiểm tra, bài tập. Thứ hai, đánh giá khả năng tư duy phản biện, giải quyết vấn đề và hợp tác của học sinh thông qua quan sát, phỏng vấn. Thứ ba, đánh giá mức độ hứng thú và chủ động của học sinh trong quá trình học tập thông qua khảo sát, phản hồi. Cần có sự kết hợp giữa đánh giá định kỳ và đánh giá thường xuyên để có cái nhìn toàn diện về hiệu quả của DHTVĐ.

5.1. Các Tiêu Chí Đánh Giá Sự Tiến Bộ Về Kiến Thức Kỹ Năng

Đánh giá sự tiến bộ về kiến thức và kỹ năng của học sinh thông qua bài kiểm tra, bài tập. Các bài kiểm tra, bài tập nên được thiết kế theo hướng mở, khuyến khích học sinh vận dụng kiến thức vào giải quyết vấn đề thực tiễn.

5.2. Cách Quan Sát Phỏng Vấn Để Đánh Giá Tư Duy và Hợp Tác

Đánh giá khả năng tư duy phản biện, giải quyết vấn đề và hợp tác của học sinh thông qua quan sát, phỏng vấn. Giáo viên quan sát cách học sinh tham gia thảo luận nhóm, cách họ giải quyết các tình huống có vấn đề. Phỏng vấn học sinh để hiểu rõ hơn về suy nghĩ và cách tiếp cận vấn đề của họ.

VI. Kết Luận và Triển Vọng DH Theo Vấn Đề Sinh Học THPT

Vận dụng DH theo vấn đề trong dạy chương Chuyển hóa Sinh học 10 THPT là một hướng đi hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng dạy học và phát triển năng lực cho học sinh. Tuy nhiên, để DHTVĐ đạt hiệu quả cao, cần có sự chuẩn bị kỹ lưỡng từ giáo viên và sự chủ động, tích cực từ học sinh. Trong tương lai, cần có thêm nhiều nghiên cứu về DHTVĐ trong dạy học Sinh học để tìm ra những phương pháp và kỹ thuật tối ưu nhất.

6.1. Chuẩn Bị Của Giáo Viên Để DH Theo Vấn Đề Thành Công

Giáo viên cần chuẩn bị kỹ lưỡng về kiến thức chuyên môn, kỹ năng sư phạm và khả năng tạo tình huống có vấn đề. Giáo viên cũng cần linh hoạt điều chỉnh phương pháp dạy học phù hợp với từng đối tượng học sinh.

6.2. Hướng Nghiên Cứu Tiếp Theo Cho DH Theo Vấn Đề Sinh Học

Cần có thêm nhiều nghiên cứu về DHTVĐ trong dạy học Sinh học để tìm ra những phương pháp và kỹ thuật tối ưu nhất. Các nghiên cứu có thể tập trung vào việc thiết kế các tình huống có vấn đề hấp dẫn, phát triển các công cụ đánh giá hiệu quả và bồi dưỡng năng lực cho giáo viên.

02/10/2025
Luận văn thạc sĩ vận dụng dạy học theo vấn đề để dạy học chương chuyển hóa vật chất và năng lượng trong tế bào sinh học 10 thpt

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề”, tiếp theo kích thích và hướng dẫn học sinh hoạt động tư duy theo hướng “giải quyết vấn đề”. Vấn đề đặt ra trong dạy học giải quyết vấn đề có ý nghĩa tích cực đối với học sinh, tạo ra cho học sinh nhu cầu nhận thức. Yếu tố mới của thông tin có tác dụng gây sự ngạc nhiên, thu hút sự chú ý của học sinh trước tình huống mới, khi đó thúc đẩy học sinh xuất hiện nhu cầu nhận thức và khơi dậy tính tích cực nhận thức của học sinh trong quá trình tìm tòi giải quyết vấn đề [12]. 13 download by : skknchat@gmail.

Cơ cở lý luận của dạy học theo vấn đề Dạy học theo vấn đề phát huy được tính tích cực nhận thức của học sinh vì nó tạo ra và kích thích được động cơ tự giác học tập của chủ thể giúp học sinh có năng lực phát hiện (hoặc tiếp nhận) tình huống có vấn đề, biết giải quyết vấn đề đặt ra để tiếp nhận (hoặc hoàn thiện, vận dụng) tri thức. Với chức năng như vậy thì lối dạy học này không chỉ tồn tại với tư cách phạm trù của phương pháp dạy học mà còn mang sắc thái của phạm trù mục tiêu giáo dục góp phần bồi dưỡng nhân cách con người ở thời đại khoa học - công nghệ phát triển như vũ bão, đang chuyển sang thời đại kinh tế tri thức. Một ưu điểm khác của dạy học theo vấn đề là tạo cho học sinh thực hiện sự hoạt động độc lập của mình với các mức độ khác nhau. Dấu hiệu đặc trưng của hoạt động độc lập là học sinh làm việc không cần sự hỗ trợ từ phía giáo viên.

“Đặc điểm cơ bản của hoạt động độc lập như là một phạm trù lý luận dạy học biểu hiện ở chỗ, mục tiêu hoạt động của học sinh đồng thời mang chức năng quản lý hoạt động đó”. Bởi thế, trong hoạt động dạy học, khi sử dụng dạy học theo vấn đề, giáo viên từng bước không những tích cực hoá hoạt động nhận thức mà còn thông qua đó tập dượt cho học sinh tiến hành hoạt động độc lập, cụ thể là việc tổ chức và quản lý hoạt động học tập bao gồm các khâu: xây dựng mục tiêu, vạch ra đề án kế hoạch, thực hiện kế hoạch đó có sự điều chỉnh cần thiết, kiểm tra đánh giá kết quả hoạt động. Quá trình dạy học được phân ra ba giai đoạn với các nhiệm vụ lý luận dạy học khác nhau: - Hình thành kiến thức mới cho học sinh (chủ yếu thực hiện trong các bài lên lớp giới thiệu tài liệu mới); 14 download by : skknchat@gmail.com - Củng cố ôn tập; luyện tập vận dụng tri thức đã lĩnh hội được (thực hiện trong các bài lên lớp hoàn thiện tri thức và trong các hoạt động độc lập của học sinh ngoài lớp, ngoài giờ…); - Kiểm tra đánh giá trình độ nắm vững và vận dụng tri thức của học sinh (trong bài lên lớp kiểm tra đánh giá và trong các hoạt động độc lập tự kiểm tra tự đánh giá của học sinh). Dạy học theo vấn đề được vận dụng tuỳ theo nhiệm vụ lý luận dạy học, chủ yếu được thực hiện thích hợp ở giai đoạn đầu trong các “bài lên lớp nghiên cứu tài liệu mới”, nhưng vẫn có thể tiến hành ở giai đoạn hai trong các “bài lên lớp hoàn thiện kiến thức” như ôn tập hệ thống hoá kiến thức.

Ngoài ra giáo viên có thể ra các loại bài tập về nhà theo dạng “tìm tòi có vấn đề”, bài tập “có vấn đề” hoặc khi thực hiện các hình thức tổ chức hoạt động học tập khác như tham quan, bài tập ngoại khoá, lao động công ích có mặt hay không có sự tham gia trực tiếp của giáo viên, hoạt động tự học cá nhân học sinh hay theo nhóm nhỏ tại nhà, tại thư viện trường, trong thiên nhiên và các cơ sở khác ngoài trường. Phương pháp học tập tích cực đa dạng được áp dụng trong mọi hình thức dạy học. Phấn đấu làm cho dạy học không chỉ nhằm hình thành kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo mà còn làm cho dạy học mang tính giáo dục và phát triển là xu hướng của lý luận dạy học hiện đại. Trong quá trình giáo dục nói chung, nhiệm vụ phát triển được hiểu theo nghĩa rộng là phát triển toàn diện nhân cách của học sinh.

Trong quá trình dạy học nói riêng, nhiệm vụ phát triển được hiểu theo nghĩa: Phát triển năng lực nhận thức và năng lực hành động của học sinh. Phát triển năng lực nhận thức của học sinh bao gồm việc rèn luyện các thao tác tư duy và các phẩm chất tư duy, một số nhà tâm lý học còn nhấn mạnh 15 download by : skknchat@gmail.com một số dấu hiệu khác của phẩm chất tư duy là tính phê phán, tính linh hoạt, khả năng phối hợp hài hoà các thao tác tư duy. Phát triển năng lực hành động của học sinh bao gồm việc rèn luyện tính tích cực, độc lập, sáng tạo trong học tập, nghiên cứu, trong lao động… 1. Đặc điểm của dạy học theo vấn đề 1.

Khái niệm “dạy học theo vấn đề” DHTVĐ là một phương pháp dạy học hay là một hình thức tổ chức dạy học? Câu hỏi này đến nay vẫn chưa có câu trả lời được chấp nhận rộng rãi, vì có nhiều quan điểm khác nhau. Trước hết, chúng ta tìm hiểu quá trình sử dụng thuật ngữ “Dạy học theo vấn đề”. Ở nhiều nước, các nhà giáo dục đã dùng các thuật ngữ sau: - Dạy học nêu vấn đề (Problem posing instructon). - Dạy học giải quyết vấn đề (Problem solving instruction).

- Dạy học đặt và giải quyết vấn đề (Problem posing and solving instruction). Dạy theo vấn đề (Problem based instruction) viết tắt là PBI hoặc Học theo vấn đề (Problem based Learning) viết tắt là PBL. * Dạy học nêu vấn đề (Problem posing instructon). Ở Việt nam từ năm 1960, giáo viên đã làm quen với thuật ngữ “dạy học nêu vấn đề”.

Dùng thuật ngữ “Dạy học nêu vấn đề” có nghĩa là tập trung vào khâu nêu ra vấn đề, tạo tình huống có vấn đề để tạo động lực tâm lý thu hút chú ý của học sinh vào nhiệm vụ nhận thức. Có ý kiến cho rằng dùng thuật ngữ “nêu vấn đề” là chưa thành công vì có thể gây hiểu lầm là giáo viên chỉ nêu ra vấn đề để học sinh tham gia giải quyết, do đó đề nghị thay “nêu vấn đề” bằng “gợi vấn đề” [6]. Thực ra, cần tập dượt cho học sinh biết phát hiện vấn đề, tự mình đặt ra vấn đề để giải quyết, đó mới là nét cơ bản của cách dạy học này. 16 download by : skknchat@gmail.com Như vậy, trước những năm 90 của thế kỷ XX, trong dạy học quen dùng thuật ngữ “dạy học nêu vấn đề”.

Thuật ngữ này dùng trong giai đoạn mà xu thế chung là “đặt giáo viên vào trung tâm của quá trình dạy học”, hơn nữa trong giai đoạn đó các nhà sư phạm quan tâm nhiều đến kỹ thuật tạo ra tình huống có vấn đề. * Dạy học giải quyết vấn đề (Problem solving instruction). Dùng thuật ngữ “Dạy học giải quyết vấn đề” có nghĩa là nhấn mạnh khâu giải quyết vấn đề đặt ra, coi đây là khâu chủ yếu. Nếu học sinh được tham gia vào khâu này thì sẽ vừa nắm vững kiến thức, vừa nắm vững phương pháp đi tới kiến thức đó để phát triển tư duy.

* Dạy học đặt và giải quyết vấn đề (Problem posing and solving instruction). Gần đây một số nhà sư phạm dùng thuật ngữ “dạy học đặt và giải quyết vấn đề” tức là coi trọng cả hai khâu tập dượt cho học sinh phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề gặp phải, đó là một năng lực cần có trong cuộc sống hiện đại [6]. * Dạy học theo vấn đề (Problem based instruction) Richard I. Arends dùng thuật ngữ “dạy học theo vấn đề (Problem based instruction) viết tắt là PBI, gần đây ông lại dùng thuật ngữ “Học theo vấn đề” (Problem based Learning) [21].

Tên khác của dạy học theo vấn đề là: “dạy học theo dự án” (Project based Learning); “học trong thực tế” (authentic learning) và “dạy học theo phương pháp móc nối” (anchored instruction). DHTVĐ khác với dạy học truyền đạt của GV - phương pháp mà ở đó giáo viên giữ vai trò là chính. Để thực hiện được dạy học theo vấn đề thì giáo viên phải đưa ra vấn đề, tạo ra tình huống có vấn đề và hệ thống câu hỏi kèm theo để tạo điều kiện thuận lợi cho HS trong việc nhận thức, qua trao đổi về vấn đề và qua định hướng của giáo viên bằng các câu hỏi. Điều quan trọng nhất giáo viên phải đưa ra được khung nội dung cần truyền đạt nhờ đó giúp học sinh tự nhận thức và phát triển qua tranh luận.

17 download by : skknchat@gmail.com DHTVĐ chỉ xảy ra khi GV tạo được không khí trao đổi trung thực, cởi mở trong lớp học. Trong một khía cạnh nào đó dạy học theo vấn đề gần giống với phương pháp dạy học bằng trao đổi (hỏi đáp). Chú ý rằng DHTVĐ đề tương tự với dạy học theo hội thoại mà học sinh tự tìm thấy kiến thức thông qua sự tìm tòi của học sinh chứ không phải là do GV truyền đạt. Bằng phương pháp này GV sẽ trình bày được các khía cạnh chi tiết cuả bài học.

Theo chúng tôi, các thuật ngữ “dạy học nêu vấn đề”, “dạy học giải quyết vấn đề”, “dạy học đặt và giải quyết vấn đề” hay “dạy học theo vấn đề”. là những cách gọi khác nhau của cùng một nội hàm với những cách tiếp cận khác nhau mang tính lịch sử. Mỗi cách tiếp cận nhấn mạnh vào một khâu nào đó của quá trình phát hiện vấn đề - giải quyết vấn đề - kết luận. Trong cuốn sách này chúng tôi thống nhất dùng thuật ngữ “dạy học theo vấn đề”.

DHTVĐ đề không chỉ thuộc phạm trù phương pháp dạy học, mà nó còn thuộc phạm trù nội dung và hình thức tổ chức dạy học. Riêng trong phạm vi phương pháp dạy học, nó có khả năng thâm nhập vào hầu hết các phương pháp dạy học khác và làm cho tính chất của chúng trở nên tích cực hơn. Các thuật ngữ “dạy học nêu vấn đề”; “dạy học giải quyết vấn đề”; “dạy học đặt và giải quyết vấn đề” và “dạy học theo vấn đề”. Những định nghĩa về “dạy học nêu vấn đề” là định nghĩa chung cho các khái niệm có cùng một nội hàm.Okon “Dạy học nêu vấn đề là tập hợp những hành động như tổ chức tình huống có vấn đề, phát biểu các vấn đề … giúp đỡ cần thiết cho học sinh trong việc giải quyết vấn đề, kiểm tra những phép giải đó và cuối cùng điều khiển quá trình hệ thống hoá và củng cố những kiến thức thu được” [15].

Định nghĩa này của V.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ