CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ BẢNG ĐIỂM CÂN BẰNG 1. Các nghiên cứu trên thế giới 1. Nghiên cứu hàn lâm [1] Nghiên cứu của Ing. ďubica Lesáková, Ing.
Katarína Dubcová (2016) Bài báo “Kiến thức và việc sử dụng phương pháp bảng điểm cân bằng trong các doanh nghiệp ở Slovak” (tên tiếng Anh là: Knowledge and Use of the Balanced Scorecard Method in the Businesses in the Slovak Republic) trình bày kết quả nghiên cứu với 284 doanh nghiệp ở Slovak, tập trung vào việc tìm hiểu kiến thức và cách sử dụng BSC của các doanh nghiệp. Sau khi nghiên cứu tác giả nhận thấy được sự quan tâm đến BSC của doanh nghiệp có các nhóm: nhóm doanh nghiệp xem xét việc thực hiện BSC trong thời gian tới; nhóm doanh nghiệp có kinh nghiệm với việc sử dụng BSC; nhóm doanh nghiệp biết phương pháp BSC nhưng không quan tâm thực hiện. Lý do của nhóm doanh nghiệp biết BSC mà không thực hiện là vì không quen với phương pháp, sử dụng công cụ quản lý chiến lược khác; quy mô và phạm vi hoạt động của doanh nghiệp (doanh nghiệp nhỏ). Bài viết đã cho thấy điều kiện tiên quyết để thực hiện BSC thành công là sự hỗ trợ đầy đủ và tham gia tích cực của nhà quản lý cấp cao.
Bên cạnh đó, các nhà quản lý cấp thấp hơn và các nhân viên trong doanh nghiệp cũng cần biết những thông tin cơ bản về phương pháp BSC. [2] Nghiên cứu của Daniela Vidal Flores, Rogerio Domenge Mun˜oz (2017) Bài viết “Mô hình rút ngắn sự điều hành (EFS) như một công cụ học tập trong kế hoạch nguồn lực của các công ty mới dựa trên bảng điểm cân bằng” (tên tiếng Anh là: Executive flight simulator as a learning tool in new companies’ resource planning based on the balanced scorecard) được viết bởi Daniela Vidal Flores, Rogerio Domenge Mun˜oz. Bài viết đã thể hiện nhà kinh doanh sử dụng EFS để tự đánh giá, rèn luyện bản thân về việc thiết kế và xác định chiến lược thuận lợi nhất cho doanh nghiệp mới. Bài viết đề xuất mô hình EFS gồm các quyết định liên quan đến sự phát triển các nguồn lực khác nhau theo các phương diện của bảng điểm cân bằng.
Mô hình EFS có thể cho phép nhà kinh doanh nhận thức được hoạch định quá 7 trình chiến lược, tìm kiếm để đạt được trong việc ra quyết định; xác định, phân tích các nguồn lực chính sẵn có và quan hệ nhân quả giữa mục tiêu chiến lược với chỉ tiêu hoạt động. Tác giả đã đưa ra sự phân tích này gắn với bốn phương diện của BSC vào các doanh nghiệp mới, dựa vào đó các nhà kinh doanh có thể biết và thảo luận với các bên liên quan khác nhau được dễ dàng và rõ ràng hơn. [3] Nghiên cứu của Agnieszka Tubis, Sylwia Werbińska-Wojciechowska (2017) Bài viết “Sử dụng bảng điểm cân bằng trong các công ty vận tải hành khách tại thị trường Ba Lan” (tên tiếng Anh là Balanced Scorecard use in Passenger Transport Companies Performing at Polish Market) được viết với mục đích chính là tác giả thảo luận các hướng dẫn cho việc xây dựng và thực hiện BSC, tác giả đã áp dụng mô hình BSC vào các công ty kinh doanh ngành vận tải hành khách ở Ba Lan.1: Mô hình đề nghị bảng điểm cân bằng của Agnieszka Tubis, Sylwia Werbińska-Wojciechowska: Phương diện Mục tiêu Phương diện khách hàng - Tăng thị trường thông qua việc giao tiếp với khách hàng thường xuyên và không thường xuyên giao tiếp. - Tăng sự hài lòng của hành khách thông qua các dịch vụ có chất lượng.
- Tăng lòng trung thành của khách hàng. - Nâng cao sự giao tiếp với khách. Phương diện quy trình nội - Cải tiến thêm quá trình chuẩn bị dịch vụ. bộ - Cải tiến chất lượng quá trình rà soát khiếu nại.
- Cải tiến chất lượng dịch vụ. Phương diện tài chính - Đa dạng hóa các hoạt động nhằm tăng doanh thu từ việc tăng hiệu suất công việc. 8 - Tăng mức độ sử dụng tài sản. - Tăng lợi nhuận của các dịch vụ trong phạm vi lịch trình của dịch vụ.
- Giảm chi phí liên quan đến vận hành và bảo dưỡng xe. - Tăng hiệu quả của các tài xế. Phương diện học hỏi và - Tăng kỹ năng cho nhân viên. phát triển - Thu hút nhân viên mới có chất lượng cao hoặc có kinh nghiệm.
- Cải thiện hệ thống công nghệ thông tin để hỗ trợ quản lý và hoạt động của hành khách. Nghiên cứu ứng dụng [1] Nghiên cứu của Sordoa et. Các công việc nghiên cứu được thực hiện trong bài viết này như sau: tổng kết các lý thuyết và mục tiêu của BSC; phân tích việc sử dụng BSC ở các trường đại học theo hướng nhiều khía cạnh; phát triển mô hình phù hợp với bối cảnh của trường đại học. Việc thực hiện BSC tại các trường đại học không tập trung vào đo lường kinh tế - tài chính truyền thống mà tập trung vào các khía cạnh đa chiều như mối quan hệ và trí tuệ, khả năng truyền đạt kiến thức.
Ngoài ra, còn có yếu tố quan trọng cơ bản trong các trường đại học là nó đòi hỏi nhiều kiến thức để cung cấp dịch vụ. Tác giả đã cho thấy BSC có thể sử dụng ở các trường đại học. BSC là một công cụ có thể cung cấp: một tầm nhìn chiến lược để hệ thống hóa các thông tin mà thủ trưởng các trường đại học, các cơ quan quản lý sẽ sử dụng, tạo ra một hướng dẫn và hệ thống báo cáo chiến lược cụ thể; thông tin ra bên ngoài về các mục tiêu chiến lược để đạt 9 được sự gia tăng cạnh tranh với các trường đại học khác. [2] Nghiên cứu của Yeter Aytül Dağlı Ekmekçi (2014) Bài viết “Thực hiện bảng điểm cân bằng: Mẫu nghiên cứu về Bộ thanh niên và thể thao của Thổ Nhĩ Kỳ” (tên tiếng Anh là: “Implementing of Balanced Scorecard: Sample of Turkish Republic Ministry of Youth and Sport”) của Ekmekçi vào năm 2014.
Bộ thanh niên và thể thao là một tổ chức phi lợi nhuận, tổ chức này không phải chịu áp lực cho mục tiêu thu nhập. Bài viết này nhằm mục đích đánh giá kế hoạch chiến lược của Bộ thanh niên và thể thao dựa trên mô hình đánh giá hiệu suất của bảng điểm cân bằng. Tác giả đã nghiên cứu các lĩnh vực như các dịch vụ thanh thiếu niên, dự án và hợp tác, giáo dục, văn hóa và nghiên cứu, các dịch vụ thể thao, các quan hệ nước ngoài, phát triển năng lực và tư vấn về thể chế. Tác giả đã đưa ra nhận định là các liên đoàn thể thao và các tổ chức thể thao phi lợi nhuận có thể tính toán áp dụng bảng điểm cân bằng để xác định hiệu suất được tốt hơn, các tổ chức có thể sử dụng kết quả nghiên cứu này cho kế hoạch chiến lược trong tương lai.
[3] Nghiên cứu của S. Patabendige (2015) Tác giả nghiên cứu bài viết “Bảng điểm cân bằng: biến kế hoạch công ty thành hành động. Một trường hợp tại đại học của Kelaniya, Sri Lanka” (tên tiếng Anh là “Balance Scorecard: Translating Corporate Plan into Action. A case study on university of Kelaniya, Sri Lanka”).
Trong bài viết này, tác giả đã nghiên cứu bản đồ chiến lược cho trường đại học của Kelaniya, Sri Lanka với chủ đề “Chất lượng và giáo dục linh hoạt”. Để đạt được mục tiêu chiến lược chất lượng và giáo dục linh hoạt từ quản lý nguồn lực cần liên kết các mục tiêu của phương diện cải tiến và học hỏi, phương diện quy trình nội bộ, các vị thế có giá trị và phương diện các bên liên quan. Về quản lý nguồn nhân lực có các mục tiêu: cải thiện việc sử dụng ngân sách; nhận thêm các khoản trợ cấp; tăng cường việc sử dụng tài sản; tối ưu hóa chi phí; tạo doanh thu từ các hoạt động. Phương diện phát triển và học hỏi gồm các mục tiêu: tăng động lực và phát triển nhân viên, cải thiện cơ sở hạ tầng.
Phương diện quy trình nội bộ gồm các mục tiêu: tuân thủ đảm bảo chất lượng; xây 10 dựng, cập nhật chương trình chuyên ngành đặc biệt và độc đáo; phát triển sinh viên dựa trên hệ thống học hỏi; cung cấp dịch vụ hỗ trợ sinh viên. Vị thế có giá trị bao gồm các mục tiêu: duy trì những tiêu chuẩn quốc tế trong việc dạy và học; nâng cao vị thế thị trường của sinh viên tốt nghiệp; tạo chất lượng giáo dục cao được công nhận; xây dựng hình ảnh sinh viên đại học thân thiện. Phương diện các bên liên quan gồm tăng cơ hội việc làm; cải thiện sự hài lòng của sinh viên và giảng viên; tạo lòng trung thành. [4] Nghiên cứu của Steve H.
Wang, Shu-Ping Chang, Paula Williams, Benjamin Koo, YanRui Qu (2015) “Sử dụng bảng điểm cân bằng cho trung tâm thiết kế sản xuất bền vững (SDM)” tên tiếng Anh là “Using Balanced Scorecard for Sustainable Design- centered Manufacturing”. Bài viết này đã đề xuất cách sử dụng bảng điểm cân bằng để đánh giá tính bền vững của quy trình sản xuất thiết kế. Những yếu tố tác giả chọn để phân tích bằng SEM là công bằng xã hội, việc quản trị, an toàn hoạt động, các tài sản về sức khỏe. Bài nghiên cứu cho thấy bảng điểm cân bằng là một hệ thống quản lý phù hợp rất tốt với quy trình SDM vì bảng điểm cân bằng và SDM sử dụng cách tiếp cận hệ thống để quản lý và xem xét các yếu tố tương tự nhau.
[5] Nghiên cứu của Fawaz Alharbi, Anthony Atkins, Clare Stanier, Homoud A. Al-Buti (2016) Bài viết “Giá trị chiến lược của điện toán đám mây trong các tổ chức chăm sóc sức khoẻ bằng phương pháp tiếp cận bảng điểm cân bằng: trường hợp nghiên cứu từ một bệnh viện Ả Rập” với tên tiếng Anh là “Strategic Value of Cloud Computing in Healthcare Organisations Using the Balanced Scorecard Approach: A Case Study from a Saudi Hospital”. Trong bài viết này tác giả đã trình bày việc triển khai BSC để có những giải pháp tốt hơn khi các tổ chức y tế sử dụng điện toán đám mây. Tác giả đã xây dựng BSC của khoa Y tế điện tử tại Bệnh viện chuyên khoa King Fahad và bản đồ chiến lược điện toán đám mây như là một công cụ cho chiến lược phù hợp với Bệnh viện Ả Rập.
Trong đó, BSC của khoa Y tế điện tử tại Bệnh viện chuyên khoa King Fahad và bản đồ chiến lược điện toán đám mây gồm 11 các phương diện: phương diện khách hàng, phương diện kinh doanh, phương diện quy trình nội bộ và phương diện khả năng tổ chức. Bài viết đã đóng vai trò như một bảng hướng dẫn chi tiết khi nói đến những đặc tính riêng biệt của từng tổ chức. Đặc biệt, bài viết này đã trình bày về việc triển khai BSC của một bộ phận trong tổ chức chứ không phải toàn bộ tổ chức như các nghiên cứu khác.