Chương 1: Tổng quan một số công trình trong và ngoài nước nghiên cứu về vấn đề ruộng đất và đặc biệt là nghiên cứu tại đồng bằng sông Cửu Long, từ đó rút ra các định hướng cho việc nghiên cứu van đề ruộng đất tại địa bàn được chọn thuộc tỉnh Long An; Chương 2: Trình bày các cơ sở lý luận và thực tiễn của nghiên cứu về vấn đề ruộng đất; Chương 3: Khái quát về thực trạng quan hệ ruộng đất ở 2 xã của tỉnh Long An có đối chiếu với các nguồn dữ liệu khác liên quan tới vùng đồng bằng sông Cửu Long; Chương 4: Phân tích sự phân hóa nông dân ở tại địa bàn nghiên cứu của tỉnh Long An; Phân kết luận: Tổng hợp kết quả nghiên cứu và đề nghị các kiến nghị về chính sách phát triển nông nghiệp nông thôn của tỉnh Long An và đồng bằng sông Cửu Long. CHUONG 1 TONG QUAN CAC NGHIEN CUU LIEN QUAN DEN DE TAI Trong luận án này chúng tôi sẽ tông quan một sô công trình nghiên cứu cả nước ngoài và trong nước có liên quan đên đê tài nghiên cứu. Đặc biệt, là kêt quả nghiên cứu một sô công trình được thực hiện tại đông băng sông Cửu Long. Tổng quan một số công trình nghiên cứu nước ngoài Trong mục này chúng tôi điểm luận một số công trình đã xuất bản của các tác giả nước ngoài về chế độ Tuộng đất ở Việt Nam và đặc biệt ở đồng bằng sông Cửu Long.
Ở Đông Dương vào thế kỷ XIX, đã có sự đối lập giữa các trung tâm dân cư truyền thống tiến hành các kỹ thuật thâm canh lúa nước với những vùng kém phát triển về mặt kỹ thuật. Ở những vùng trồng lúa gạo, quan hệ giữa địa chủ và tá điền không bao gồm lao địch và các hình thức kiểm soát cá nhân. Trong khi đó, tại các vùng biên giới, ruộng đất nhiều và hiễm nhân công, nông dân di trú quay lại dùng các kỹ thuật quảng canh khá thô sơ. Các hình thức chiếm hữu ruộng đất tại các vùng này khá giống với châu Âu Trung cô.
Mặc dù Scott đã mô tả chế độ này như một điển hình của sự phát triển các quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, đối lập với tình hình của Việt Nam. Có lẽ ở đây khái niệm "tư bản" không thích hợp với tình trạng người nông dân nghèo phải lao động trong các điền trang của chủ đất, những kẻ mà họ mắc nợ về lao động, có bốn phận trung thành về chính trị và cung cấp lao dịch. Trong chừng mực hiểu biết của chúng tôi thì có lẽ công trình Ory viết về xã thôn ở Bắc kỳ là một trong những trước tác sớm nhất liên quan tới chủ đề quan hệ ruộng đất. Tác giả này viết trong sách Xã 4n Nam ở Bắc kỳ đại ý rằng việc nhà nước cắm chuyền nhượng ruộng đất là một biện pháp quan trọng vì nó đảm bảo cho nông dân luôn có phân của mình trong việc phân chia ruộng đât 9 công.
Đối với tác giả Xã An Nam ở Bắc kỳ thì "chức năng" của sở hữu ruộng đất làng xã là nhằm củng cố việc đóng thuế và đảm bảo quyền được sống của những người nghèo và người tàn tật (Ory, 1894). Trong số các học giả nước ngoài viết về chế độ ruộng đất thì Gourou có một vị trí nổi bật, do chỗ công trình khảo cứu địa lý nhân văn về người nông dân châu thô Bắc kỳ là công trình đầu tiên khảo sát kỹ lưỡng về chế độ Tuộng đất. Một nhận xét quan trọng ở cuỗn sách đó là luận điểm cho rằng trong nước Việt Nam truyền thống, nền đại sở hữu không phát triển vì sự tổ chức kinh tế không thuận lợi cho nó, vì phong tục chống lại nó và vì nhà nước không có thiện cảm với nó. Chang hạn, một người nào đó sẽ thất vọng khi mua đất tại một làng không phải sinh quán của anh ta vì làng tô chức để ngăn chặn điều đó.
Làng xã không bao giờ muốn thành viên của nó bị lâm vào tình trạng "nông dân không đất". Chỉ trong trường hợp người muốn mua đất chấp nhận người bán đất trở thành tá điền và công xá phải cao hơn so với mức trả cho dân làng thì anh ta mới mong làm được điều đó. Hệ thống phát canh thu tô kiểu này hỗ trợ cho sự liên kết của làng bởi ít khi người ở bên ngoài có thế sở hữu hoặc canh tác trên đất đai của nó. Xét về nguôn tài nguyên quan trọng nhất thì làng cơ bản vẫn là một hệ thống khép kín (Gourou, 2003, dẫn lại Bùi Quang Dũng, 2007).
Những chuyên khảo về xã hội nông thôn và chế độ ruộng đất ở Nam bộ được biết tới với công trình của Gerald Hickey về xã Khánh Hậu (thuộc tỉnh Long An). Trong khảo cứu xã hội học của mình về xã này, tác giả đã trình bày về lịch sử và địa lý của vùng đất, các định chế tôn giáo và gia đình, thân tộc, đời sống kinh tế, bộ máy hành chính, các đặc trưng kinh tế - xã hội của xã Khánh Hậu Tình hình ruộng đất không được bàn luận kỹ lưỡng trong công trình nghiên cứu này, tuy nhiên, những thảo luận về xã hội nông thôn với các định chê và tô chức của nó cung câp những gợi ý sâu sắc 10 về nền tảng kinh tế của tô chức xã hội thôn ấp. Một công trình khảo cứu xã thôn đồng bằng sông Cửu Long từ góc độ kinh tế học do Robert Sansom tiễn hành sau đó ít lâu. Mẫu khảo sát của cuộc nghiên cứu này ở tại hai xã Long Bình Điền và Thân Cửu Nghĩa (thuộc tỉnh Định Tường, nay là Tiền Giang).
Cuốn sách của tác giả xuất bản sau đó (1970) nhan đề Kinh tế học về cuộc nổi dậy ở châu thổ sông Mê kong (1970) thảo luận xung quanh các vẫn đề về chế độ sở hữu ruộng đất, năng suất nông nghiệp, vốn và lao động; tác giả cũng bàn luận về những vấn đề lý thuyết của bộ môn kinh tế học phát triển như tình trạng thất nghiệp trá hình ở nông thôn, các quyết định đầu tư trong sản xuất nông nghiệp. Tác giả nêu ra những hàm ý xã hội và chính trị gắn liền với tình hình sở hữu đất đai ở Nam bộ; ông cho răng ruộng đất đóng một vai trò trò xã hội cũng như kinh tế quan trọng, ý nghĩa của nó đã được khắc sâu vào kết cẫu xã hội và kinh tế của vùng nông thôn châu thô sông Mê Kông, và mọi tính toán về chiến lược và sự thăng bại của cuộc chiến tranh phải nhìn chủ yếu từ góc độ này. Tiếp theo công trình của R. Samson xuất hiện một số công trình nghiên cứu về nông dân và ruộng đất ở Việt Nam, trong đó đặc biệt đáng chú ý là hai công trình của James Scott và Samuel Popkin.
Mặc dù đều là những nỗ lực lý thuyết nhằm lý giải những đặc trưng của các tầng lớp nông dân trong bối cảnh khởi nghĩa và cách mạng trong thế kỷ 20, và chỉ đề cập tới nông dân Việt Nam nói chung, nhưng cả hai công trình này đều có những nội dung liên quan tới tình hình ruộng đất và nông dân châu thổ sông Cửu Long. Trong công trình Nền kinh tế đạo lý của người nông dân (1976) James Scott cho rang van dé cét lõi của hộ gia đình nông dân là vẫn đề sinh tồn. Do tình trạng bắp bênh của sinh kế nông hộ cũng như sự bất trắc của thời tiết nên người nông dân đầm ra lúc nào cũng tìm cách tránh né rủi ro, tránh nguy cơ thất bát mùa màng. Chính nỗi lo âu thiếu ăn, hay nói rộng ra là “đạo đức sinh 11 ` tồn” A an?? chính là nhân tố giải thích những đặc trưng của xã hội nông dân như e ngại áp dụng tiễn bộ kỹ thuật, tâm lý gắn bó với đất đai bằng bắt cứ giá nào, cũng như những đặc trưng của những mối quan hệ với người khác và với các định chế xã hội.
Mục tiêu chủ yếu của người nông dân là an toàn, chứ không phải là nhắm đến tính toán tối đa hóa lợi nhuận (J. Scott, 1976, dẫn theo Trần Hữu Quang, 2015). Trong khuôn khổ của nền “kinh tế đạo lý”, đời sống của người nông dân và nông hộ gắn liền mật thiết với cộng đồng làng xã và các định chế của cộng đồng này nhằm bảo đảm được cho mình mức thu nhập an toàn tối thiểu thông qua những lối “sắp xếp xã hội” kiểu như các ứng xử hỗ tương, công điền, hay vần đổi công. Nếu thứ đạo lý này tỏ ra mạnh mẽ ở Bắc kỳ hay Trung kỳ, thi lại khá yêu ớt ở những vùng đất mới mở.
Khi nói tới nền “kinh tế đạo lý”, James Scott hàm ý nói tới ý niệm về “sự công bằng kinh tế” của người nông dân (J. Scott, 1976, dẫn lại Trần Hữu Quang, 2015). Công trình của tác giả Samuel Popkin có nhan đề là Người nông dân đuy iý (1979). Nêu lý thuyết kinh tế đạo lý cho rằng cộng đồng làng xã là người chịu trách nhiệm chủ yếu trong việc bảo đảm đời sống và phúc lợi của cư đân của mình, thì lý thuyết kinh tế chính trị cho rằng người nông dân là người có lỗi suy nghĩ và lối ứng xử theo hướng duy lý, và đặc trưng sinh hoạt làng xã thực ra là kết quả của những sự tương tác giữa những nông dân biết mưu lợi (S.
Popkin, 1979 dẫn lại Bùi Quang Dũng, 2001). Một học giả khác, P. Brocheux, khi bình luận về hai hướng phân tích nói trên, đã nhận xét rằng thực ra cả hai tác giả không phải lúc nảo cũng bàn về một chuyện hay về cùng một giai đoạn, rằng họ đều bỏ quên mối quan hệ hỗ tương giữa làng xã với xã hội bên ngoài và các định chế. Nhà nghiên cứu Trần Hữu Quang, khi thảo luận về hai công trình này, đã nhận xét rằng ông 12 tán đồng quan điểm của Brocheux và do đó, trong công trình bàn về tâm thức ruộng đất, ông trích dẫn cả hai tác giả Scott và Popkin ở những điểm có liên quan mà không có nghĩa là theo quan điểm của bất kỳ ai trong đó (Trần Hữu Quang, 2015).
Càng ngày vẫn đề ruộng đất nổi lên, đặc biệt ở đồng bằng sông Cửu Long do những biến đổi trong kinh tế nông dân và do những tác động chính sách. Thật thế, những thay đổi trong chính sách đất đai của Việt Nam góp phân đáng kể trong việc tăng nhanh sản lượng nông nghiệp và phát triển khu vực nông thôn nói chung và của đồng bằng sông Cửu Long nói riêng (ví dụ Pingali và Xuân 1992; Akram-Lodhi 2004; Ravallion và van de Walle 2001, 2003, 2006, 2008a, b).