Văn Chính Luận Trung Đại Việt Nam và Trung Quốc – Tiếp Biến và Phát Triển

Tài liệu nghiên cứu Đề tài nghiên cứu khoa học văn chính luận trung đại việt nam và trung quốc tiếp biến và phát triển1, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Trường đại học

Trường Đại Học An Giang

Chuyên ngành

Sư Phạm

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học

2014

140
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

1. CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU

1.1. Tính cần thiết của đề tài

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.3. Đối tượng nghiên cứu

1.4. Nội dung nghiên cứu

1.5. Tổng quan vấn đề nghiên cứu

1.6. Phương pháp nghiên cứu

2. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VĂN CHÍNH LUẬN TRUNG ĐẠI VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC

2.1. Văn chính luận trung đại Việt Nam và Trung Quốc trên bình diện văn hóa xã hội

2.1.1. Thời trung đại Trung Quốc và Việt Nam đều lấy Nho giáo làm chỉ nam xây dựng đời sống tinh thần, thiết chế xã hội, nền nếp gia phong

2.1.2. Nội chiến và chiến tranh chống ngoại xâm, văn chính luận thể hiện tính ưu việt trong truyền bá tư tưởng, tập hợp lực lượng, công kích đối phương

2.1.3. Chiến tranh kết thúc, văn chính luận tiếp tục sứ mệnh lịch sử đối ngoại và đối nội

2.2. Văn chính luận trung đại Việt Nam và Trung Quốc trên bình diện lí thuyết lịch sử

2.2.1. Khái niệm về văn chính luận

2.2.2. Nguồn gốc, sự phát triển của văn chính luận

2.2.3. Văn chính luận trung đại Việt Nam qua các thời kì

2.2.3.1. Văn chính luận trung đại Việt Nam trước thời khởi nghĩa Lam Sơn
2.2.3.2. Văn chính luận trung đại Việt Nam thời khởi nghĩa Lam Sơn
2.2.3.3. Văn chính luận trung đại Việt Nam thời khởi nghĩa Tây Sơn
2.2.3.4. Văn chính luận trung đại Việt Nam thời thuộc Pháp

3. VĂN CHÍNH LUẬN TRUNG ĐẠI VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC TIẾP BIẾN VÀ PHÁT TRIỂN Ở PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG TƯ TƯỞNG

3.1. Khẳng định tổ quốc dân tộc

3.2. Khẳng định văn hiến, đề cao nhân nghĩa

3.3. Khẳng định trí dũng, đề cao nhân dân

3.4. Luận bàn về phương cách nhằm phát triển kinh tế, tăng cường sức mạnh quân sự chiến thắng quân thù

4. VĂN CHÍNH LUẬN TRUNG ĐẠI VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC TIẾP BIẾN VÀ PHÁT TRIỂN Ở PHƯƠNG DIỆN NGÔN NGỮ, THỂ LOẠI

4.1. Tiếp nhận Hán ngữ, phát triển ngôn ngữ dân tộc

4.2. Văn chính luận trung đại Việt Nam tiếp biến một số thể loại văn học trung đại Trung Quốc

4.2.1. Thể loại chiếu, cáo

4.2.2. Thể loại hịch

4.2.3. Thể loại biểu

4.3. Thư, luận, thuyết thành tựu độc đáo của văn chính luận Việt Nam

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Bài 1. Nam quốc sơn hà, Lí Thường Kiệt

Bài 2. Phạt Tống lộ bố văn, Lí Thường Kiệt

Bài 3. Hịch Tướng sĩ, Trần Quốc Tuấn

Bài 4. Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi

Bài 5. Luân đài tội kỉ chiếu, Hán Vũ Đế

Bài 6. Lưu Hầu Luận, Tô Thức

Bài 7. Quá Tần luận, Giả Nghị

Bài 8. Cầu hiền chiếu, Hán Cao Đế

Tóm tắt

I. Tổng Quan Văn Chính Luận Khái Niệm Đặc Điểm Ý Nghĩa

Văn chính luận trung đại Việt Nam là một bộ phận quan trọng của văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX, góp phần vào công cuộc dựng nước, giữ nước, thể hiện tư tưởng của người Việt. Văn chính luận là thể loại văn học, thể tài báo chí, thường đề cập các vấn đề thời sự về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, tư tưởng. Mục tiêu của văn chính luận là tác động đến dư luận xã hội, lối sống, quyền lợi chính trị, đề xuất thay đổi để phù hợp với quyền lợi giai cấp hoặc lý tưởng xã hội. Đối tượng của văn chính luận là toàn bộ cuộc sống quá khứ và hiện tại, cuộc sống cá nhân, đời sống thực và đời sống được phản ánh trong báo chí, nghệ thuật. Phong cách văn chính luận nổi bật ở tính luận chiến, tính cảm xúc, gần gũi với giọng điệu, kết cấu, chức năng của lời diễn thuyết. Lịch sử văn chính luận Việt Nam có nhiều tên tuổi lớn như Nguyễn Trãi, Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Trường Tộ, Lý Thái Tổ, Lý Thường Kiệt, Phan Châu Trinh, Hồ Chí Minh.

1.1. Định Nghĩa và Vai Trò của Văn Chính Luận Trung Đại

Văn chính luận trung đại là những tác phẩm văn chương bàn về các vấn đề chính trị, xã hội quan trọng của thời đại. Nó đóng vai trò như một công cụ để truyền bá tư tưởng, kêu gọi hành động, bảo vệ quyền lợi của quốc gia, dân tộc hoặc một giai cấp nhất định. Vai trò của nó còn thể hiện rõ nét trong đấu tranh chống ngoại xâm và bảo vệ chủ quyền. Văn chính luận không chỉ phản ánh hiện thực xã hội mà còn định hướng dư luận và thúc đẩy những thay đổi tích cực trong xã hội. Các tác phẩm tiêu biểu thường mang tính thời sự cao, đồng thời thể hiện tầm nhìn chiến lược của tác giả.

1.2. Phân Loại và Đặc Điểm Nổi Bật Của Văn Chính Luận

Văn chính luận có thể được phân loại dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau như nội dung, hình thức, mục đích sử dụng. Về nội dung, có thể phân thành các loại: văn nghị luận chính trị, văn nghị luận xã hội, văn nghị luận quân sự. Về hình thức, có thể phân thành chiếu, cáo, hịch, biểu, thư, luận, thuyết... Đặc điểm nổi bật của văn chính luận là tính luận chiến sắc bén, tính cảm xúc mạnh mẽ, tính thuyết phục cao. Ngôn ngữ sử dụng thường trang trọng, súc tích, giàu hình ảnh và biểu cảm. Ngoài ra, các tác phẩm thường thể hiện tư tưởng yêu nước, lòng tự hào dân tộc, tinh thần đấu tranh bất khuất.

II. Nguồn Gốc Bối Cảnh Lịch Sử Ảnh Hưởng Văn Chính Luận

Nguồn gốc của văn chính luận trung đại Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu sắc từ văn chính luận Trung Quốc. Nho giáo đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành tư tưởng, thiết chế xã hội, nền nếp gia phong. Nội chiến và chiến tranh chống ngoại xâm thúc đẩy văn chính luận thể hiện tính ưu việt trong truyền bá tư tưởng, tập hợp lực lượng, công kích đối phương. Khi chiến tranh kết thúc, văn chính luận tiếp tục sứ mệnh lịch sử đối ngoại và đối nội. Lịch sử văn chính luận Việt Nam trải qua nhiều thời kỳ, từ trước khởi nghĩa Lam Sơn, thời khởi nghĩa Lam Sơn, thời khởi nghĩa Tây Sơn, đến thời thuộc Pháp.

2.1. Ảnh Hưởng của Nho Giáo và Bối Cảnh Chiến Tranh đến Văn Chính Luận

Nho giáo đã trở thành hệ tư tưởng chủ đạo trong xã hội trung đại Việt Nam, ảnh hưởng sâu sắc đến văn chính luận. Các nhà văn, nhà chính trị thường sử dụng các giá trị Nho giáo như nhân, nghĩa, lễ, trí, tín để đánh giá các vấn đề xã hội và đưa ra các giải pháp. Bên cạnh đó, bối cảnh chiến tranh liên miên, đặc biệt là các cuộc chiến tranh chống ngoại xâm, đã tạo ra nhu cầu lớn về văn chính luận để cổ vũ tinh thần chiến đấu, đoàn kết dân tộc. Những áng văn hịch tướng sĩ, cáo bình Ngô đã trở thành những biểu tượng của văn chính luận Việt Nam.

2.2. Giai Đoạn Phát Triển Văn Chính Luận Việt Nam Qua Các Triều Đại

Văn chính luận Việt Nam trải qua nhiều giai đoạn phát triển, gắn liền với sự biến đổi của lịch sử dân tộc. Giai đoạn trước khởi nghĩa Lam Sơn, văn chính luận chủ yếu tập trung vào việc khẳng định chủ quyền và ý chí độc lập của dân tộc. Giai đoạn khởi nghĩa Lam Sơn, văn chính luận đóng vai trò quan trọng trong việc tuyên truyền, kêu gọi nhân dân tham gia cuộc kháng chiến. Giai đoạn Tây Sơn, văn chính luận mang tính chiến đấu cao, thể hiện tinh thần đổi mới và khát vọng thống nhất đất nước. Giai đoạn thuộc Pháp, văn chính luận trở thành vũ khí sắc bén để đấu tranh chống lại ách đô hộ của thực dân.

III. Tiếp Biến và Phát Triển Nội Dung Tư Tưởng trong Văn Chính Luận

Văn chính luận trung đại Việt Nam tiếp biến và phát triển nội dung tư tưởng từ văn chính luận Trung Quốc. Khẳng định tổ quốc dân tộc là một nội dung quan trọng. Văn chính luận khẳng định văn hiến, đề cao nhân nghĩa. Văn chính luận khẳng định trí dũng, đề cao nhân dân. Các tác phẩm luận bàn về phương cách nhằm phát triển kinh tế, tăng cường sức mạnh quân sự chiến thắng quân thù. Tư tưởng yêu nước trong văn chính luận trung đại Việt Nam thể hiện nhận thức, quyết tâm bảo vệ chủ quyền độc lập của tổ quốc và tự do dân tộc.

3.1. Yêu Nước và Tinh Thần Dân Tộc trong Văn Chính Luận Việt Nam

Văn chính luận trung đại Việt Nam thể hiện rõ tinh thần yêu nước và ý thức dân tộc sâu sắc. Các tác phẩm thường ca ngợi vẻ đẹp của đất nước, con người Việt Nam, đồng thời lên án những hành động xâm lược và áp bức của ngoại bang. Tinh thần yêu nước được thể hiện qua những lời kêu gọi đoàn kết dân tộc, bảo vệ chủ quyền, và xây dựng đất nước phồn vinh. Các tác phẩm như Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn, Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi là những minh chứng tiêu biểu cho tinh thần yêu nước trong văn chính luận.

3.2. Tư Tưởng Nhân Nghĩa và Vai Trò của Nhân Dân trong Văn Chính Luận

Tư tưởng nhân nghĩa đóng vai trò quan trọng trong văn chính luận trung đại Việt Nam. Các nhà văn, nhà chính trị thường đề cao đạo đức nhân nghĩa, coi trọng con người và quyền lợi của nhân dân. Tư tưởng này được thể hiện qua những lời khuyên răn về việc trị nước an dân, xây dựng một xã hội công bằng và bác ái. Vai trò của nhân dân cũng được đề cao trong văn chính luận, thể hiện qua việc ca ngợi sức mạnh của nhân dân, khuyến khích sự tham gia của nhân dân vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước.

IV. Ngôn Ngữ và Thể Loại Tiếp Biến và Phát Triển trong Văn Chính Luận

Văn chính luận trung đại Việt Nam tiếp nhận Hán ngữ, phát triển ngôn ngữ dân tộc. Văn chính luận trung đại Việt Nam tiếp biến một số thể loại văn học trung đại Trung Quốc như chiếu, cáo, hịch, biểu. Thư, luận, thuyết là những thành tựu độc đáo của văn chính luận Việt Nam. Văn chính luận trung đại Việt Nam chủ yếu sử dụng ngôn ngữ chữ Hán để truyền đạt tư tưởng, bày tỏ lập trường và tranh biện nhằm khẳng định và thực thi chân lí.

4.1. Sử Dụng Hán Ngữ và Phát Triển Ngôn Ngữ Dân Tộc trong Văn Chính Luận

Chữ Hán được sử dụng rộng rãi trong văn chính luận trung đại Việt Nam, đặc biệt là trong các văn bản chính thức và các tác phẩm có tính học thuật cao. Tuy nhiên, các nhà văn, nhà chính trị Việt Nam cũng đã có những nỗ lực đáng kể trong việc phát triển ngôn ngữ dân tộc, sử dụng chữ Nôm để viết các tác phẩm có tính đại chúng và gần gũi với nhân dân. Sự kết hợp giữa Hán ngữ và ngôn ngữ dân tộc đã tạo ra một phong cách độc đáo cho văn chính luận Việt Nam, vừa trang trọng, uyên bác, vừa gần gũi, dễ hiểu.

4.2. Tiếp Thu Thể Loại và Sáng Tạo Thể Loại trong Văn Chính Luận

Văn chính luận trung đại Việt Nam tiếp thu nhiều thể loại từ văn chính luận Trung Quốc, như chiếu, cáo, hịch, biểu. Tuy nhiên, các nhà văn, nhà chính trị Việt Nam cũng đã có những sáng tạo riêng, tạo ra những thể loại độc đáo, phù hợp với đặc điểm văn hóa và lịch sử của dân tộc. Ví dụ, thể hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn mang đậm tinh thần yêu nước và ý chí quyết chiến của quân dân Đại Việt. Thể cáo bình Ngô của Nguyễn Trãi là bản tuyên ngôn độc lập hùng hồn, khẳng định chủ quyền của dân tộc.

V. Ứng Dụng và Giá Trị Thực Tiễn Văn Chính Luận Trong Giáo Dục

Giá trị của Văn chính luận trung đại Việt Nam không chỉ nằm ở những bài học lịch sử mà còn ở những bài học về tư tưởng, đạo đức và tinh thần yêu nước. Việc nghiên cứu và giảng dạy Văn chính luận giúp thế hệ trẻ hiểu rõ hơn về truyền thống văn hóa của dân tộc, bồi dưỡng lòng tự hào dân tộc và ý thức trách nhiệm với đất nước. Các tác phẩm Văn chính luận cũng cung cấp những bài học quý giá về nghệ thuật viết văn nghị luận, giúp học sinh rèn luyện khả năng tư duy logic, lập luận sắc bén và diễn đạt mạch lạc.

5.1. Văn Chính Luận trong Giáo Dục Lịch Sử và Bồi Dưỡng Tinh Thần Yêu Nước

Việc đưa các tác phẩm Văn chính luận vào chương trình giáo dục lịch sử giúp học sinh hiểu sâu sắc hơn về các sự kiện lịch sử quan trọng, đặc biệt là các cuộc chiến tranh chống ngoại xâm. Những áng văn như Hịch tướng sĩ, Bình Ngô đại cáo không chỉ tái hiện lại bối cảnh lịch sử mà còn truyền tải những giá trị tinh thần cao đẹp, khơi dậy lòng yêu nước và ý chí bảo vệ Tổ quốc. Ngoài ra, việc phân tích các tác phẩm Văn chính luận cũng giúp học sinh rèn luyện khả năng đánh giá, phân tích và tổng hợp thông tin, phát triển tư duy phản biện và sáng tạo.

5.2. Phát Triển Kỹ Năng Viết Văn Nghị Luận Qua Nghiên Cứu Văn Chính Luận

Các tác phẩm Văn chính luận là những mẫu mực về nghệ thuật viết văn nghị luận. Việc nghiên cứu và phân tích cấu trúc, lập luận và ngôn ngữ của các tác phẩm này giúp học sinh nắm vững các nguyên tắc cơ bản của văn nghị luận, từ đó nâng cao kỹ năng viết văn của mình. Học sinh có thể học hỏi cách xây dựng luận điểm, sử dụng dẫn chứng và lý lẽ để thuyết phục người đọc. Ngoài ra, việc nghiên cứu Văn chính luận cũng giúp học sinh làm giàu vốn từ vựng và hiểu rõ hơn về các phép tu từ, từ đó tạo ra những bài văn nghị luận sắc sảo và giàu cảm xúc.

VI. Hướng Nghiên Cứu Tương Lai Văn Chính Luận Đa Chiều và Liên Ngành

Nghiên cứu văn chính luận trung đại Việt Nam cần tiếp tục đi sâu vào phân tích các khía cạnh văn hóa, xã hội và lịch sử để hiểu rõ hơn về vai trò và ý nghĩa của nó trong quá trình phát triển của dân tộc. Đồng thời, cần mở rộng phạm vi nghiên cứu, so sánh văn chính luận Việt Nam với văn chính luận của các nước khác trong khu vực và trên thế giới để tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt, từ đó làm nổi bật những giá trị độc đáo của văn chính luận Việt Nam.

6.1. Nghiên Cứu Đa Chiều về Tư Tưởng và Giá Trị trong Văn Chính Luận

Các nghiên cứu trong tương lai cần tập trung vào việc phân tích sâu sắc hơn về các tư tưởng và giá trị được thể hiện trong văn chính luận. Cần tìm hiểu rõ hơn về mối quan hệ giữa văn chính luận và các hệ tư tưởng khác nhau như Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo. Đồng thời, cần đánh giá một cách khách quan và toàn diện về những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của văn chính luận đến sự phát triển của xã hội Việt Nam.

6.2. Tiếp Cận Liên Ngành để Hiểu Rõ Hơn về Bối Cảnh và Ảnh Hưởng

Để hiểu rõ hơn về bối cảnh và ảnh hưởng của văn chính luận, cần tiếp cận theo hướng liên ngành, kết hợp giữa văn học, lịch sử, triết học, ngôn ngữ học và các ngành khoa học xã hội khác. Việc này giúp các nhà nghiên cứu có cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn về văn chính luận, từ đó đưa ra những đánh giá chính xác và khách quan hơn. Ngoài ra, việc hợp tác giữa các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước cũng là một yếu tố quan trọng để thúc đẩy sự phát triển của ngành nghiên cứu văn chính luận.

24/05/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề: Tại sao Vệ Linh Công vô đạo mà nước còn? Ông trả lời: Tại Linh Công biết giao cho quan đại thần cai trị. Cụ thể Trọng Thúc Ngữ giữ ngoại giao. Chúc Đà giữ nội vụ. Vương Tôn Giả giữ bộ binh…vì thế mà nước còn.

Đó là tư tưởng quan cai trị, vua kiểm soát. Tính chất quan trọng trong việc bảo tồn, chấn hưng dân nước đặt nơi quan không đặt nơi vua. Do vậy, quan phải trung với đạo chứ không phải trung với cá nhân vua. Sách Luận ngữ ghi rõ: “Dĩ đạo sự quân, bất khả tắc chỉ” (以道 事 君, 不 可 則止 , L.

Chủ trương này của Khổng được Mạnh Tử thể hiện mạnh mẽ trong nhận định: “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”. Hoặc Tuân Tử cũng thẳng thắn: “Tru bạo quốc chi quân nhược tru độc phu” (giết ông vua tàn bạo một nước cũng giống như giết một kẻ độc phu). Về nguyên tắc Giáo chi: Khổng Tử có quan điểm mới mẻ, tiến bộ về giáo dục. Ông khẳng định mọi người phải được học tập.

Đối với xã hội phong kiến đương thời, quan điểm này tạo một dư chấn mạnh nhằm xóa bỏ thực tế bất công, phi lí: giai cấp quyền quý độc quyền trong học tập. Câu nói xuất sắc thể hiện quan điểm độc đáo của Khổng Tử về giáo dục: “Hữu giáo vô loài” (有教 無 類, LN, XV. Câu nói khẳng định trong việc giáo hóa không phân biệt giai cấp sang quý hoặc hèn hạ. Nhận thức và đề xuất của Khổng Tử không chỉ đáng ghi nhận, biểu dương ở Trung Quốc đương thời mà đặt nó trong bối cảnh thế giới vẫn không thể không ngợi ca sự tiến bộ vượt bậc về tính cấp thiết toàn dân phải được học tập.

Ở phương Tây cũng phải tới năm 1850, giáo dục mới mở cửa cho toàn dân. Trái với tư tưởng của Khổng Tử, Lão Tử lại cho rằng dân không cần học, vì dân khó cai trị là do nó học biết “dân chi nan trị, dĩ kì trí dã”. (Đạo Đức Kinh, chương 65, nguyên văn: 古之善爲道者, 非以明民, 將以愚之. 民之難治, 以其智多.

故以智治國, 國之賊, 不以智治國, 國之福. 知此兩者, 亦稽式. 常知稽式, 是謂玄徳. 玄徳深矣, 遠矣, 與物反矣! 然後乃至大順.

(Cổ chi thiện vi Đạo giả, phi dĩ minh dân, tương dĩ ngu chi. Dân chi nan trị dĩ kì trí đa. Cố dĩ trí trị quốc, quốc chi tặc; bât dĩ trí trị quốc, quốc chi phúc. Trì thử lưỡng giả diệc kê thức.

Thường tri kê thức thị vị huyền đức. Huyền đức thâm hĩ, viễn hĩ; dữ vật phản hĩ, nhiên hậu nãi chí đại thuận). Về nguyên tắc Phú chi: Khổng Tử quan niệm chính quyền phải chăm lo cho dân. Dân cần phải giàu lên: “Bá tánh bất túc quân thục dữ túc” (百姓 不 足 , 君 孰 與 足 (L.

Bá tánh không đủ ăn thì vua đủ ăn với ai? Mạnh Tử luôn đau đáu nỗi lo làm sao cho dân giàu? Tuy nhiên, điểm này Pháp gia có quan niệm trái ngược. Họ chủ trương làm cho chúa giàu và dân yếu để dễ bề cai trị. Về nguyên tắc Lễ trị: 10 Khổng Tử đặt lễ ở góc độ đạo đức trong chủ trương coi trọng con người và không phân biệt quý tiện. Giữ lễ là thể hiện đức của người quân tử: “Quân tử vô chúng quả, vô tiểu đại” (君子 無 眾 寡, 無 小 大, Người quân tử không phân biệt ít hay đông, lớn hay nhỏ, ở đâu cũng phải cư xử cung kính, trung tín.

Một cách tổng quát, cách xử sự của người quân tử phải tuân thủ: "Cư xử cung, chấp sự kính. Dữ nhân trung. Tuy chi Di Địch, bất khả khí dã, 居處 恭, 執事 敬, 與人 忠, 雖之 夷 狄, 不 可 棄也 " (L. Người quân tử cư xử phải tự trọng, khi thi hành việc (với người khác) phải kính tôn.

Đối với tha nhân phải trung tín. Dầu có sang miền Di, Địch (mường rợ) cũng không thể bỏ được những nguyên tắc đó. (Không được phân biệt Kinh với Thượng trong lối cư xử. Ở đâu cũng là người cả).

Về nguyên tắc chữ Tín: Trong sách Luận ngữ, Tử Cống hỏi Khổng Tử về việc chính trị nên như thế nào? Khổng Tử dạy: “Túc thực, túc binh, dân tín chi hỹ” (đủ ăn, đủ binh, dân tin mình vậy). Nhược bằng trong ba điều ấy, bất đắc dĩ phải bỏ một điều, nên bỏ điều nào?- Bỏ việc binh. Còn hai điều nữa mà bất đắc dĩ phải bỏ đi một điều nữa thì nên bỏ điều nào trước?- Bỏ ăn. Vì bỏ ăn thì chết, nhưng xưa nay người ta vẫn chết, chứ dân mà không tin thì không sao đứng được” (Nguyễn Khắc Viện, 2000, tr.

Theo Khổng Tử, lễ trị là lối cai trị coi trọng người dân, vì dân là người cộng tác với chính quyền. Con người cộng tác với nhau chữ tín phải được tôn trọng, đề cao. Người trên càng phải ý thức và tuyệt đối giữ chữ tín để có được sự cộng tác nhiệt tình của mọi người: “Thượng háo Tín tắc dân mạc cảm bất dụng tình” (上好 信 則 民 莫 敢 不 用 情, L. Nhìn tổng quát vấn đề và như đã nói, đạo Nho vào Việt Nam đã có những biến đổi thành một “Nho giáo Việt Nam”.

Giáo sư Trần Nghĩa đã có bài phân tích kĩ về “Quá trình hội nhập Nho – Phật – Lão hay sự hình thành tư tưởng Tam giáo Đồng nguyên ở Việt Nam”. (Trần Nghĩa: http://www. Bài viết đánh giá tổng quát tư tưởng Nho, Phật Lão hội nhập Việt Nam trong 20 thế kỉ (TK I đến hết TK XIX). Quá trình đó điễn ra như sau: Nho giáo truyền vào Việt Nam từ đầu thế kỷ I.

Đến thế kỷ II, ngoài Nho giáo, Việt Nam còn có Phật giáo. Sang thế kỷ III, Lão giáo cũng đến Việt Nam. Tuy nhiên, ba thế kỷ đầu, sự hội nhập của Nho, Phật, Lão vào Việt Nam nhưng ở thế “tam giáo đỉnh lập” (Nho, Phật, Lão tồn tại ở cái thế chân vạc; tồn tại độc lập, phân lập và có công kích nhau nhằm khẳng định tôn giáo của mình). Đến thời nhà Đinh (bắt đầu từ năm 968 sau khi Đinh Tiên Hoàng dẹp yên loạn 12 sứ quân) đã có vụ án phạm nhân bị kết tội “không trung hiếu thờ cha và trưởng huynh, lại có ác tâm.

Như vậy, phạm nhân bị kết tội và hành hình dựa trên lập trường của Nho và Phật. Đến triều Tiền Lê, nhà sư Pháp Thuận (915-990) trả lời vua Lê Đại Hành về phương cách giữ ngôi báu bằng bài kệ Quốc Tộ. Nội dung bài kệ nhấn mạnh: muốn xây dựng cuộc thái bình thì người người ở chốn cung điện phải giữ thái độ vô vi, tức “vô vi nhi vô bất vi” (không làm gì mà không gì không làm – tức là làm tất cả trừ những việc trái đạo). Như vậy, từ đời Đinh, Tiền Lê đã có những dấu chỉ cho thấy Nho, Phật, Lão đã có sự dung hợp.

Có nhiều cách người ta diễn tả thực tại này: Tam giáo dung hợp, tam giáo hỗn dung, tam giáo nhất gia… Sang đời Lý, đời Trần, đời Lê sơ…tùy thuộc tình hình xã hội và nhận thức của giai cấp thống trị mà vị thế của tôn giáo được đề cao. Đời Lý tư tưởng của Phật Giáo, Lão giáo đặc biệt được chú 11 trọng. Chẳng hạn thuyết “chân như diệu tính” được quan niệm như là bản thể của vũ trụ. Hoặc từ đời Lê Sơ, do nhu cầu xây dựng một nhà nước phong kiến trung ương tập quyền, Nho giáo được triều đình trọng dụng.

Nhưng Nho giáo Việt Nam ở thời điểm này có đặc điểm của Tống Nho. Nếu như đời Hán (Hán Nho), Sách Đại học và Trung dung được gộp vào Lễ ký, Hán Vũ Đế đưa Nho giáo lên hàng quốc giáo và Nho giáo trở thành hệ tư tưởng chính thống bảo vệ chế độ phong kiến Trung Hoa trong suốt hai ngàn năm thì đến đời Tống, Đại học và Trung dung được tách ra khỏi Lễ ký và cùng với Luận ngữ và Mạnh Tử tạo thành Tứ thư. Tứ thư và Ngũ kinh là sách gối đầu giường của nhà nho. Thời Tống nho có những tên tuổi lớn như: Chu Hy, Trình Hạo, Trình Di.

Phương Tây gọi Tống Nho là Tân Khổng giáo. Điểm khác biệt của Tống Nho với Nho giáo trước đó là việc bổ sung các yếu tố “tâm linh” (lấy từ Phật giáo) và các yếu tố “siêu hình” (lấy từ Đạo giáo) phục vụ cho việc đào tạo quan lại cai trị. Nhận xét tổng quát về ảnh hưởng của Nho giáo đối với đời sống tư tưởng con người Việt Nam, có thể thấy: Nỗ lực tìm hiểu, nghiên cứu Nho giáo Trung Hoa, nho sĩ Việt Nam hiểu sâu sắc triết lý về vũ trụ thể hiện trong hình nhi thượng và triết lý về nhân sinh thể hiện trong hình nhi hạ, từ đó có thể vận dụng những tinh túy của nho giáo vào chính sự cũng như trong sinh hoạt cuộc sống thường ngày trong gia đình và ngoài xã hội. Nho giáo Trung Quốc giao thoa với văn hóa Việt Nam – nền văn hóa trọng nghĩa tình đã biến Nho giáo Trung Hoa vốn đặt chữ Trung làm tâm điểm thành Nho giáo Việt Nam coi chữ Nghĩa là cứu cánh.

Tư tưởng Nho giáo Việt Nam chủ yếu là Tống nho, sắc màu đã có sự dung hợp giữa Nho - Phật - Đạo giáo; đồng thời Tống nho lại chịu ảnh hưởng bởi đời sống văn hóa Việt Nam nhất là lòng ân tình nhân nghĩa sâu nặng của con người Việt Nam. Vì vậy, nghiên cứu văn chính luận trung đại Việt Nam dễ dàng nhận thấy các nhà ngoại giao như Nguyễn Trãi, Ngô Thì Nhậm đã vận dụng Nho giáo để chống xâm lược. Song đồng thời cũng phải khẳng định phần đóng góp, sáng tạo lớn lao của các nhà nho- nhà ngoại giao đã có ý nghĩa sâu sắc trong đời sống tư tưởng của nho sĩ Việt Nam.2 Nội chiến và chiến tranh chống ngoại xâm, văn chính luận thể hiện tính ƣu việt trong truyền bá tƣ tƣởng, tập hợp quần chúng, công kích đối phƣơng Đối với Trung Quốc, trong văn chương có truyền thống quan niệm văn bắt nguồn từ tồn tại khách quan. Đó chính là “Nguyên đạo”.

Bàn về “Nguyên đạo”, nên bắt đầu từ Khổng Tử. Trong Luận ngữ, ta thấy Khổng Tử đề cập nhiều lần về Đạo, nhưng với lối giải thích hơi khác. Đạo không huyền bí. Đó là con Đường mà con người cần tuân theo, chính đạo đem đến hạnh phúc cho nhân loại.

Nếu Lễ là những qui định đạo đức và nghi lễ, thì Đạo bao gồm cả những qui tắc về đạo đức của từng cá nhân và khuôn mẫu chính trị, những khuôn mẫu này sẽ tạo được phúc lợi cũng như sự tự hiện thực hoá bản thân cho từng cá nhân. Khổng Tử nói “Sáng mà nghe Đạo, chiều chết cũng cam”. Một khi con người biết Đạo rồi, tức ta tự biết cái ngôi vị cao nhất của kiếp người.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề Văn Chính Luận Trung Đại Việt Nam và Trung Quốc: Tiếp Biến và Phát Triển khám phá mối quan hệ văn hóa và chính trị giữa Việt Nam và Trung Quốc trong giai đoạn trung đại. Tác phẩm này không chỉ phân tích sự tiếp biến văn hóa mà còn nhấn mạnh những ảnh hưởng lẫn nhau trong tư tưởng chính trị giữa hai quốc gia. Độc giả sẽ tìm thấy những luận điểm sâu sắc về cách mà các yếu tố văn hóa và chính trị đã hình thành nên bản sắc riêng của mỗi quốc gia, đồng thời mở ra những góc nhìn mới về lịch sử và văn hóa Đông Á.

Để mở rộng thêm kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo tài liệu Kỷ yếu hội thảo khoa học cấp khoa quá trình giao lưu và tiếp biến văn hoá pháp luật giữa Việt Nam và Trung Quốc thời phong kiến, nơi cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự giao lưu văn hóa và pháp luật giữa hai nước trong thời kỳ phong kiến. Tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về những ảnh hưởng lẫn nhau trong bối cảnh lịch sử và văn hóa.