đặt vấn đề: Tại sao Vệ Linh Công vô đạo mà nước còn? Ông trả lời: Tại Linh Công biết giao cho quan đại thần cai trị. Cụ thể Trọng Thúc Ngữ giữ ngoại giao. Chúc Đà giữ nội vụ. Vương Tôn Giả giữ bộ binh…vì thế mà nước còn.
Đó là tư tưởng quan cai trị, vua kiểm soát. Tính chất quan trọng trong việc bảo tồn, chấn hưng dân nước đặt nơi quan không đặt nơi vua. Do vậy, quan phải trung với đạo chứ không phải trung với cá nhân vua. Sách Luận ngữ ghi rõ: “Dĩ đạo sự quân, bất khả tắc chỉ” (以道 事 君, 不 可 則止 , L.
Chủ trương này của Khổng được Mạnh Tử thể hiện mạnh mẽ trong nhận định: “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”. Hoặc Tuân Tử cũng thẳng thắn: “Tru bạo quốc chi quân nhược tru độc phu” (giết ông vua tàn bạo một nước cũng giống như giết một kẻ độc phu). Về nguyên tắc Giáo chi: Khổng Tử có quan điểm mới mẻ, tiến bộ về giáo dục. Ông khẳng định mọi người phải được học tập.
Đối với xã hội phong kiến đương thời, quan điểm này tạo một dư chấn mạnh nhằm xóa bỏ thực tế bất công, phi lí: giai cấp quyền quý độc quyền trong học tập. Câu nói xuất sắc thể hiện quan điểm độc đáo của Khổng Tử về giáo dục: “Hữu giáo vô loài” (有教 無 類, LN, XV. Câu nói khẳng định trong việc giáo hóa không phân biệt giai cấp sang quý hoặc hèn hạ. Nhận thức và đề xuất của Khổng Tử không chỉ đáng ghi nhận, biểu dương ở Trung Quốc đương thời mà đặt nó trong bối cảnh thế giới vẫn không thể không ngợi ca sự tiến bộ vượt bậc về tính cấp thiết toàn dân phải được học tập.
Ở phương Tây cũng phải tới năm 1850, giáo dục mới mở cửa cho toàn dân. Trái với tư tưởng của Khổng Tử, Lão Tử lại cho rằng dân không cần học, vì dân khó cai trị là do nó học biết “dân chi nan trị, dĩ kì trí dã”. (Đạo Đức Kinh, chương 65, nguyên văn: 古之善爲道者, 非以明民, 將以愚之. 民之難治, 以其智多.
故以智治國, 國之賊, 不以智治國, 國之福. 知此兩者, 亦稽式. 常知稽式, 是謂玄徳. 玄徳深矣, 遠矣, 與物反矣! 然後乃至大順.
(Cổ chi thiện vi Đạo giả, phi dĩ minh dân, tương dĩ ngu chi. Dân chi nan trị dĩ kì trí đa. Cố dĩ trí trị quốc, quốc chi tặc; bât dĩ trí trị quốc, quốc chi phúc. Trì thử lưỡng giả diệc kê thức.
Thường tri kê thức thị vị huyền đức. Huyền đức thâm hĩ, viễn hĩ; dữ vật phản hĩ, nhiên hậu nãi chí đại thuận). Về nguyên tắc Phú chi: Khổng Tử quan niệm chính quyền phải chăm lo cho dân. Dân cần phải giàu lên: “Bá tánh bất túc quân thục dữ túc” (百姓 不 足 , 君 孰 與 足 (L.
Bá tánh không đủ ăn thì vua đủ ăn với ai? Mạnh Tử luôn đau đáu nỗi lo làm sao cho dân giàu? Tuy nhiên, điểm này Pháp gia có quan niệm trái ngược. Họ chủ trương làm cho chúa giàu và dân yếu để dễ bề cai trị. Về nguyên tắc Lễ trị: 10 Khổng Tử đặt lễ ở góc độ đạo đức trong chủ trương coi trọng con người và không phân biệt quý tiện. Giữ lễ là thể hiện đức của người quân tử: “Quân tử vô chúng quả, vô tiểu đại” (君子 無 眾 寡, 無 小 大, Người quân tử không phân biệt ít hay đông, lớn hay nhỏ, ở đâu cũng phải cư xử cung kính, trung tín.
Một cách tổng quát, cách xử sự của người quân tử phải tuân thủ: "Cư xử cung, chấp sự kính. Dữ nhân trung. Tuy chi Di Địch, bất khả khí dã, 居處 恭, 執事 敬, 與人 忠, 雖之 夷 狄, 不 可 棄也 " (L. Người quân tử cư xử phải tự trọng, khi thi hành việc (với người khác) phải kính tôn.
Đối với tha nhân phải trung tín. Dầu có sang miền Di, Địch (mường rợ) cũng không thể bỏ được những nguyên tắc đó. (Không được phân biệt Kinh với Thượng trong lối cư xử. Ở đâu cũng là người cả).
Về nguyên tắc chữ Tín: Trong sách Luận ngữ, Tử Cống hỏi Khổng Tử về việc chính trị nên như thế nào? Khổng Tử dạy: “Túc thực, túc binh, dân tín chi hỹ” (đủ ăn, đủ binh, dân tin mình vậy). Nhược bằng trong ba điều ấy, bất đắc dĩ phải bỏ một điều, nên bỏ điều nào?- Bỏ việc binh. Còn hai điều nữa mà bất đắc dĩ phải bỏ đi một điều nữa thì nên bỏ điều nào trước?- Bỏ ăn. Vì bỏ ăn thì chết, nhưng xưa nay người ta vẫn chết, chứ dân mà không tin thì không sao đứng được” (Nguyễn Khắc Viện, 2000, tr.
Theo Khổng Tử, lễ trị là lối cai trị coi trọng người dân, vì dân là người cộng tác với chính quyền. Con người cộng tác với nhau chữ tín phải được tôn trọng, đề cao. Người trên càng phải ý thức và tuyệt đối giữ chữ tín để có được sự cộng tác nhiệt tình của mọi người: “Thượng háo Tín tắc dân mạc cảm bất dụng tình” (上好 信 則 民 莫 敢 不 用 情, L. Nhìn tổng quát vấn đề và như đã nói, đạo Nho vào Việt Nam đã có những biến đổi thành một “Nho giáo Việt Nam”.
Giáo sư Trần Nghĩa đã có bài phân tích kĩ về “Quá trình hội nhập Nho – Phật – Lão hay sự hình thành tư tưởng Tam giáo Đồng nguyên ở Việt Nam”. (Trần Nghĩa: http://www. Bài viết đánh giá tổng quát tư tưởng Nho, Phật Lão hội nhập Việt Nam trong 20 thế kỉ (TK I đến hết TK XIX). Quá trình đó điễn ra như sau: Nho giáo truyền vào Việt Nam từ đầu thế kỷ I.
Đến thế kỷ II, ngoài Nho giáo, Việt Nam còn có Phật giáo. Sang thế kỷ III, Lão giáo cũng đến Việt Nam. Tuy nhiên, ba thế kỷ đầu, sự hội nhập của Nho, Phật, Lão vào Việt Nam nhưng ở thế “tam giáo đỉnh lập” (Nho, Phật, Lão tồn tại ở cái thế chân vạc; tồn tại độc lập, phân lập và có công kích nhau nhằm khẳng định tôn giáo của mình). Đến thời nhà Đinh (bắt đầu từ năm 968 sau khi Đinh Tiên Hoàng dẹp yên loạn 12 sứ quân) đã có vụ án phạm nhân bị kết tội “không trung hiếu thờ cha và trưởng huynh, lại có ác tâm.
Như vậy, phạm nhân bị kết tội và hành hình dựa trên lập trường của Nho và Phật. Đến triều Tiền Lê, nhà sư Pháp Thuận (915-990) trả lời vua Lê Đại Hành về phương cách giữ ngôi báu bằng bài kệ Quốc Tộ. Nội dung bài kệ nhấn mạnh: muốn xây dựng cuộc thái bình thì người người ở chốn cung điện phải giữ thái độ vô vi, tức “vô vi nhi vô bất vi” (không làm gì mà không gì không làm – tức là làm tất cả trừ những việc trái đạo). Như vậy, từ đời Đinh, Tiền Lê đã có những dấu chỉ cho thấy Nho, Phật, Lão đã có sự dung hợp.
Có nhiều cách người ta diễn tả thực tại này: Tam giáo dung hợp, tam giáo hỗn dung, tam giáo nhất gia… Sang đời Lý, đời Trần, đời Lê sơ…tùy thuộc tình hình xã hội và nhận thức của giai cấp thống trị mà vị thế của tôn giáo được đề cao. Đời Lý tư tưởng của Phật Giáo, Lão giáo đặc biệt được chú 11 trọng. Chẳng hạn thuyết “chân như diệu tính” được quan niệm như là bản thể của vũ trụ. Hoặc từ đời Lê Sơ, do nhu cầu xây dựng một nhà nước phong kiến trung ương tập quyền, Nho giáo được triều đình trọng dụng.
Nhưng Nho giáo Việt Nam ở thời điểm này có đặc điểm của Tống Nho. Nếu như đời Hán (Hán Nho), Sách Đại học và Trung dung được gộp vào Lễ ký, Hán Vũ Đế đưa Nho giáo lên hàng quốc giáo và Nho giáo trở thành hệ tư tưởng chính thống bảo vệ chế độ phong kiến Trung Hoa trong suốt hai ngàn năm thì đến đời Tống, Đại học và Trung dung được tách ra khỏi Lễ ký và cùng với Luận ngữ và Mạnh Tử tạo thành Tứ thư. Tứ thư và Ngũ kinh là sách gối đầu giường của nhà nho. Thời Tống nho có những tên tuổi lớn như: Chu Hy, Trình Hạo, Trình Di.
Phương Tây gọi Tống Nho là Tân Khổng giáo. Điểm khác biệt của Tống Nho với Nho giáo trước đó là việc bổ sung các yếu tố “tâm linh” (lấy từ Phật giáo) và các yếu tố “siêu hình” (lấy từ Đạo giáo) phục vụ cho việc đào tạo quan lại cai trị. Nhận xét tổng quát về ảnh hưởng của Nho giáo đối với đời sống tư tưởng con người Việt Nam, có thể thấy: Nỗ lực tìm hiểu, nghiên cứu Nho giáo Trung Hoa, nho sĩ Việt Nam hiểu sâu sắc triết lý về vũ trụ thể hiện trong hình nhi thượng và triết lý về nhân sinh thể hiện trong hình nhi hạ, từ đó có thể vận dụng những tinh túy của nho giáo vào chính sự cũng như trong sinh hoạt cuộc sống thường ngày trong gia đình và ngoài xã hội. Nho giáo Trung Quốc giao thoa với văn hóa Việt Nam – nền văn hóa trọng nghĩa tình đã biến Nho giáo Trung Hoa vốn đặt chữ Trung làm tâm điểm thành Nho giáo Việt Nam coi chữ Nghĩa là cứu cánh.
Tư tưởng Nho giáo Việt Nam chủ yếu là Tống nho, sắc màu đã có sự dung hợp giữa Nho - Phật - Đạo giáo; đồng thời Tống nho lại chịu ảnh hưởng bởi đời sống văn hóa Việt Nam nhất là lòng ân tình nhân nghĩa sâu nặng của con người Việt Nam. Vì vậy, nghiên cứu văn chính luận trung đại Việt Nam dễ dàng nhận thấy các nhà ngoại giao như Nguyễn Trãi, Ngô Thì Nhậm đã vận dụng Nho giáo để chống xâm lược. Song đồng thời cũng phải khẳng định phần đóng góp, sáng tạo lớn lao của các nhà nho- nhà ngoại giao đã có ý nghĩa sâu sắc trong đời sống tư tưởng của nho sĩ Việt Nam.2 Nội chiến và chiến tranh chống ngoại xâm, văn chính luận thể hiện tính ƣu việt trong truyền bá tƣ tƣởng, tập hợp quần chúng, công kích đối phƣơng Đối với Trung Quốc, trong văn chương có truyền thống quan niệm văn bắt nguồn từ tồn tại khách quan. Đó chính là “Nguyên đạo”.
Bàn về “Nguyên đạo”, nên bắt đầu từ Khổng Tử. Trong Luận ngữ, ta thấy Khổng Tử đề cập nhiều lần về Đạo, nhưng với lối giải thích hơi khác. Đạo không huyền bí. Đó là con Đường mà con người cần tuân theo, chính đạo đem đến hạnh phúc cho nhân loại.
Nếu Lễ là những qui định đạo đức và nghi lễ, thì Đạo bao gồm cả những qui tắc về đạo đức của từng cá nhân và khuôn mẫu chính trị, những khuôn mẫu này sẽ tạo được phúc lợi cũng như sự tự hiện thực hoá bản thân cho từng cá nhân. Khổng Tử nói “Sáng mà nghe Đạo, chiều chết cũng cam”. Một khi con người biết Đạo rồi, tức ta tự biết cái ngôi vị cao nhất của kiếp người.