380 (05) 16914 TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT-HÀ NỘI ˆ KHOA HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC HỘ MÔN LICH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHAP LUẬT - TRUNG TA NGHIÊN CỨU PHAP LUẬT VE ETO CHỨC BỘ Maye a. HỘI THẢO KHOA HỌC QUÁ TRÌNH GIÁO LƯU VÀ TIỆP BI VAN HQÁ PHÁP LUẬT GIỮA V VÀ TRUNG QUỐC THỜI PHONG!KIÊN am RỘ MÔN LJCM SỬ NHÀ nước VÀ ThẬT EUR “TRUNG TÂM NGHIÊN CUU PHÁP LUẬT VỆ TÔ CHỨC BO MAY NHÀ NƯỚC KHOA HANH CHÍNH NHÀ NƯỚC TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI HỘI THẢO KHOA HỌC QUA TRINH GIAO LƯU VÀ TIẾP BIEN VAN HOÁ PHAP LUẬT GIỮA VIỆT NAM VA TRUNG QUOC THỜI PHONG KIEN (Thời gian từ 8h đến I 1h30 Ngày 27 tháng 8 năm 2008) 1, ThS. Vai Thị Nga: Hoàn cảnh, xu hưởng giao lưu và tiếp biến văn hoá pháp luật giữa Việt Nam và Trung Quốc thời nhong kiến 2. Thái Vĩnh Thắng: Ảnh hường của văn hoá pháp lu Trung Quốc đối với van hoá pháp tuật Việt Nam.
Hà Lan Phương: Tong quan về đặc điểm của quá trình giao. thoa và tiếp biến của văn hoá pháp ludt Việt~ Trung thời phong kiến 4. Phạm Việt Hà: Nho giáo và những hình thức thâm nhập của Nho giáo vào Việt Nam 5. Nguyễn Thị HỒi: Nho giáo và những ảnh hưởng của nó ở Việt Nam 6.
Pham Thị Thu Hiển: Một số hình thức thâm nhập của Nho gido vào. Vũ Thi Nga: Thể chế nhà nước lưỡng đầu ở Việt Nam - sự biến thất độc đáo của tư tưởng chính trị nho giáo và sự kết hợp độc đáo giữa mô hình nha nước quân chủ tập quyền nho giao với truyền thống. ‘Wain hoá pháp luật dân tộc,. Phạm Thị Quy: Phương thức tuyển dụng quan tại thống qua chế độ khoa cử ở Trung Quốc và Việt Nam thời kỷ phong kiến ‘ign chế độ gia đình giữa Việt 10.
PGS TS, Cao Van Liên: Pháp‘ut phong kiến Trung Quốc = Pháp luật phong kiến “Việt Nam: Sự giao thoa và phát triển LCẢNH, XU HƯỚNG GIAO LƯU VÀ TIẾP BIEN VĂN HOÁ. PHAP LUẬT GIỮA VIỆT NAM VÀ TRUNG QUOC THỜI PHONG KIÊN TAS. Ngay từ thời cổ đại, Trung Quốc đã là một trong bốn trung tâm vấn minh lớn của phương Đông. Trung Quốc thuộc khu vực Đông và Đông Bắc Á.
Lãnh thé ban đầu của Trung Quốc ct gém lưu vực sông Hoàng Hà, sau đỏ dẫn dẫn được mở rong. Đến thé II TCN, phía bắc cương giới Trung Quốc chưa vượt quá. ‘Van lý trường thành, phía tây đến đông nam tỉnh Cam Túc, phía nam đến hữu ngạn sông Trường Giang. Vùng nam Trường Giang, từ đời Tin qua đời Hán, đời Đường, bị sáp nhập dẫn vào lãnh thé Trung Quốc, cơ ting văn hoá Đông Nam A bản địa của các cộng đồng Bách Việt ở đây đã dẫn bị Hán hoá và thuộc không gian văn hoá.
Đông A, Không gian van hod Đông A bao go bến quốc gì rung Quốc, Nhật Ban, Triều Tiên và Việt Nam. Trung Quốc giữ vai tr là trung tâm của không gian văn hoá Đông A. Với những đặc trưng về giá trị văn hoá Đông A truyền thông! và. cua kết quả nghiên cứu của một s tác giả *, có thé thấy từ phương diện văn hoá.
pháp luật, Trung Quốc có một số đặc trưng sau: ˆ __ « Văn hoá pháp luật Trung Quốc là văn hod pháp luật Nho giáo” có kết hợp. tư tưởng pháp trị của phái Pháp gia °. Vừa lá học thuyết chính trị - đạo đúc, vừa là học thuyết về phương thức cai trị, nội dung cơ bản của các quan điểm chính trị - “han Huy L8 Lich sử và vn ho Việt Nemtếp ậnbộ phận, NXĐGD HN, 2007, tan 108,009 2Phan Hay sót Nguyễn ng Phong. Văn ho chính Vit Nam tuyên hb vit đị, NXB VEIN, 1998 = Nguyễn Hùng Hậu Ty trong và hi phương Đồng NXB SPAN Tỷ Trông ti Không Tô (eh ef), NXB VIỆT HN, 2005 {pb Vin Chih, Tương Miện Quý Chỉ iến, Dx cương es va hl Trang ốc NXB VHTT Võ Van Mẫu CỔ fut Vit Nam vàt hip sỹ in găng (uyên 62) SƠ 1975 Php at đến găng QU,TỊ SG 1978 = V Khiu, Đụ vị pp gen Nho gio, NXB KHXH HN 195 = Vũ Minh Giang, Nhữn de tung es cla mà quản đt mde vàhệ bổng chi nước ta tước đổi mi ‘hong Kinh he họcep nha nước KX-10, đ Ki 8£ = Phan Đang nh Tương Thị họ, UES c há ane pin Vt, NXBCTQG, 1 Sy biến dite wong chaén tự lễ sang php 2 Tung Que vidi (in ich cba TRương Đỉnh Neuyéhy NOXBX “Xuất bin, TV KHXH, Kiiệu Vd 2168 - LẺ Trấn Vũ Lh ut chin Tang Que, NXB Sy tc 1964 1 pháp lý của Nho giáo như ngũ luân, ngũ thường, như thuyết thiên mệnh, thuyết tôn quân quyền, thuyết chính danh.
là bệ đỡ tư tưởng cho giai cấp phong kiến Trung. Quốc xây dựng các thiết chế nhà nước va pháp luật của mình. ~ Chế độ tông pháp gia trưởng và dao t8 gia theo 1am cương là cơ sở cho đạo. ~ Lễ nghỉ tông pháp Nho giáo đóng vai trò to lớn trong việc xác lập trật ty gia trưởng trong gia đình, xã hội và quốc gia.
Chủ trương “nhất chuẩn hồ lễ, “đĩ lễ nhập luật đã dưa đến dic trưng trọng lễ trong dòng chảy văn-hoá pháp luật Trung, Quốc truyền thống. ~ Tính cộng đồng cao và tỉnh thần Nho giáo đã đặt quyển cá nhân của con người chim lấp trong quyền của cộng đồng ở nhiều góc độ. Vì thé, trách nhiệm của. cá nhân trước cộng ding luôn là thang trị cao nhất trong văn hoá pháp luật ‘Trung Quốc, là chuẩn mực định hướng xử sự của con người trong pháp luật.
-Ý thứ lântộc cao gắnliềnvới tư tưởng và chính sách dồi ngoại bình thiên “hảo. - Nhà nước tậpquyền chuyên chế ngày càng được gia cường đến mức cực quyền và thiết chế nhà nước được hoàn thiện với trình độ tổ chức cao thể hiện ở sự phân định rành mạch chức năng, nhiệm. vụ, quyển hạn của các bộ phận cấu thành. thiết chế, Với bề day va sức mạnh của mình, văn hoá pháp luật Trung Quốc đã ảnh.
4 hưởng mạnh mẽ tới nhiều quốc gia thuộc khu vực văn hoá Đông A như Nhật Bản, Triều Tiên và Việt Nam. 12, Vi ‘Nam, về địa lý thuộc khu vực Đông Nam A, Về phương diện địa - Nam thuộc cơ tang văn hoá Déng Nam A bản văn hoá, thời tiền sử và sơ sử, ViệtN địa với đặc trưng kinh tế lúa nước và kết cầu xóm làng mang đậm tính công động, với những nghỉ lễ phồn thực; với tín ngường vật linh, thờ cúng nữ thin; với tập quán tôn trọng phụ nữ trong gia đình và xã hội; với kết sấu gia đình nhỏ lương đối bình đẳng và cởi mở. Khoảng nửa cuối tt in ki I TCN, nhà nước dầu tiên ở Việt Nam ra đời sớm trên nén tảng chế độ tư hữu chậm phát triển và sự phân hoá xã hội 2 -9L_ — _— chưa sâu sắc do. yêu câu của công cuộc trị uỷ lợi vàchống ngoại xâm; Đó: là một nhà nước và pháp luật sơ khai còn đậm tin dư truyền thống của xã hội thị tộc bộ lạc.
Nhà nước đó “thực chất mới chỉ là một tổ chức siêu làng đứng trên các làng xã, đại điện các làng xã điều hành các công việc chung vi lợi ích của làng, xã"“ Ngay sau đó, từ cuối thé kỉ Hi TCN đến năm 938, cộng đồng cư dan Việt bị phong kiến Trung Quốc thống trị hau như liên tục trong hơn mười thé kỉ. Từ đó, về phương điện địa - lịch sử - văn hoá, Việt Nam thuộc không gian văn hoá Đông, A, nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng của văn minh Trung Quốc, tiếp nhận nhiều anh hưởng của văn hoá Trung Quốc. Trang hơn mười thé kỉ, phong kiến Trung Quốc. du nhập Nho giáo, mô hình thiết chế pháp luật Nho giảo theo chế độ quận huyện, hệ thống pháp luật Nho giáo vào Việt Nam.
Việc du nhập này dược thực hiện mot cách thường xuyên, bền bi và kiên quyết nhằm mục tiêu đồng hoá cộng đồng cư. din Việt bằng nhiều biện pháp như: mở trường học dạy chữ Han và lễ nghỉ Nho giáo; xoá bỏ cơ cấu quản lý xã hội vùng - bộ lạc và chế độ lạc tướng, thay vào đó là co cấu hành chính quận huyện với chức vụ huyện lệnh, huyện trưởng người Han, tử dụng hệ thống pháp luật thành văn bao gồm nhiều loại văn bản pháp luật mà cơ: bin là bộ Cửu chương luật thời Hán, Đường luật thư nghĩa thời Đường lâm công ey để cai tri người Việt. Thậm chí, từ thé ki VII, nhà Đường còn tham vọng nắm lấy và làm thay đổi cả tổ chức xã hội cơ sở của người Việt là các làng xỏm ob truyện nên đã áp đặt lên đó cấp hảnh chính cơ sở xã. Như vậy, nền văn hoá pháp luật bản địa sơ khai Việt Nem vữa mới hình thành dã đối diện với một thir thách khắc nghiệt: nguy cơ bị hoà tan vào một nền văn hoá pháp luật cao bậc nhất ở khu vực.
Như một phản xạ tự vệ tự nhiên, người Vi ân mình sau biển tug tre xanh. chối từ những yếu tố văn hoá pháp luật xa lạ với nếp sống, nếp nghĩ mình. Và chính trong thử thách khắc nghiệt đó, sự trỗi dậy của ý thức quốc gis - dan tộc, của tinh than yêu nước quả cảm, sức sống bền bi dẻo dai; sự cổ kết cộng, “Vo Minh Giang, Đặc điển của các hoi dặn lp phi, Lành pp vi php ương ch số tung đại Việ Nam, Ít trong Một chàng đường nghiên cứu leh sử 1998 - 2000, NX®B ĐHQOHM 2000, M7, 3 chặt chẽ của người Việt đã giúp người Việt giữ được làng. Làng xóm cỗ truyền của người Việt là nền tảng xã hội, là cơsở của văn hoá Việt, là nơi nuôi dưỡng vun trồng những tỉnh hoa văn hoá cổ truyền.
“Dứng trên phương diện thể chế chính trị va cơ cấu xã hội hạ tang, có thể nói trong thời Bắc thuộc người mất nước chứ không mắt lang”. Do vậy, một tác giả phương Tây đã nhận xét, qua Bac thuộc, nước Việt như một toà nhà chỉ bị thay đổi “mặt tiền” mà không bị thay đôi trúc bên trong *, Từ chỗ giữ được làng, người Việt đã giảnh lại nước. Dó là một ki tích "đặc biệt dến mức có một không hai trong lịch sử thé giới” Chính trong hon mười thé kí sống dưới ach cai trị của chính quyển ngoại bang, trong tâm thức người Việt hình thành một cách nhìn nhận về chính quyền theo cách rất riêng: hoặc đó là chính quyền của người Việt gắn liễn với độc lập, chủ. quyền của người Việt hoặc đó là chính quyền của ngoại bang, Từ đó,ýthức dân tộc.
Xà tinh thần độc lập, tự chủ của người Việt được hình thành sớm và biểu hiện rất mạnh mẽ.