chương 1; Thông tư số: 06/2012/TT-BNV ngày 30/10/2012 cảu bộ nội vụ quy định về tiêu chuẩn cụ thể của công chức xã, phường, thị trấn như sau: + Độ tuổi từ 18 trở lên + Trình độ văn hóa tốt nghiệp phổ thông + Trình độ chuyên môn: Tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp chuyên nghiệp trở nên c ủa ngành đào tạo phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của chức danh công chức đảm nhiệm. h 13 + Trình độ tin học: Có chúng chỉ tin học tin học văn phòng trình độ A trở lên. + Tiếng dân tộc thiểu số: ở địa bàn công tác phải sử dụng tiếng dân tộc thiểu số hoạt động công vụ phải biết thành thạo tiếng dân tộc thiểu số phù hợp với địa bàn công tác nếu khi tuyển dụng chưa biết tiếng dân tộc thiểu số thì sau khi tuyển dụng phải hoàn thành lớp học tiếng dân tộc thiểu số phù hợp với địa bàn công tác được phân công. + Sau khi được tuyển dụng phải hoàn thòng lớp đào tạo, bồi dưỡng quản lý hành chính Nhà nước và lớp đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị theo chương trình đối với chức danh công chức xã đảm nhiệm [13].
Bài học kinh nghiệm Nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị. Để đáp ứng các yêu cầu, nhiệm vụ trên thì làm tốt công tác cán bộ, nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC cơ sở, nhất là cán bộ chủ chốt cơ sở là một nhiệm vụ cần thiết nhằm khắc phục những hạn chế, yếu kém đó và đáp ứng được yêu cầu mới đặt ra trong giai đoạn hiện nay. Theo chúng tôi, trong thời gian tới chúng ta cần thực hiệm một số giải pháp cơ bản sau đây: Một là, cần rà soát, tổng hợp đội ngũ CBCC cấp xã không đạt tiêu chuẩn theo quy định, CBCC đạt chuẩn về trình độ nhưng có độ tuổi cao, năng lực hạn chế chưa đủ điều kiện nghỉ hưu để xem xét từng trường hợp cụ thể; Hai là, đề xuất, vận dụng hợp lý chính sách khuyến khích đối với cán bộ cấp xã không đạt tiêu chuẩn theo quy định, cán bộ có độ tuổi cao, năng lực hạn chế chưa đủ điều kiện nghỉ hưu tự nguyện nghỉ hưu trước tuổi, nghỉ thôi việc; Ba là, đề nghị cấp có thẩm quyền quy định chế độ tiền lương và định mức biên chế đối với CBCC phù hợp với từng khu vực, vùng, miền và phân loại đơn vị hành chính các cấp; đề xuất ban hành quy chế, chính sách thu hút cán bộ, sinh viên giỏi có trình độ Đại học, trên Đại học về công tác tại xã; h 14 Bốn là, phối hợp thực hiện tốt việc bố trí, bổ nhiệm cán bộ cấp xã; đặc biệt quan tâm và thực hiện tốt công tác quy hoạch, bồi dưỡng và bổ nhiệm lãnh đạo các cơ quan, đơn vị, tổ chức nhà nước; Năm là, thực hiện việc bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, giới thiệu bầu cử các vị trí cấp trưởng của các cơ quan, đơn vị, tổ chức nhà nước phải đảm bảo yêu cầu về trình độ (Đại học trở lên, ưu tiên học chính quy), năng lực tốt và có trình bày đề án, kế hoạch hoặc giải pháp tốt phát triển ngành, lĩnh vực liên quan (điều kiện đặc biệt có thể miễn); Sáu là, đổi mới và nâng cao chất lượng đánh giá, phân loại CBCC (có sự tham gia nhận xét của các cơ quan, đơn vị cấp huyện đối với đánh giá CBCC cấp xã và có sự tham gia nhận xét của cấp xã, cơ quan cùng cấp có liên quan theo từng ngành tương ứng đối với đánh giá CCVC cấp huyện); nâng cao vai trò, trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị cấp huyện trong việc hướng dẫn, chỉ đạo, theo dõi, đánh giá đội ngũ CBCC; xây dựng kế hoạch, quy hoạch, làm tốt công tác quy hoạch CBCC; kiên quyết xử lý đối với CBCC trì trệ, không hoàn thành nhiệm vụ, kịp thời thay thế, luân chuyển và mạnh dạn đề bạt công chức trẻ có năng lực, đủ sức đảm đương nhiệm vụ theo yêu cầu mới; Bảy là, phối hợp thực hiện tốt công tác lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ chức vụ do Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã bầu hoặc phê chuẩn theo quy định tại Nghị quyết số 35/2012/NQ-QH13; Tám là, phối hợp thực hiện tốt việc giao ban định kỳ (theo tháng hoặc quý) giữa cơ quan cấp huyện và cán bộ, công chức cấp xã để nhận xét, đánh giá, hướng dẫn kịp thời công tác chuyên môn; xây dựng quy chế và tăng cường công tác điều động, luân chuyển CBCC cấp huyện về làm việc tại xã, thị trấn và CBCC cấp xã lên làm việc ở huyện; thực hiện tốt quy định về điều động, luân chuyển CBCC cấp xã thành công chức cấp huyện (điều động, bổ nhiệm công chức lãnh đạo, chuyên viên cấp huyện có năng lực, phẩm chất tốt h 15 làm cán bộ lãnh đạo cấp xã; điều động, bổ nhiệm CBCC cấp xã có năng lực, phẩm chất tốt làm lãnh đạo, chuyên viên cấp huyện; từng bước khắc phục tình trạng khép kín, cục bộ địa phương, tạo động lực cho CBCC tích cực làm việc, nỗ lực học tập, rèn luyện, phấn đấu vươn lên, vừa củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở vừa tạo sự liên thông trong đội ngũ CBCC ở các cấp. Chín là, xây dựng và thực hiện tốt kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ CBCC, đảm bảo công tác đào tạo, bồi dưỡng phải xuất phát từ quy hoạch, gắn với sử dụng, đúng với ngạch và chức danh cán bộ, chú trọng bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ và kinh nghiệm giải quyết những tình huống theo từng chức danh CBCC cụ thể.
Cử CBCC tham gia đào tạo; Mười là, cụ thể hóa các quy định của từng địa phương, trung ương áp dụng vào tình hình cụ thể ở địa phương để hướng dẫn các cơ quan, đơn vị, tổ chức nhà nước, Ủy ban nhân dân các xã, thị trấn xây dựng quy chế làm việc, quy chế phối hợp với các tổ chức trong hệ thống chính trị cơ sở, nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới, nâng hiệu quả hoạt động của Ủy ban nhân dân, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác của đội ngũ CBCC; Mười một là, đổi mới mạnh mẽ, một cách đồng bộ tác phong và tư duy làm việc của các tổ chức Đảng, chính quyền, mặt trận và toàn thể nhân dân, đặc biệt là ở cơ sở; kiên quyết loại trừ tư tưởng cục bộ, không ủng hộ cái mới, chậm chuyển biến, đổi mới phong cách lãnh đạo và nề nếp làm việc trì trệ của đội ngũ CBCC; Mười hai là, cần tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra về công vụ; mạnh dạn xử lý CBCC nhũng nhiễu, hách dịch, gây khó khăn cho công dân. Hiến pháp năm 2013 được Quốc hội thông qua ngày 28/11/2013 có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2014, đây là một sự kiện chính trị - pháp lý đặc biệt quan trọng, đánh dấu một bước tiến mới trong lịch sử lập hiến của nước ta. h 16 Nhằm đổi mới mô hình tổ chức chính quyền địa phương, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ mới, Hiến pháp mới đã quy định một cách khái quát và xác định nguyên tắc về mô hình tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương. Việc nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã vững vàng về chính trị, có đạo đức lối sống trong sạch, có trí tuệ, kiến thức và trình độ năng lực để thực thi chức năng, nhiệm hiệm vụ theo đúng pháp luật, bảo vệ lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức và phục vụ nhân dân.
có vai trò hết sức quan trọng trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện bộ máy chính quyền cơ sở, góp phần xây dựng thành công Luật Tổ chức chính quyền địa phương. Đánh giá tiềm năng, lợi thế và những khó khăn của xã tức tranh. Những tiềm năng, lợi thế của xã Tức Tranh Sau 06 năm thực hiện Chương trình MTQG xây dựng NTM trên địa bàn xã đã đạt được những kết quả khá toàn diện, rõ nét, lan tỏa cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Bộ máy tổ chức, chỉ đạo, điều hành thực hiện Chương trình ngày càng được hoàn thiện, đảm bảo về số lượng và chất lượng ngày càng được nâng lên.
Công tác tuyên truyền, vận động được địa phương quan tâm, nhận thức của nhân dân về chương trình Xây dựng nông thôn mới đã được nâng lên rõ rệt. Xã đã triển khai thực hiện đồng bộ và khá đầy đủ các văn bản hướng dẫn, cơ chế chính sách thực hiện Chương trình của cấp trên tạo điều kiện thuận lợi cho các xóm trong quá trình thực hiện. Chương trình tiếp tục được cả hệ thống chính trị cùng vào cuộc một cách quyết liệt, đồng bộ; xử lý kịp thời, dứt điểm những vấn đề vướng mắc trong quá trình triển khai tạo được sự đồng thuận trong cấp ủy Đảng, chính quyền và nhân dân trên địa bàn xã. Các cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp do cấp trên ban hành được triển khai thực hiện có hiệu quả, sản xuất nông nghiệp tiếp tục có bước phát triển tích cực, sản xuất hàng hóa từng bước được hình thành, sản h 17 xuất NLN tăng mạnh cả về số lượng và giá trị.
Các nguồn vốn đầu tư hỗ trợ thực hiện các dự án phát triển sản xuất được sử dụng có hiệu quả, phát triển nhiều mô hình sản suất kinh doanh hiệu quả, làm cơ sở nhân ra diện rộng trong các năm tiếp theo Công trình hạ tầng - kinh tế - xã hội được đầu tư xây dựng mới hoặc nâng cấp như hệ thống đường giao thông nông thôn được cứng hoá 100% (trong đó đã bê tông hoá 40,49km), thủy lợi, điện,. cơ bản đáp ứng nhu cầu sản xuất, phục vụ dân sinh. Sản xuất phát triển theo hướng hàng hóa, gắn sản xuất với chế biến và thị trường tiêu thụ.2 Những khó khăn, hạn chế Là xã có cơ cấu sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế, sản xuất chủ yếu theo hình thức hộ gia đình, một bộ phận nhân dân còn khó khăn. Cơ sở hạ tầng tuy được đầu tư xây dựng đạt tiêu chuẩn theo tiêu chí quy định, nhưng ở mức cơ bản.