mở đầu cho việc tăng cường công tác quản lý đất đai theo luật mới. + Công tác cấp GCNQSDĐ. Thực hiện nghị định số: 181/2004/NĐ-CP và chỉ thị số: 05/2004/CT- TTg ngày 09/02/2004 của Thủ tướng Chính phủ về triển khai thi hành luật đất đai 2003 đã đề ra trong thời gian trước mắt là: Hoàn thành việc cấp GCNQSDĐ, hoàn chỉnh hệ thống quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất các cấp. Đến năm 2010, việc cấp GCNQSDĐ trong cả nước đạt kết quả như sau: Đất sản suất nông nghiệp: Đã cấp được hơn 16 triệu giấy chứng nhận với diện tích trên 8,1 triệu ha, đạt 83% diện tích cần cấp giấy.
Đất lâm nghiệp: Cấp được 2,45 triệu giấy với 10,1 triệu ha, đạt 84,3%. Đất nuôi trồng thủy sản : Cấp 1,08 triệu giấy với hơn 577.000ha, đạt 83,8% diện tích cần cấp giấ y. Đất ở đô thị: Cấp được 3,55 triệu giấy với diện tích hơn 82.000ha, đạt 62,6% diện tích cần cấp giấy. Đất ở nông thôn: Cấp được 11,6 triệu giấy với diện tích 425.000ha, đạt 76,8% diện tích cần cấp giấy.
Đất chuyên dùng: Cấp được 138.000 giấy với diện tích 445.000ha đạt 54% diện tích cần cấp. e 11 Thực hiện nghị định số 88/2009/NĐ-CP của Chiń h phủ, các địa phương đã triển khai cấp GCNQSDĐ theo mẫu mới với tổng số 1,277 triệu giấ y, tổng diện tích 890.000 ha, trong đó có 33.863 GCN bao gồm cả đất và tài sản. + Công tác giao đất, cho thuê, thu hồi, chuyển mục đích sử dụng đất. Đến nay đã có khoảng 7.987 dự án được giao đất, thuê đất với diện tích hơn 184.654ha đất giao không thu tiền sử dụng đất, 8.306ha đất được giao có thu tiền, có 1.781 dự án xin chuyển mục đích sử dụng đất với tổng diện tích hơn 1.460ha đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép chuyển mục đích sử dụng đất.
Thu hồi được 7.289ha do vi phạm pháp luật về đất đai, trong đó có 7.056ha thu hồi do vi phạm quy định tại khoản 12 điều 38 của Luật đất đai 2003, đạt 65% diện tích phải thu hồi. + Công tác thống kê, kiểm kê đất đai. Thông qua kiểm kê cho thấy cả nước có tổng diện tích tự nhiên 33.804ha bao gồm đất nông nghiệp 26.106ha chiếm 79%, đất phi nông nghiệp 3.186ha chiếm 11% và đất chưa sử dụng 3.102ha chiếm 75,51% là đã có chủ sử dụng. So với năm 2005, diện tích đất sản suất nông nghiệp tăng 1.600ha, trong đó đất trồng lúa có 4.721ha, vượt so với quy hoạch 10,33% nhưng giảm 37.546ha, bình quân hàng năm giảm 7.
Đất lâm nghiệp tăng 571. Đất ở nông thôn tăng 54.054ha đạt bình quân 91 m2/người. Đất ở đô thị tăng 27.994ha đạt bình quân 21 m2/người. Đất chuyên dùng tăng 410.713ha, tăng nhiều nhất là cho mục đích công cộng, giao thông, thủy lợi, an ninh, quốc phòng.
Đất tôn giáo tăng 1.816ha, đất nghĩa trang nghĩa địa tăng 3.887ha, đất sông suối mặt nước chuyên dùng giảm 61.709ha, đất chưa sử dụng giảm 1. Kết quả kiểm kê cho thấy các địa phương thực hiện công tác này khá tốt, tuy nhiên vẫn vẫn còn một số hạn chế như: Việc quản lý hiện trạng đất đai còn nhiều bất cập, thiếu kịp thời cập nhật số liệu, cơ sở dữ liệu chưa đáp ứng được nhu cầu. e 12 + Công tác thanh tra, kiể m tra và giải quyết khiếu nại tố cáo tr ong việc quản lý đất đai. Trong những năm qua, thanh tra địa chính đã tiến hành hơn 11.300 cuộc thanh tra ở tất cả các tỉnh, thành phố.000 trường hợp vi phạm luật đất đai, đã xử lý 25.000 vụ, đã giải quyết 75% số đơn khiếu nại, tố cáo của nhân dân về đất đai.
Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vi phạm trong quản lý đất đai chưa được xử lý kịp thời và triệt để. Theo Bộ TN và MT, trong 30 ngày kiểm tra thi hành Luật đất đai tại các địa phương (1/8 - 30/8/2009), Đoàn kiểm tra Bộ TN và MT đã tiếp nhận 17.480 đơn tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai. Các nội dung khiếu kiện bao gồm: 70,6% là khiếu nại về bồi thường, giải phóng mặt bằng, 10,0% là tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về đất đai, 8,6% là tranh chấp đất đai, 6,8% là đòi lại đất cũ, 4,0% là những trường hợp khác. Như vậy muốn tăng cường và nâng cao hiệu quả của công tác thanh tra, kiể m tra và giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo tranh chấp về đất đai cần thiết tiến hành thanh tra, kiểm tra, thực hiện công tác quản lý đất đai một cách thường xuyên và xử lý kịp thời các trường hợp vi phạm, giải quyết dứt điểm, hạn chế thấp nhất các vụ tồn đọng, tránh phát sinh những vụ mới.
+ Công tác quản lý tài chính về đất đai, quản lý việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của ngƣời sử dụng đất. Hàng năm công tác này được thực hiện thường xuyên theo đúng Luật đất đai. Nguồn tài chính thu được từ đất đai được chi một khoản đáng kể cho công tác đền bù đất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất, phần còn lại được nộp vào ngân sách Nhà nước. + Quản lý và phát triển thị trƣờng quyền sử dụng đất trong thị trƣờng bất động sản, quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất.
Đây là những nội dung mới ban hành khi Luật đất đai năm 2003 ra đời, nhưng thị trường này sau đó đã phát triển rất mạnh trên phạm vi cả nước. Các e 13 quyền của người sử dụng đất được giao dịch thông qua thị trường bất động sản. Dịch vụ công về đất đai cũng bước đầu được thực hiện cùng với sự ra đời của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất ở các cấp huyện và tỉnh. Một số tồn tại Trước quá trình đô thị hóa và phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, các luật và chính sách liên quan đến đất đai đã liên tục được bổ sung, sửa đổi nhưng vẫn nhanh chóng trở nên lạc hậu và có nhiều điểm không phù hợp với thời cuộc.
Điều này gây ra nhiều vấn đề như tham nhũng, lãng phí, tranh chấp, kiện cáo làm giảm hiệu quả sử dụng đất. Những tranh chấp và bất ổn trong chính sách đất đai sẽ có tác động xấu tới môi trường kinh doanh và gây ra những cản trở mạnh tới phát triển tổng thể kinh tế - xã hội. Sự chênh lệch về giá đất xuất phát từ sự yếu kém của hệ thống tài chính đất đai và hệ thống quản lý đất đai, ít sử dụng các công cụ kinh tế điều tiết để quản lý đất đai.Sự thiếu phù hợp và nhất quán giữa qui hoạch tổng thể phát triển KT - XH và thời hạn giao đất cho người sử dụng dẫn tới những mâu thuấn phát sinh và gây ra những khó khăn cho các doanh nghiệp phải di dời do thay đổi quy hoạch. Các văn bản pháp luật đấ t đai nhiề u khi còn còn chồng chéo , gây khó khăn trong công tác thực hiện , công tác cấp GCNQSDĐ còn chậm trễ.
Bên cạnh đó các sai phạm trong vấn đề quản lý đất đai không những chưa giảm mà còn có chiều hướng gia tăng và chưa được xử lý kịp thời gây nên hậu quả nghiêm trọng. Mặc dù chính sách đất đai được thay đổi liên tục nhưng những kẽ hở và sự thiếu rõ ràng của nó không nhứng làm cho số vụ tranh chấp, khiếu nại, tố cáo của người dân, doanh nghiệp liên quan tới đất đai giảm xuống mà ngược lại ngày càng tăng. Bên cạnh đó những nhu cầu phát sinh trong quá trình sử dụng đất luôn gây áp lực và chưa lường hết được. Còn chưa thực hiện triệt để 15 nội dung quản lý Nhà nước về đất đai.
Tình hình quản lý nhà nước về đất đai ở tỉnh Thái Nguyên 2. Tình hình quản lý nhà nước về đất đai Từ khi Luật đất đai năm 2003 có hiệu lực thi hành, công tác quản lý nhà nước về đất đai trên đại bàn tỉnh Thái Nguyên đã đạt được nhiều thành tựu thúc đẩy đầu tư, phát triển kinh tế và ổn định chính trị- xã hội. Tuy nhiên , thời gian qua, công tác quản lý, sử dụng đất ở tỉnh vẫn còn nhiều bất cập, thiếu sót, cần được đánh giá, làm rõ những nguyên nhân, đề ra những giải pháp khắc phục để công tác quản lý, sử dụng đất đi vào nền nếp, ổn định, nâng cao hơn nữa năng lực, hiệu quả trong quản lý nhà nước về đất đai. Căn cứ các quy định của Luật Đất đai năm 2003, tỉnh đã xây dựng và ban hành theo thẩm quyền các văn bản quy phạm pháp luật về đất đai phù hợp với yêu cầu thực tiễn của địa phương, trong đó có các Nghị quyết về Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất(QH, KHSDĐ), cấp GCN, bồi thường giải phóng mặt bằng, giá đất; các quy định về cơ chế tài chính, về chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất.
Chủ động triển khai có hiệu quả các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Đất đai, đặc biệt là các văn bản liên quan đến công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; công tác cấp GCN; xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính, các thủ tục hành chính về đất đai…được dư luận đánh giá tích cực, tháo gỡ được nhiều khó khăn, giải phóng các rào cản để huy động nguồn lực đất đai cho đầu tư phát triển. Công tác cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai đã có những chuyển biến tích cực, được dư luận đánh giá cao, nhất là công tác giao đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Thời gian thực hiện thủ tục hành chính được giảm thiểu thông qua việc lồng ghép các thủ tục về đầu tư, xây dựng, đất đai, môi trường ngay từ khâu chấp thuận dự án đầu tư đến khâu bồi thường, giải phóng mặt bằng, triển khai dự án đều được thực hiện qua cơ chế ”một cửa liên thông”. Công tác lập và quản lý QH, KHSDĐ được thực hiện ở cả 3 cấp từ cấp tỉnh đến cấp cơ sở, bước đầu đã được đổi mới theo hướng nâng cao chất e 15 lượng và tính khả thi của phương án quy hoạch, làm rõ được những nội dung quy hoạch của từng cấp, tạo tính chủ động, linh hoạt cho từng cấp trong xây dựng phát triển kinh tế - xã hội, góp phần quan trọng trong thực hiện các mục tiêu CNH, HĐH.