Chương 1 Điều 4: Cán bộ, công chức - Nghị định 92/2009 NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ về chức danh số lượng, chế độ chính sách đối với Cán bộ công chức xã. n 16 - Thông tư liên tịch số 61/2008/TTLT – BNN – BNV của Bộ ngông nghiệp và phát triển nông thôn – Bộ nội vụ về hướng dẫn chức năng nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, cấp huyện và nhiệm vụ quản lý nhà nước của UBND cấp xã về nông nghiệp và phát triển nông thôn. Cơ sở thực tiễn 2. Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới • Kinh nghiệm của singapore Từ năm 1991 Chính phủ Singapore đã đề ra chương trình cải cách công vụ mang tên “nền cải cách công vụ thế XXI” với mục tiêu là xây dựng nền công vụ có hiệu quả, hiệu lực, công chức nêu cao tinh thần liêm chính, tận tụy và có chất lượng dịch vụ cao.
Để làm được điều đó chính phủ đã đặc biệt đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ công chức coi đó là giải pháp cơ bản nhất để xây dựng nền công vụ có hiệu quả. Chính phủ quy định, mỗi cán bộ công chức bắt buộc phải được bồi dưỡng ít nhất 100 giờ/ năm. Mỗi công chức phải tự đề ra chương trình học tập cho mình, trong đó có việc sử dụng 100 giờ học theo quy ñịnh, tối thiểu phải bảo đảm 60% thời lượng phục vụ công việc trong cương vị hiện tại, 40% cho công việc tương lai. Chính phủ Singapore qui định hỗ trợ 50% chi phí cho người tự học để phục vụ cho công việc đang đảm trách với mục đích khuyến khích việc tự đào tạo của cán bộ.
Các hình thức đào tạo, bồi dưỡng công chức được áp dụng là: đào tạo ban đầu (cơ bản), đào tạo nâng cao, đào tạo mở rộng và đào tạo bổ sung.Các hình thức đào tạo này có liên quan chặt chẽ tới cuộc đời chức nghiệp của công chức và tới việc chỉ định công chức vào công việc. Việc đào tạo được tổ chức theo các hình thức chính quy hoặc tại chức. Tuỳ theo yêu cầu của từng loại n 17 đối tượng, có thể có những phần hợp nhất giữa một vài công đoạn đáp ứng tốt nhu cầu của công chức [8]. Kinh nghiệm từ Hàn Quốc Với chiến lược trở thành một quốc gia hàng đầu thế giới trong những thập kỷ tới, Hàn Quốc cho rằng trước tiên phải xây dựng một chính phủ có tầm vóc hàng đầu, làm nền tảng cho nền kinh tế và xã hội vươn tới mục tiêu này.
Trong tuyển dụng và đánh giá cán bộ, Hàn Quốc đã đưa ra nhiều biện pháp để thú hút và trọng dụng người tài như “Tìm cán bộ giỏi từ mọi nguồn”, “đánh giá định lượng”, và “Tuyển chọn công khai”. Đối với việc “Tìm cán bộ giỏi từ mọi nguồn”, Hàn Quốc xây dựng hệ thống dữ liệu về nguồn cán bộ, trong đó các ứng viên từ ứng cử từ khu vực tư nhân chiếm trên 50%. Mọi người dân trong nước cũng như kiều bào ở nước ngoài có thể ứng cử để tham gia vào hồ sơ dữ liệu này, chức vụ ứng cử có thể tới vị trí Bộ trưởng. Một trang web với tên là samgochoryo (“Tam cố thảo lư”, dựa theo tích Lưu Bị ba lần đến cầu Khổng Minh ra giúp trong truyện Tam Quốc) đã được văn phòng Tổng thống Hàn Quốc Roh- moo-hyun lập ra để tiếp nhận tiến cử người tài của toàn xã hội vào các vị trí cao trong Chính phủ.
Đối với biện pháp “đánh giá định lượng”, Chính phủ này tiếp tục truyền thống từ thời Chính quyền Park Chung Hy, theo đó chất lượng hoạt động của các cơ quan và các dự án được đánh giá rất khoa học và nghiêm ngặt. Trong thời kỳ 1962- 1982, Hàn Quốc lập ra Hội đồng các Giáo sư đánh giá để đánh giá định kỳ kết quả hoạt động của các bộ ngành và dự án lớn. Những năm gần đây, Chính phủ này còn áp dụng các phương pháp hiện đại thông dụng trên thế giới về quản lý định lượng theo kết quả, đặc biệt chú trọng thăm dò sự thỏa mãn của nhân dân về chất lượng hoạt động của các Bộ Ngành. Các cán bộ trung cao cấp cũng chịu sự đánh giá định lượng theo đinh kỳ để biết rõ điểm mạnh yếu của mình trong đáp ứng yêu cầu công tác.
đối với biện pháp n 18 “Tuyển chọn công khai”, Chính phủ nước này yêu cầu các cơ quan chính phủ thông báo rộng rãi trên trang web của mình và thông tin đại chúng nhu cầu tuyển dụng và mở rộng cửa đón nhận ứng viên từ mọi nguồn. Hiện nay 3 nước Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản đang hợp tác chặt chẽ với nhau theo hiệp ước được ba bên ký kết với tên là “Sáng kiến Mạng lưới Quản lý Nhân sự Bắc Á” để học hỏi và trao đổi kinh nghiệm trong công tác quản lý cán bộ [8]. • Kinh nghiệm từ Malaysia: Tiến hành phát triển kinh tế xã hội bắt nguồn từ nền nông nghiệp. Thủ tướng Malaysia cho rằng “Malaysia có nguồn tài nguyên phong phú, có nguồn nhân lực cần thiết và có mối quan hệ tốt với thế giới sẽ trở thành một nước phát triển trong 30 năm tới".
Từ cuối những năm 80 Malaysia tiến hành chương trình công nghiệp hoá để biến quốcgia này thành một nước công nghiệp phát triển vào năm 2020. Liên tục trong 7 năm qua kinh tế Malaysia đạt tỷ lệ tăng trưởng 8%/năm. Tuy nhiên, chỉ có lợi thế đó các quan chức Malaysia cho rằng “tầm nhìn 2020” của Thủ tướng Malaysia chỉ có thể là một giấc mơ nếu Malaysia vẫn tiếp tục thiếu một yếu tố cần thiết đó là nguồn nhân lực được sử dụng và bồi dưỡng cán bộ đúng đắn. Chính phủ đầu tư 20% ngân sách cho ngành đào tạo với kinh phí trị giá trên 2 tỷ ‘rigit’ (tiền Malaysia) để hoàn thành mụctiêu “tầm nhìn 2020”.
Thực hiện chiến lược phát triển nông thôn, xây dựng và phát triển các vùng đất mới theo hướng công nghiệp hoá, đô thị hoá để sản xuất các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của đất nước, tạo điều kiện về các mặt để di dân đến các vùng quy hoạch mới. Giải quyết cho những lao động nông thôn thiếu đất, ít việc làm. Có chính sách và biện pháp phát triển ngành nghề thủ công nghiệp và công nghiệp hoá nông thôn nhằm tăng thu nhập ngoài nông nghiệp cho nông dân, áp dụng cơ giới hoá nông nghiệp bằng hệ thống máy móc nông nghiệp cỡ lớn, vừa thích hợp với vùng đất trũng. Hiện nay có từ 60-80% số hộ nông dân được bồi dưỡng, biết sử dụng máy móc để cơ giới hoá khâu làm đất, bơm nước, đập n 19 tuốt, xay xát gạo, vận chuyển ở nông thôn.
Nền kinh tế Malaysia luôn phát triển bám sát theo bốn con rồng Châu Á [8]. • Kinh nghiệm từ Ấn Độ: Là một nước ở Châu Á giai đoạn đầu thực hiện phát triển kinh tế xã hội đất nước không mấy thành công. Họ tiến hành công nghiệp hoá theo mô hình thay thế nhập khẩu, xây dựng các ngànhthen chốt ở các khu đô thị. Nền nông nghiệp không được chú ý nên luôn ở tình trạng nghèo nàn, lạc hậu.
Đến năm 1970 Ấn Độ chú trọng đến công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn, liên tiếp qua các cuộc cách mạng “cách mạng xanh” sau đó là cuộc “cách mạng trắng” coi đây là một bước đột phá để phát triển đất nước. Trong những năm đầu của thập kỷ 90 Chính phủ Ấn Độ tiếp tục có chính sách cải thiện mức sống cho dân cư vùng nông thôn và phát triển nguồn nhân lực đó là xúc tiến công nghiệp nhỏ ở nông thôn theo chương trình công nghiệp hoá với một đất nước gần 1 tỷ dân trong đó 75% dân số sống bằng nghề nông. Nét mới trong phát triển công nghiệp nông thôn Ấn Độ là chỗ: - Chính phủ đầu tư sử dụng và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ để phát triển CNH - HĐH nông nghiệp nông thôn như sử dụng công nghệ ít vốn cần nhiều lao động, có chính sách cho người vay vốn để sản xuất, triển khai các chương trình của chính phủ tại các địa phương. - Nhà nước có chương trình bồi dưỡng và chính sách sử dụng cán bộ nhất là đội ngũ cán bộ nhằm mục tiêu phát triển kinh tế xã hội nông thôn và tiến tới công nghiệp hoá nông thôn ở mọi mức độ từ doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ ở làng, xóm tới huyện, thị.
Điểm nổi bật của Ấn Độ là sự quan tâm của chính phủ đối với vấn đề giáo dục và bồi dưỡng kiến thức cho nhân dân về môi trường và sinh thái. Cuộc “cách mạng xanh” đã thực hiện ở mọi nơi kể cả nông thôn lẫn thành thị. n 20 Với những thành tựu nổi bật của công nghiệp hoá nông thôn đã đưa năng suất cây trồng, vật nuôi tăng lên rõ rệt. Một số kinh nghiệm về sử dụng bồi dưỡng đội ngũ cán bộ nông nghiệp phục vụ phát triển kinh tế - xã hội nông thôn ở một số nước Châu Á: + Cán bộ nông nghiệp triển khai tập huấn các ứng dụng công nghệ cho sản xuất, phát triển ngành nghề khai thác tiềm năng sẵn có tại địa phương.
+ Quá trình phát triển kinh tề xã hội nông thôn ở các nước thường xẩy ra mất cân đối giữa cán bộ nông nghiệp ở nông thôn và trung tâm thành phố, thành thị nếu chúng ta không có chính sách đãi ngộ thích hợp thì chúng ta sẽ không thu hút được đội ngũ cán bộ nông nghiệp đã qua đào tạo, đó là sự lãng phí lớn về vật chất và ngày càng tạo ra khoảng cách lớn giữa thành thị và nông thôn [8]. Kinh nghiệm ở một số địa phương tại Việt Nam • Kinh nghiệm ở tỉnh Tiền Giang Tiền Giang là tỉnh nông nghiệp, diện tích đất nông nghiệp chiếm gần 80% diện tích đất tự nhiên có 139 xã nông thôn trên tổng số 173 xã, phường, thị trấn, có khoảng 1,4/1,7 triệu dân sống và sản xuất ở nông thôn. Để góp phần làm thay đổi diện mạo nông nghiệp – nông thôn, với tinh thần chủ động tích cực đồng hành cùng phong trào xây dựng nông thôn mới tại 29 xã thí điểm giai đoạn 2011 – 2015, khuyến nông Tiền Giang đang phối hợp với các cấp các ngành, các địa phương và bà con nông dân tập trung mọi nguồn lực, trí tuệ, quyết tâm đẩy mạnh phát triển sản xuất để nông hộ vươn lên thoát nghèo, làm giàu. Qua đó, người nông dân có cuộc sống tốt hơn về vật chất và tinh thần.