Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Lý luận về sở hữu và hình thức sở hữu Sở hữu là một vấn đề phức tạp, có tính chất liên ngành; vì vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu ở những góc độ khác nhau. Khái niệm sở hữu Các công trình nghiên cứu khi bàn đến khái niệm sở hữu thường tập trung vào việc làm rõ một số vấn đề cơ bản như: Trước đây khái niệm sở hữu có được sử dụng hay không? Nếu có thì nó được sử dụng với nghĩa như thế nào và có thống nhất hay không? Sở hữu là phạm trù lịch sử hay phạm trù vĩnh viễn? Khái niệm sở hữu theo quan điểm của C.Ăngghen như thế nào? Theo tác giả Trần Ngọc Linh, khái niệm sở hữu đã trải qua một quá trình lịch sử phát triển lâu đời. Trong suốt nhiều thế kỷ trước, khái niệm “sở hữu” hoặc là tuyệt nhiên không được sử dụng, hoặc đã được dùng với những nghĩa khác xa nghĩa ngày nay.
Chẳng hạn, khi nói về tài sản, của cải, Aristốt có nói tới chiếm giữ chúng, chứ không phải sở hữu. Khái niệm sở hữu đã xuất hiện vào thế kỷ XVII. Trong thời kỳ mà tư tưởng quyền tự nhiên được phổ biến rộng rãi. Xung quanh quan niệm về sở hữu đã có hai khuynh hướng tư tưởng; đó là khuynh hướng tư tưởng của các nhà triết học Locke, Smith và khuynh hướng tư tưởng của các nhà luật học Savigny, Rútxô.Ăngghen đã tiếp thu một cách có chọn lọc những quan điểm nêu trên về sở hữu và đưa ra những quan điểm khoa học về sở hữu dựa trên lập trường của chủ nghĩa duy vật.Ăngghen, sở hữu là một quan hệ xã hội mang tính lịch sử cụ thể; vì thế, để nghiên cứu khái niệm sở hữu thì cần phân tích nền sản xuất xã hội.
Cơ sở của sở hữu là mối quan hệ qua lại của con người đối với tư liệu sản xuất. Sở hữu là quan hệ đối với những điều kiện của sản xuất. Sở hữu luôn có hai nội dung kinh 10 tế và pháp lý. Nội dung kinh tế của sở hữu trước hết thể hiện ở chỗ, nó là cơ sở, là điều kiện của sản xuất.
Nói đến sở hữu là nói đến những điều kiện của sản xuất. Mặt khác, nội dung kinh tế của sở hữu còn thể hiện ở mặt lợi ích kinh tế, mặt quyền lợi vật chất (sở hữu đã đem lại lợi ích kinh tế như thế nào cho chủ sở hữu). Đây là nội dung cơ bản nhất, có tính chất quyết định. Nội dung pháp lý của sở hữu thể hiện ở chỗ, pháp luật quy định bảo vệ đối với chủ thể sở hữu như thế nào.
Hai nội dung trên của sở hữu có quan hệ biện chứng với nhau [109]. Khi đề cập đến khái niệm sở hữu, nhìn chung các tác giả đều thống nhất cho rằng, sở hữu là mối quan hệ giữa người với người trong chiếm hữu của cải vật chất, là biểu hiện về mặt xã hội của chiếm hữu; sở hữu thường gắn với chủ thể sở hữu, đối tượng sở hữu và quyền sở hữu. Quyền sở hữu là một phạm trù tích tụ trong nó nhiều quyền, nhưng tựu trung lại có ba quyền cơ bản là chiếm hữu, sử dụng và định đoạt. Trong đề tài Luận án tiến sỹ triết học “Xu hướng và đặc điểm của quá trình đa dạng hóa các hình thức sở hữu theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” tác giả Vũ Hồng Sơn cho rằng, sở hữu theo nghĩa chung nhất là mối quan hệ giữa người với người trong chiếm hữu của cải vật chất.
Sở hữu là biểu hiện về mặt xã hội của chiếm hữu. Nó là phạm trù lịch sử, là quan hệ xã hội nhất định. Quan hệ này thay đổi tùy theo sự thay đổi của những điều kiện kinh tế - xã hội trong đời sống xã hội. Chủ thể sở hữu (người sở hữu) có khả năng và quyền chiếm hữu đối tượng sở hữu.
Đối tượng sở hữu là phía thụ động của quan hệ sở hữu. Đó có thể là những đồ vật, năng lượng, thông tin, của cải, trí tuệ. Ngày nay, cùng với sự phát triển của xã hội, của xã hội hóa sản xuất, của kinh tế hàng hóa, quyền sử dụng có thể tách khỏi quyền sở hữu [167]. Nhiều tác giả cho rằng, muốn giải quyết những vấn đề cụ thể trong thực tiễn đời sống xã hội thì không thể không giải quyết những vấn đề lý 11 luận – phương pháp luận về sở hữu, bắt đầu từ việc định nghĩa khái niệm sở hữu.
Trong một vài năm gần đây, nhiều người đã tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận về sở hữu; luận giải về sự đa dạng hóa các hình thức sở hữu xã hội chủ nghĩa, tính chất đan xen và tác động qua lại lẫn nhau của chúng. Trong cuốn Về vấn đề sở hữu do Nguyễn Thị Luyến chủ biên, tác giả chỉ ra rằng, vấn đề sở hữu rất phức tạp và đang còn nhiều ý kiến rất khác nhau. Trong công cuộc cải cách kinh tế ở Liên Xô, Trung Quốc và các nước Đông Âu, người ta bàn rất nhiều về vấn đề sở hữu. Thực tiễn của các nước nói trên đã chỉ ra rằng, nếu không nghiên cứu, giải quyết một cách đúng đắn, triệt để vấn đề sở hữu thì khó có thể đưa nền kinh tế vượt qua tình trạng trì trệ, khủng hoảng.
Đã có không ít lời phê phán nhận thức cũ, những quan niệm cũ đem quy giản các quan hệ sở hữu trong chủ nghĩa xã hội chỉ về hai hình thức sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể, trong đó các chủ thể sở hữu hết sức trừu tượng, chung chung. Cũng có nhiều công trình nghiên cứu thừa nhận sự tồn tại đa dạng các hình thức sở hữu trong chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, khi đi vào giải quyết những vấn đề cụ thể, người ta thấy không thể tiến bước được nếu không giải quyết những vấn đề lý luận – phương pháp luận về sở hữu. Đó thật sự là những vấn đề phức tạp đang nổi lên trong quá trình chuyển sang kinh tế thị trường [129].
Trong bài “Những quan điểm khoa học cốt lõi của chủ nghĩa Mác - Lênin về sở hữu và việc vận dụng vào quá trình xây dựng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” tác giả Đỗ Thế Tùng cho rằng, sở hữu là quan hệ xã hội nên ít nhất phải có hai người trở lên có liên quan tới một đối tượng nhất định mới đặt ra vấn đề sở hữu; nếu đơn độc như Robinsơn trên hoang đảo thì chỉ có chiếm hữu và sử dụng, chứ không cần nói tới sở hữu; sở hữu xác định một vật là của ai, do ai chi phối. Quan hệ sở hữu khi được thể chế hóa thành các quy phạm pháp luật thì được gọi là chế độ sở hữu. Khi chủ sở hữu tư liệu sản xuất là một cộng 12 đồng thì sở hữu được gọi là sở hữu công cộng (công hữu); khi chủ sở hữu tư liệu sản xuất là một người hay một vài người thì đó là sở hữu tư nhân (tư hữu); khi chủ sở hữu đan xen, gồm cả công hữu và tư hữu thì đó là sở hữu hỗn hợp. Còn sở hữu tư liệu tiêu dùng là sở hữu cá nhân.
Thông thường ở mỗi nước cùng tồn tại cả ba loại hình: công hữu, tư hữu và sở hữu hỗn hợp. Nếu sở hữu tư nhân chiếm vị trí thống trị thì đó là chế độ tư hữu, nếu sở hữu công cộng giữ địa vị thống trị thì đó là chế độ công hữu [194]. Có tác giả cho rằng, chế độ sở hữu là vấn đề căn bản nhất của chế độ kinh tế - xã hội, bởi vì chỉ trên cơ sở giải quyết đúng đắn vấn đề sở hữu mới có căn cứ để giải quyết các vấn đề động lực, lợi ích kinh tế, chính trị, pháp quyền và xã hội. Ví dụ, trong bài “Một số nhận thức cơ bản về sở hữu và nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam” tác giả Phạm Quang Phan cho rằng, sở hữu là một phạm trù xuất phát và cơ bản của kinh tế học; sở hữu phản ánh quan hệ giữa con người với con người trong việc chiếm hữu tư liệu sản xuất và của cải được tạo ra nhờ tư liệu sản xuất ấy.
Các nhà lý luận tư sản coi sở hữu tư liệu sản xuất chỉ là quan hệ giữa người với vật (của ai ?). Ngược lại, quan điểm mác-xít lại coi sở hữu về tư liệu sản xuất là quan hệ giữa người với người, giữa các giai cấp với nhau (ai với ai?); quan hệ này thay đổi theo sự thay đổi của những điều kiện kinh tế - xã hội. Sở hữu về tư liệu sản xuất đóng vai trò chủ yếu trong việc chiếm hữu của cải vật chất, nó quyết định tính chất của chế độ xã hội. Phạm trù sở hữu khi được luật hóa thì trở thành quyền sở hữu và khi được thực hiện qua một cơ chế nhất định thì gọi là chế độ sở hữu.
Chế độ sở hữu là vấn đề căn bản nhất của chế độ kinh tế - xã hội [100]. Các công trình nghiên cứu của các tác giả trên cho thấy, khi nghiên cứu các vấn đề cụ thể thì cần bắt đầu từ việc giải quyết những vấn đề lý luận xung quanh khái niệm sở hữu. Vai trò của sở hữu tư liệu sản xuất Khi nói về vai trò của sở hữu tư liệu sản xuất, các tác giả đều coi sở hữu là một trong ba bộ phận hợp thành quan hệ sản xuất, là yếu tố quan trọng nhất quyết định các yếu tố còn lại. Trong cuốn sách “Nhìn lại quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng 1986-2005”, tác giả Nguyễn Đình Kháng chỉ ra rằng, trong ba mặt của quan hệ sản xuất (quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất, quan hệ tổ chức và quản lý, quan hệ phân phối sản phẩm) thì quan hệ sở hữu là mặt chủ yếu nhất.
Trong xã hội có giai cấp, giai cấp nào nắm giữ sở hữu tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội thì giai cấp đó nắm quyền thống trị xã hội về mặt kinh tế và do đó, thống trị về chính trị, tư tưởng. Quan hệ sản xuất là bộ phận hạ tầng cơ sở trên đó có các quan hệ thuộc thượng tầng kiến trúc xã hội. Trong toàn bộ hệ thống quan hệ xã hội nói chung thì quan hệ sản xuất (mà hạt nhân của nó là quan hệ sở hữu) có tính quyết định đối với thượng tầng kiến trúc.