Các hình thức sở hữu và vai trò của chúng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở việt nam hiện nay

Bài viết phân tích các hình thức sở hữu và vai trò của chúng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2013

170
17
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1. Lý luận về sở hữu và hình thức sở hữu

1.2. Vai trò của các hình thức sở hữu trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

1.3. Những giải pháp cho vấn đề sở hữu

2. CHƯƠNG 2: SỞ HỮU TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

2.1. Sở hữu và hình thức sở hữu

2.2. Sự vận động biến đổi của các hình thức sở hữu trong lịch sử

2.3. Quan điểm của C.Lênin về sở hữu và việc vận dụng quan điểm đó ở Việt Nam

2.4. Mối liên hệ và sự phối hợp giữa các hình thức sở hữu trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay

3. CHƯƠNG 3: VAI TRÒ CỦA CÁC HÌNH THỨC SỞ HỮU TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY: THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA

3.1. Thực trạng vai trò của các hình thức sở hữu ở Việt Nam hiện nay

3.2. Những vấn đề đặt ra đối với vai trò của các hình thức sở hữu ở Việt Nam hiện nay

4. CHƯƠNG 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA CÁC HÌNH THỨC SỞ HỮU TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

4.1. Những giải pháp nhằm phát huy vai trò của các hình thức sở hữu ở Việt Nam hiện nay

KẾT LUẬN

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Kinh Tế Thị Trường Định Hướng XHCN Ở VN

Đại hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam đánh dấu 25 năm đổi mới, đạt thành tựu to lớn. Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tiếp tục xây dựng, hoàn thiện. Văn hóa, xã hội có thành tựu quan trọng, đặc biệt xóa đói giảm nghèo. Đời sống vật chất và tinh thần nhân dân được cải thiện. Chính trị - xã hội ổn định, quốc phòng an ninh được giữ vững. Hội nhập quốc tế sâu rộng, hiệu quả, tạo môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển. Diện mạo đất nước thay đổi, thế và lực vững mạnh, vị thế quốc tế nâng cao, tạo tiền đề cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nâng cao chất lượng cuộc sống [51, tr.]. Thành tựu có đóng góp quan trọng từ đổi mới nhận thức và áp dụng sáng tạo vấn đề sở hữu của chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn.

1.1. Nghiên Cứu Về Sở Hữu và Các Hình Thức Sở Hữu

Nghiên cứu về sở hữu là vấn đề phức tạp, liên ngành, được xem xét ở nhiều góc độ. Các công trình tập trung làm rõ khái niệm sở hữu, quá trình phát triển lịch sử, và quan điểm của các nhà tư tưởng như Aristốt, Locke, Savigny, Rútxô, Ăngghen. Sở hữu được định nghĩa là quan hệ xã hội mang tính lịch sử cụ thể, liên quan đến mối quan hệ giữa con người với tư liệu sản xuất. Sở hữu luôn có hai nội dung kinh tế và pháp lý, liên quan đến lợi ích kinh tế và quyền lợi vật chất, cũng như quy định bảo vệ của pháp luật đối với chủ thể sở hữu.

1.2. Vai Trò Của Các Hình Thức Sở Hữu Trong Kinh Tế Thị Trường

Các hình thức sở hữu đóng vai trò quan trọng trong kinh tế thị trường, đặc biệt là trong việc phân bổ nguồn lực và tạo động lực cho phát triển. Nghiên cứu về vai trò của các hình thức sở hữu nhấn mạnh đến sự đa dạng và đan xen giữa các hình thức sở hữu như sở hữu nhà nước, sở hữu tư nhân, và sở hữu hỗn hợp. Việc hiểu rõ vai trò của từng hình thức sở hữu là rất quan trọng để có thể thúc đẩy sự phát triển kinh tế một cách bền vững và hiệu quả. Thêm vào đó, yếu tố chính sách và pháp luật cũng cần được xem xét để đảm bảo sự công bằng và minh bạch trong quá trình phát triển.

II. Vấn Đề Sở Hữu Trong Nền Kinh Tế Thị Trường Thách Thức

Tuy nhiên, biến động kinh tế thế giới, đặc biệt là khủng hoảng tài chính, đã tác động đến Việt Nam, làm lộ ra khó khăn trong cơ cấu kinh tế và cơ chế quản lý. Hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách về vấn đề sở hữu chưa đồng bộ. Quản lý, phân phối chưa tốt. Còn phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế. Thị trường hình thành chậm, vận hành chưa thông suốt. Cạnh tranh không lành mạnh, trốn lậu thuế, gian lận thương mại còn nhiều. Cải cách hành chính chậm, tham nhũng, lãng phí nghiêm trọng. Khoảng cách giàu nghèo ngày càng xa, an sinh xã hội chưa phát triển. Kinh tế phát triển chưa bền vững, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh thấp, chuyển dịch cơ cấu chậm. Một nguyên nhân là do vai trò các hình thức sở hữu chưa được phát huy đầy đủ.

2.1. Bất Cập Trong Quản Lý Sở Hữu Nhà Nước

Quản lý sở hữu nhà nước còn nhiều bất cập, từ hiệu quả sử dụng vốn, tài sản đến minh bạch thông tin. Việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước còn chậm, chưa triệt để, dẫn đến tình trạng lãng phí, thất thoát tài sản công. Cơ chế giám sát, kiểm tra chưa hiệu quả, tạo kẽ hở cho tham nhũng, lợi ích nhóm. Cần có giải pháp để nâng cao hiệu quả quản lý sở hữu nhà nước, đảm bảo nguồn lực được sử dụng hiệu quả, phục vụ lợi ích chung của xã hội.

2.2. Hạn Chế Của Sở Hữu Tư Nhân và Sở Hữu Hỗn Hợp

Sở hữu tư nhânsở hữu hỗn hợp cũng gặp nhiều hạn chế, như thiếu vốn, công nghệ, trình độ quản lý. Môi trường kinh doanh chưa thực sự bình đẳng, còn nhiều rào cản đối với doanh nghiệp tư nhân. Doanh nghiệp sở hữu hỗn hợp gặp khó khăn trong việc hài hòa lợi ích giữa các bên, đặc biệt là giữa nhà nước và tư nhân. Cần có chính sách hỗ trợ, tạo điều kiện để sở hữu tư nhânsở hữu hỗn hợp phát triển, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế.

III. Giải Pháp Phát Huy Vai Trò Sở Hữu Trong Kinh Tế Việt Nam

Để tạo điều kiện cho lực lượng sản xuất phát triển, cần hoàn thiện quan hệ sản xuất theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Muốn vậy, cần hiểu rõ vai trò từng hình thức sở hữu và giải quyết tốt vấn đề sở hữu. Vì vậy, cần nghiên cứu đề tài “Các hình thức sở hữuvai trò của chúng trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay”. Mục đích là làm sáng tỏ lý luận và thực tiễn về các hình thức sở hữu, đề xuất giải pháp phát huy vai trò của chúng.

3.1. Hoàn Thiện Thể Chế Pháp Luật Về Sở Hữu

Thể chế pháp luật về sở hữu cần được hoàn thiện đồng bộ, minh bạch, đảm bảo quyền sở hữu được bảo vệ một cách hiệu quả. Cần sửa đổi, bổ sung các quy định về quyền sở hữu, quyền sử dụng đất, quyền kinh doanh, quyền sở hữu trí tuệ... Đảm bảo sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh. Pháp luật cần đi trước, tạo hành lang pháp lý cho sự phát triển của các hình thức sở hữu mới.

3.2. Nâng Cao Năng Lực Quản Lý Nhà Nước Về Sở Hữu

Quản lý nhà nước về sở hữu cần được nâng cao hiệu quả, từ việc đăng ký sở hữu, quản lý sở hữu nhà nước, đến giải quyết tranh chấp về sở hữu. Cần tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật về sở hữu. Xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về sở hữu, đặc biệt là tham nhũng, lợi ích nhóm. Xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về sở hữu có năng lực, phẩm chất, đáp ứng yêu cầu của tình hình mới.

3.3. Thúc Đẩy Phát Triển Các Loại Hình Sở Hữu Hỗn Hợp

Phát triển các loại hình sở hữu hỗn hợp, đặc biệt là hợp tác công tư (PPP), để huy động nguồn lực từ xã hội cho phát triển kinh tế - xã hội. Cần có cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp nhà nước và tư nhân hợp tác, liên kết, tạo ra sức mạnh tổng hợp. Đảm bảo sự hài hòa lợi ích giữa các bên, tạo động lực cho phát triển bền vững. Sở hữu hỗn hợp cần được quản lý chặt chẽ, minh bạch, tránh tình trạng lợi dụng, trục lợi.

IV. Nghiên Cứu Thực Trạng Vai Trò Sở Hữu Ở Việt Nam Hiện Nay

Luận án sẽ làm rõ một số vấn đề lý luận về sở hữu trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Phân tích thực trạng các hình thức sở hữu và những vấn đề đặt ra. Đưa ra quan điểm và giải pháp nhằm phát huy vai trò các hình thức sở hữu. Đối tượng nghiên cứu là vai trò các hình thức sở hữu trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay. Phạm vi nghiên cứu là giai đoạn phát triển kinh tế của Việt Nam trong khoảng 15 năm trở lại đây.

4.1. Thực Trạng Các Hình Thức Sở Hữu Cơ Bản

Sở hữu nhà nước, sở hữu tư nhân, và sở hữu hỗn hợp là ba hình thức sở hữu cơ bản trong nền kinh tế Việt Nam. Nghiên cứu sẽ đánh giá thực trạng phát triển của từng hình thức, từ quy mô, hiệu quả, đến đóng góp vào tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, và thu ngân sách. Đánh giá những ưu điểm, hạn chế của từng hình thức sở hữu, và những tác động đến sự phát triển kinh tế - xã hội.

4.2. Vấn Đề Đặt Ra Đối Với Vai Trò Các Hình Thức Sở Hữu

Quá trình phát triển kinh tế - xã hội đặt ra nhiều vấn đề đối với vai trò của các hình thức sở hữu, như sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập, ô nhiễm môi trường, và an sinh xã hội. Cần có giải pháp để giải quyết những vấn đề này, đảm bảo sự phát triển bền vững và công bằng. Nghiên cứu sẽ phân tích những vấn đề đặt ra, và đề xuất các giải pháp phù hợp với điều kiện của Việt Nam.

V. Đề Xuất Giải Pháp Phát Huy Vai Trò Sở Hữu Trong KT Việt

Luận án đóng góp vào hệ thống hóa lý luận về sở hữu, sở hữu tư liệu sản xuất trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Làm rõ thêm thực trạng các hình thức sở hữu cơ bản. Đưa ra một số giải pháp nhằm phát huy vai trò các hình thức sở hữu. Luận án cung cấp thêm tri thức về vấn đề sở hữuvai trò của các hình thức sở hữu ở Việt Nam hiện nay. Nội dung nghiên cứu và kết quả đạt được có thể làm tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy và nghiên cứu vấn đề sở hữu ở Việt Nam hiện nay.

5.1. Quan Điểm Chỉ Đạo Phát Triển Các Hình Thức Sở Hữu

Phát triển các hình thức sở hữu cần tuân thủ các quan điểm chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa. Phát triển kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội. Phát huy vai trò của nhà nước trong điều tiết kinh tế, đảm bảo lợi ích của người lao động và cộng đồng. Khuyến khích sự sáng tạo, đổi mới, và cạnh tranh lành mạnh.

5.2. Giải Pháp Cụ Thể Để Phát Huy Vai Trò Các Hình Thức Sở Hữu

Các giải pháp cụ thể cần tập trung vào hoàn thiện thể chế pháp luật, nâng cao năng lực quản lý nhà nước, thúc đẩy phát triển các loại hình sở hữu hỗn hợp, và giải quyết những vấn đề đặt ra đối với vai trò của các hình thức sở hữu. Cần có sự phối hợp đồng bộ giữa các giải pháp, và sự tham gia của các bên liên quan, để đạt được hiệu quả cao nhất. Điều quan trọng là phải xây dựng được một nền kinh tế thị trường năng động, hiệu quả, và công bằng.

VI. Tương Lai và Phát Triển Sở Hữu trong Nền KT Việt Nam

Việc nghiên cứu và phát triển các hình thức sở hữu trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là một quá trình liên tục và cần được điều chỉnh phù hợp với sự thay đổi của tình hình kinh tế - xã hội trong nước và quốc tế. Cần tiếp tục nghiên cứu, đánh giá, và học hỏi kinh nghiệm của các nước khác để có thể xây dựng một hệ thống sở hữu hiệu quả và bền vững, đóng góp vào sự phát triển của đất nước.

6.1. Hướng Phát Triển Mới Của Các Hình Thức Sở Hữu

Trong bối cảnh mới, các hình thức sở hữu cần phát triển theo hướng đa dạng hóa, linh hoạt hóa, và thích ứng với sự phát triển của khoa học công nghệ và hội nhập quốc tế. Cần khuyến khích sự hình thành các hình thức sở hữu mới, như sở hữu trí tuệ, sở hữu dữ liệu, và sở hữu cộng đồng, để khai thác hiệu quả các nguồn lực mới.

6.2. Vai Trò Của Nhà Nước Trong Định Hướng Phát Triển Sở Hữu

Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng phát triển các hình thức sở hữu, đảm bảo sự phát triển hài hòa giữa các thành phần kinh tế, và bảo vệ lợi ích của người dân. Nhà nước cần xây dựng một hệ thống chính sách và pháp luật minh bạch, công bằng, và hiệu quả, để tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển của các hình thức sở hữu.

24/05/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Lý luận về sở hữu và hình thức sở hữu Sở hữu là một vấn đề phức tạp, có tính chất liên ngành; vì vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu ở những góc độ khác nhau. Khái niệm sở hữu Các công trình nghiên cứu khi bàn đến khái niệm sở hữu thường tập trung vào việc làm rõ một số vấn đề cơ bản như: Trước đây khái niệm sở hữu có được sử dụng hay không? Nếu có thì nó được sử dụng với nghĩa như thế nào và có thống nhất hay không? Sở hữu là phạm trù lịch sử hay phạm trù vĩnh viễn? Khái niệm sở hữu theo quan điểm của C.Ăngghen như thế nào? Theo tác giả Trần Ngọc Linh, khái niệm sở hữu đã trải qua một quá trình lịch sử phát triển lâu đời. Trong suốt nhiều thế kỷ trước, khái niệm “sở hữu” hoặc là tuyệt nhiên không được sử dụng, hoặc đã được dùng với những nghĩa khác xa nghĩa ngày nay.

Chẳng hạn, khi nói về tài sản, của cải, Aristốt có nói tới chiếm giữ chúng, chứ không phải sở hữu. Khái niệm sở hữu đã xuất hiện vào thế kỷ XVII. Trong thời kỳ mà tư tưởng quyền tự nhiên được phổ biến rộng rãi. Xung quanh quan niệm về sở hữu đã có hai khuynh hướng tư tưởng; đó là khuynh hướng tư tưởng của các nhà triết học Locke, Smith và khuynh hướng tư tưởng của các nhà luật học Savigny, Rútxô.Ăngghen đã tiếp thu một cách có chọn lọc những quan điểm nêu trên về sở hữu và đưa ra những quan điểm khoa học về sở hữu dựa trên lập trường của chủ nghĩa duy vật.Ăngghen, sở hữu là một quan hệ xã hội mang tính lịch sử cụ thể; vì thế, để nghiên cứu khái niệm sở hữu thì cần phân tích nền sản xuất xã hội.

Cơ sở của sở hữu là mối quan hệ qua lại của con người đối với tư liệu sản xuất. Sở hữu là quan hệ đối với những điều kiện của sản xuất. Sở hữu luôn có hai nội dung kinh 10 tế và pháp lý. Nội dung kinh tế của sở hữu trước hết thể hiện ở chỗ, nó là cơ sở, là điều kiện của sản xuất.

Nói đến sở hữu là nói đến những điều kiện của sản xuất. Mặt khác, nội dung kinh tế của sở hữu còn thể hiện ở mặt lợi ích kinh tế, mặt quyền lợi vật chất (sở hữu đã đem lại lợi ích kinh tế như thế nào cho chủ sở hữu). Đây là nội dung cơ bản nhất, có tính chất quyết định. Nội dung pháp lý của sở hữu thể hiện ở chỗ, pháp luật quy định bảo vệ đối với chủ thể sở hữu như thế nào.

Hai nội dung trên của sở hữu có quan hệ biện chứng với nhau [109]. Khi đề cập đến khái niệm sở hữu, nhìn chung các tác giả đều thống nhất cho rằng, sở hữu là mối quan hệ giữa người với người trong chiếm hữu của cải vật chất, là biểu hiện về mặt xã hội của chiếm hữu; sở hữu thường gắn với chủ thể sở hữu, đối tượng sở hữu và quyền sở hữu. Quyền sở hữu là một phạm trù tích tụ trong nó nhiều quyền, nhưng tựu trung lại có ba quyền cơ bản là chiếm hữu, sử dụng và định đoạt. Trong đề tài Luận án tiến sỹ triết học “Xu hướng và đặc điểm của quá trình đa dạng hóa các hình thức sở hữu theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” tác giả Vũ Hồng Sơn cho rằng, sở hữu theo nghĩa chung nhất là mối quan hệ giữa người với người trong chiếm hữu của cải vật chất.

Sở hữu là biểu hiện về mặt xã hội của chiếm hữu. Nó là phạm trù lịch sử, là quan hệ xã hội nhất định. Quan hệ này thay đổi tùy theo sự thay đổi của những điều kiện kinh tế - xã hội trong đời sống xã hội. Chủ thể sở hữu (người sở hữu) có khả năng và quyền chiếm hữu đối tượng sở hữu.

Đối tượng sở hữu là phía thụ động của quan hệ sở hữu. Đó có thể là những đồ vật, năng lượng, thông tin, của cải, trí tuệ. Ngày nay, cùng với sự phát triển của xã hội, của xã hội hóa sản xuất, của kinh tế hàng hóa, quyền sử dụng có thể tách khỏi quyền sở hữu [167]. Nhiều tác giả cho rằng, muốn giải quyết những vấn đề cụ thể trong thực tiễn đời sống xã hội thì không thể không giải quyết những vấn đề lý 11 luận – phương pháp luận về sở hữu, bắt đầu từ việc định nghĩa khái niệm sở hữu.

Trong một vài năm gần đây, nhiều người đã tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận về sở hữu; luận giải về sự đa dạng hóa các hình thức sở hữu xã hội chủ nghĩa, tính chất đan xen và tác động qua lại lẫn nhau của chúng. Trong cuốn Về vấn đề sở hữu do Nguyễn Thị Luyến chủ biên, tác giả chỉ ra rằng, vấn đề sở hữu rất phức tạp và đang còn nhiều ý kiến rất khác nhau. Trong công cuộc cải cách kinh tế ở Liên Xô, Trung Quốc và các nước Đông Âu, người ta bàn rất nhiều về vấn đề sở hữu. Thực tiễn của các nước nói trên đã chỉ ra rằng, nếu không nghiên cứu, giải quyết một cách đúng đắn, triệt để vấn đề sở hữu thì khó có thể đưa nền kinh tế vượt qua tình trạng trì trệ, khủng hoảng.

Đã có không ít lời phê phán nhận thức cũ, những quan niệm cũ đem quy giản các quan hệ sở hữu trong chủ nghĩa xã hội chỉ về hai hình thức sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể, trong đó các chủ thể sở hữu hết sức trừu tượng, chung chung. Cũng có nhiều công trình nghiên cứu thừa nhận sự tồn tại đa dạng các hình thức sở hữu trong chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, khi đi vào giải quyết những vấn đề cụ thể, người ta thấy không thể tiến bước được nếu không giải quyết những vấn đề lý luận – phương pháp luận về sở hữu. Đó thật sự là những vấn đề phức tạp đang nổi lên trong quá trình chuyển sang kinh tế thị trường [129].

Trong bài “Những quan điểm khoa học cốt lõi của chủ nghĩa Mác - Lênin về sở hữu và việc vận dụng vào quá trình xây dựng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” tác giả Đỗ Thế Tùng cho rằng, sở hữu là quan hệ xã hội nên ít nhất phải có hai người trở lên có liên quan tới một đối tượng nhất định mới đặt ra vấn đề sở hữu; nếu đơn độc như Robinsơn trên hoang đảo thì chỉ có chiếm hữu và sử dụng, chứ không cần nói tới sở hữu; sở hữu xác định một vật là của ai, do ai chi phối. Quan hệ sở hữu khi được thể chế hóa thành các quy phạm pháp luật thì được gọi là chế độ sở hữu. Khi chủ sở hữu tư liệu sản xuất là một cộng 12 đồng thì sở hữu được gọi là sở hữu công cộng (công hữu); khi chủ sở hữu tư liệu sản xuất là một người hay một vài người thì đó là sở hữu tư nhân (tư hữu); khi chủ sở hữu đan xen, gồm cả công hữu và tư hữu thì đó là sở hữu hỗn hợp. Còn sở hữu tư liệu tiêu dùng là sở hữu cá nhân.

Thông thường ở mỗi nước cùng tồn tại cả ba loại hình: công hữu, tư hữu và sở hữu hỗn hợp. Nếu sở hữu tư nhân chiếm vị trí thống trị thì đó là chế độ tư hữu, nếu sở hữu công cộng giữ địa vị thống trị thì đó là chế độ công hữu [194]. Có tác giả cho rằng, chế độ sở hữu là vấn đề căn bản nhất của chế độ kinh tế - xã hội, bởi vì chỉ trên cơ sở giải quyết đúng đắn vấn đề sở hữu mới có căn cứ để giải quyết các vấn đề động lực, lợi ích kinh tế, chính trị, pháp quyền và xã hội. Ví dụ, trong bài “Một số nhận thức cơ bản về sở hữu và nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam” tác giả Phạm Quang Phan cho rằng, sở hữu là một phạm trù xuất phát và cơ bản của kinh tế học; sở hữu phản ánh quan hệ giữa con người với con người trong việc chiếm hữu tư liệu sản xuất và của cải được tạo ra nhờ tư liệu sản xuất ấy.

Các nhà lý luận tư sản coi sở hữu tư liệu sản xuất chỉ là quan hệ giữa người với vật (của ai ?). Ngược lại, quan điểm mác-xít lại coi sở hữu về tư liệu sản xuất là quan hệ giữa người với người, giữa các giai cấp với nhau (ai với ai?); quan hệ này thay đổi theo sự thay đổi của những điều kiện kinh tế - xã hội. Sở hữu về tư liệu sản xuất đóng vai trò chủ yếu trong việc chiếm hữu của cải vật chất, nó quyết định tính chất của chế độ xã hội. Phạm trù sở hữu khi được luật hóa thì trở thành quyền sở hữu và khi được thực hiện qua một cơ chế nhất định thì gọi là chế độ sở hữu.

Chế độ sở hữu là vấn đề căn bản nhất của chế độ kinh tế - xã hội [100]. Các công trình nghiên cứu của các tác giả trên cho thấy, khi nghiên cứu các vấn đề cụ thể thì cần bắt đầu từ việc giải quyết những vấn đề lý luận xung quanh khái niệm sở hữu. Vai trò của sở hữu tư liệu sản xuất Khi nói về vai trò của sở hữu tư liệu sản xuất, các tác giả đều coi sở hữu là một trong ba bộ phận hợp thành quan hệ sản xuất, là yếu tố quan trọng nhất quyết định các yếu tố còn lại. Trong cuốn sách “Nhìn lại quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng 1986-2005”, tác giả Nguyễn Đình Kháng chỉ ra rằng, trong ba mặt của quan hệ sản xuất (quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất, quan hệ tổ chức và quản lý, quan hệ phân phối sản phẩm) thì quan hệ sở hữu là mặt chủ yếu nhất.

Trong xã hội có giai cấp, giai cấp nào nắm giữ sở hữu tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội thì giai cấp đó nắm quyền thống trị xã hội về mặt kinh tế và do đó, thống trị về chính trị, tư tưởng. Quan hệ sản xuất là bộ phận hạ tầng cơ sở trên đó có các quan hệ thuộc thượng tầng kiến trúc xã hội. Trong toàn bộ hệ thống quan hệ xã hội nói chung thì quan hệ sản xuất (mà hạt nhân của nó là quan hệ sở hữu) có tính quyết định đối với thượng tầng kiến trúc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ