Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Nghiên cứu vai trò của người phụ nữ dân tộc Thái trong phát triển kinh tế hộ gia đình tại xã Mường Mô, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu" do sinh viên Quàng Thị Nguyệt thực hiện thuộc chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp, Khoa Kinh tế & Phát triển nông thôn, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên (2019), dưới sự hướng dẫn của PGS.TS. Dương Văn Sơn.

Về bối cảnh thực tiễn, phụ nữ chiếm hơn 50% dân số Việt Nam, vừa tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất của cải vật chất, vừa đảm nhận thiên chức tái sản xuất con người và tổ chức đời sống gia đình. Tại tỉnh miền núi biên giới Lai Châu, nơi tập trung đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, tư tưởng "trọng nam khinh nữ" và nhiều tập tục truyền thống vẫn tồn tại dai dẳng, khiến phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ dân tộc Thái, chịu nhiều thiệt thòi về kinh tế, văn hóa và xã hội. Xã Mường Mô là một xã vùng cao biên giới thuộc diện tái định cư của công trình thủy điện Lai Châu. Toàn bộ đất sản xuất lúa nước của người dân trước đây bị ngập trong lòng hồ, buộc các hộ gia đình phải chuyển đổi hoàn toàn sang canh tác nương rẫy, đánh bắt thủy sản lòng hồ hoặc đi làm thuê. Sau khi nhận tiền đền bù tái định cư, nhiều hộ dân sử dụng hết vốn vào việc xây dựng nhà cửa kiên cố hoặc vay nợ lãi cao, dẫn đến tình trạng thiếu hụt vốn sản xuất và tái nghèo. Trong bối cảnh đó, người phụ nữ dân tộc Thái (chiếm 51,05% - 52,3% dân số xã) phải gia tăng thời gian lao động thêm từ 1 đến 2 giờ mỗi ngày, đối mặt với áp lực nặng nề về kinh tế và công việc nội trợ nhưng vị thế ra quyết định vẫn còn nhiều hạn chế.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được xác định gồm 3 nội dung:

  1. Nghiên cứu thực trạng và vai trò của người phụ nữ dân tộc Thái trong phát triển kinh tế hộ gia đình tại địa bàn xã Mường Mô.
  2. Phân tích các yếu tố tác động đến vai trò và khả năng đóng góp của phụ nữ Thái trong phát triển kinh tế hộ gia đình thời gian qua.
  3. Đề xuất hệ thống giải pháp chủ yếu có tính khả thi nhằm nâng cao vai trò, vị thế của phụ nữ Thái trong phát triển kinh tế hộ thời gian tới.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Vai trò của người phụ nữ dân tộc Thái trong phát triển kinh tế hộ gia đình.
  • Đối tượng khảo sát: Các hộ gia đình đồng bào dân tộc Thái trên địa bàn xã Mường Mô.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn xã Mường Mô, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu.
  • Phạm vi thời gian: Số liệu khảo sát thực tế thu thập từ ngày 13/08/2018 đến ngày 23/12/2018; các mốc số liệu thống kê địa phương sử dụng trong giai đoạn 2016 – 2018.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Về khung lý thuyết, khóa luận vận dụng các khái niệm kinh tế học và xã hội học nông thôn:

  • Khái niệm "Hộ gia đình" căn cứ theo Điều 106 Bộ luật Dân sự năm 2005.
  • Khái niệm "Kinh tế hộ gia đình": Tổ chức kinh doanh thuộc sở hữu hộ gia đình có tài sản chung và cùng đóng góp công sức vào hoạt động sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc dịch vụ.
  • Lý luận về tăng trưởng kinh tế (sự gia tăng về quy mô sản lượng) và phát triển kinh tế (quá trình biến đổi toàn diện cả về lượng và cơ cấu kinh tế - xã hội).
  • Lý luận về giới và giới tính: Phân tích 3 nhóm vai trò cơ bản của giới gồm vai trò tái sinh sản, vai trò sản xuất và vai trò cộng đồng.
  • Cơ sở chính trị - pháp lý: Luận cương chính trị năm 1930; Điều 9 Hiến pháp năm 1946; Nghị quyết số 04/NQ-TW ngày 12/7/1993 của Bộ Chính trị về đổi mới, tăng cường công tác vận động phụ nữ; quy định của Luật Đất đai năm 2003 về việc ghi tên cả vợ và chồng trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Hệ thống chỉ tiêu đánh giá bao gồm: Mức độ tham gia các khâu sản xuất; Tỷ trọng thu nhập do phụ nữ tạo ra so với nam giới; Quyền tiếp cận và kiểm soát nguồn lực (đất đai, vốn tín dụng, khoa học kỹ thuật, thị trường); Cơ cấu phân bổ quỹ thời gian sinh hoạt và lao động trong ngày; Mức độ tham gia các tổ chức chính trị - xã hội và các cuộc họp cộng đồng.

Về phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu:

  • Nguồn dữ liệu thứ cấp: Báo cáo kinh tế - xã hội, số liệu thống kê tự nhiên, dân số, đất đai, trồng trọt, chăn nuôi giai đoạn 2016 – 2018 do UBND xã Mường Mô cung cấp.
  • Nguồn dữ liệu sơ cấp: Thu thập qua điều tra phỏng vấn trực tiếp bằng bảng hỏi cấu trúc đối với mẫu chọn gồm $n = 60$ hộ nông dân tại 3 bản đại diện (trong tổng số 10 thôn/bản của xã) theo phương pháp phân tầng:
STT Tên thôn/bản điều tra Hộ nghèo Hộ cận nghèo Hộ khác Tổng số hộ
1 Mường Mô 11 6 3 20
2 Bản Giẳng 9 8 3 20
3 Tổng Pịt 10 6 4 20
Tổng 3 bản 30 (50,00%) 20 (33,34%) 10 (16,66%) 60 (100%)

Tiêu chí phân loại hộ nghèo và cận nghèo căn cứ theo chuẩn nghèo đa chiều khu vực nông thôn (thu nhập bình quân từ đủ 700.000 đồng/người/tháng trở xuống hoặc trên 700.000 đồng nhưng thiếu hụt từ 3 chỉ số dịch vụ xã hội cơ bản).

  • Phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu: Nhập và xử lý dữ liệu bằng phần mềm Microsoft Excel, sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tổ thống kê và phương pháp so sánh đối chiếu giữa các nhóm hộ và giữa hai giới.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ đặc điểm của xã tái định cư Mường Mô, xác định mục tiêu tổng quát, nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể, đối tượng, phạm vi không gian, thời gian và ý nghĩa khoa học cũng như thực tiễn của khóa luận.

Phần 2: Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về kinh tế hộ, tăng trưởng kinh tế, lý thuyết giới và các chỉ tiêu đo lường vai trò phụ nữ. Đánh giá thực trạng phụ nữ trên thế giới và phụ nữ Việt Nam qua các thời kỳ. Trích dẫn kinh nghiệm thực tiễn từ mô hình kinh tế trang trại tổng hợp (chăn nuôi lợn đen, nấu rượu, xay xát thức ăn) đạt thu nhập gần 100 triệu đồng/năm của chị Vũ Thị Gấm tại bản Chiềng Chăn 3, xã Chăn Nưa, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu để rút ra bài học cho phụ nữ dân tộc thiểu số.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Mô tả chi tiết địa bàn nghiên cứu, khung nội dung khảo sát, phương pháp chọn mẫu 60 hộ gia đình phân chia theo 3 nhóm mức sống tại 3 bản đại diện, nguồn thu thập dữ liệu sơ cấp - thứ cấp và kỹ thuật phân tích số liệu trên bảng tính Excel.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương này tập trung trình bày các dữ liệu thực chứng thu thập tại địa phương:

  1. Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội xã Mường Mô (năm 2018):

    • Diện tích tự nhiên 20.198,28 ha (đất nông nghiệp chiếm 72,32% với 14.607,87 ha; đất lâm nghiệp chiếm 12.371,33 ha). Toàn xã có 679 hộ, 2.809 nhân khẩu thuộc 7 dân tộc, trong đó nữ chiếm 51,05% (1.434 người). Lao động nông nghiệp chiếm trên 90% (1.288 người trong độ tuổi lao động).
    • Cơ sở hạ tầng: 14/26 km đường liên xã được nhựa hóa/bê tông hóa loại A; 99% hộ sử dụng điện lưới an toàn (672/679 hộ); trạm y tế xã đạt chuẩn quốc gia với tỷ lệ bảo hiểm y tế đạt 92%.
    • Sản xuất nông nghiệp: Diện tích gieo cấy lúa đông xuân 27,87 ha (sản lượng 139,35 tấn); lúa nương 125 ha (sản lượng 90 tấn); ngô 81 ha (sản lượng 234,9 tấn); sắn 80 ha (sản lượng 496 tấn); đậu tương 40 ha (sản lượng 34 tấn); diện tích mặt nước lòng hồ 1.362,04 ha khai thác cá ước đạt 2,5 tấn/tháng. Đàn vật nuôi có 712 trâu, 176 bò, 1.096 lợn (giảm mạnh so với 2.384 con năm 2017 do dịch lở mồm long móng), 19.333 gia cầm.
  2. Thông tin chung về mẫu điều tra 60 hộ:

    • 100% là hộ thuần nông. Tỷ lệ chủ hộ là nam giới chiếm 85% (51 hộ), nữ giới chỉ chiếm 15% (9 hộ, rơi vào các trường hợp đơn thân, góa chồng hoặc ly hôn).
    • Nhà ở: 90% là nhà bán kiên cố, 10% nhà kiên cố, không còn nhà tạm. Trang thiết bị: 98,33% có điện thoại di động, 73,33% có tivi, 66,66% có xe máy, 53,33% có bếp ga, 43,33% có tủ lạnh, 5% có máy tuốt lúa, 0% có máy cày bừa và đài radio. Bình quân đất vườn: hộ nghèo 120 $\text{m}^2$/hộ, cận nghèo 155 $\text{m}^2$/hộ, hộ khác 165 $\text{m}^2$/hộ.
  3. Thực trạng phân công lao động và kiểm soát nguồn lực:

    • Quyền đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ): Chồng đứng tên chiếm 90% ở nhóm hộ nghèo, 95% ở nhóm cận nghèo và 90% ở nhóm hộ khác; cả hai vợ chồng cùng đứng tên chỉ chiếm từ 5% đến 10%; không có trường hợp nào người vợ đứng tên riêng khi gia đình còn đủ hai vợ chồng.
    • Phân công lao động sản xuất: Phụ nữ giữ vai trò chủ chốt trong các khâu chăm sóc cây trồng (hộ khác: 50% vợ, 50% cả hai; hộ cận nghèo: 35% vợ, 65% cả hai; hộ nghèo: 40% vợ, 50% cả hai), chăm sóc gia súc gia cầm (hộ khác: 70% vợ; hộ cận nghèo: 85% vợ; hộ nghèo: 65% vợ), bảo quản sau thu hoạch (hộ nghèo: 70% vợ). Các khâu mua vật tư, làm đất, làm chuồng do nam giới quyết định hoặc thực hiện chính.
Hoạt động quản lý & kinh tế hộ Nhóm hộ nghèo ($n=30$) Nhóm hộ cận nghèo ($n=20$) Nhóm hộ khác ($n=10$)
Quyết định mua con giống Chồng: 83,33% Chồng: 65,00% Chồng: 50,00%
Quyết định bán sản phẩm Chồng: 60,00% Chồng: 80,00% Chồng: 40,00%
Quản lý tiền bán sản phẩm Vợ: 73,33% Vợ: 75,00% Vợ: 60,00%
Quyết định mục đích dùng tiền Chồng: 60,00% Chồng: 50,00% Chồng: 50,00%
Đứng tên vay vốn ngân hàng Chồng: 93,33% Chồng: 83,33% Chồng: 100,00%
Trực tiếp quản lý vốn vay Vợ: 70,00% Vợ: 88,89% Vợ: 100,00%
Trách nhiệm trả nợ gốc & lãi Cả hai: 100,00% Cả hai: 100,00% Cả hai: 100,00%
  1. Thu nhập và phân bổ quỹ thời gian:

    • Chênh lệch thu nhập: Ở nhóm hộ nghèo, giá trị sản xuất nông nghiệp người vợ trực tiếp tạo ra chỉ đạt 1.100 nghìn đồng/năm (so với tổng thu nhập nông nghiệp hai vợ chồng là 8.200 nghìn đồng/năm); thu nhập làm thuê của vợ là 800 nghìn đồng/người/năm (chồng là 1.600 nghìn đồng/người/năm). Ở nhóm cận nghèo, thu nhập làm thuê của vợ là 1.100 nghìn đồng/người/năm (chồng là 9.000 nghìn đồng/người/năm).
    • Quỹ thời gian: Người vợ làm việc tạo thu nhập từ 5 - 6 giờ/ngày, người chồng từ 7 - 7,5 giờ/ngày. Tuy nhiên, người vợ phải dành từ 7 - 8 giờ/ngày cho công việc nội trợ, chợ búa, chăm sóc con cái (chồng chỉ dành 2 - 3,5 giờ/ngày). Thời gian giải trí, thư giãn của người chồng đạt 3,5 - 4 giờ/ngày, cao hơn người vợ từ 1,5 - 2 giờ/ngày.
  2. Sự tham gia hoạt động xã hội và tiếp cận thông tin:

    • Cán bộ nữ dân tộc Thái tham gia hệ thống chính trị địa phương rất thấp: Đảng ủy xã có 1/10 người (10%), UBND xã có 2/20 người (10%), Mặt trận Tổ quốc xã 1/35 người (2,86%), Hội Phụ nữ 1/12 người (8,33%); không có đại biểu HĐND xã là nữ Thái (0/19 người), Hội Cựu chiến binh, Hội Người cao tuổi, Đoàn thanh niên đều là 0%.
    • Tham gia hội họp: Họp sản xuất do chồng đi chiếm 83,33% (vợ 16,67%); tập huấn khuyến nông do chồng đi chiếm 75% (vợ 25%); họp hội nông dân chồng đi 86,67%; vợ chỉ chiếm đa số ở cuộc họp hội phụ nữ (100%) và họp phụ huynh (46,67%).
    • Tiếp cận thông tin: 66,67% phụ nữ chưa từng đọc sách báo; 65,00% chưa từng tham gia các lớp tập huấn kỹ thuật; 91,67% không tiếp nhận thông tin văn bản chính trị - kinh tế từ cấp trên.

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Tổng hợp các phát hiện chính về vai trò thực tế của người phụ nữ Thái, nêu các tồn tại về bất bình đẳng giới và đưa ra kiến nghị đối với chính quyền địa phương và người dân.


Kết quả và đóng góp

Kết quả chính

  1. Khóa luận lượng hóa chi tiết mức độ đóng góp của phụ nữ dân tộc Thái tại xã Mường Mô: Phụ nữ là lực lượng lao động chủ yếu ở các khâu chăm sóc vật nuôi (chiếm từ 60% đến 85% tùy nhóm hộ), chăm sóc cây trồng (35% - 50%), thu hoạch và bảo quản chế biến nông sản (40% - 70%), đồng thời giữ tay hòm chìa khóa quản lý tiền mặt (60% - 75%) và quản lý nguồn vốn vay (70% - 100%).
  2. Xác định rõ mâu thuẫn về quyền lực kinh tế: Mặc dù trực tiếp lao động và cùng chịu 100% trách nhiệm trả nợ vốn vay ngân hàng, phụ nữ Thái hầu như bị gạt ra khỏi quyền định đoạt tài sản lớn. Nam giới chiếm ưu thế tuyệt đối trong việc đứng tên quyền sử dụng đất (90% - 95%), đứng tên hồ sơ vay vốn (83,33% - 100%), quyết định thời điểm mua/bán gia súc (50% - 83,33%) và quyết định hướng sử dụng tiền bán nông sản (50% - 60%).
  3. Khảo sát chỉ ra bất bình đẳng trong phân bổ quỹ thời gian và cơ hội nâng cao năng lực: Phụ nữ chịu gánh nặng công việc nội trợ gấp nhiều lần nam giới, ít hơn nam giới 1,5 - 2 giờ thư giãn mỗi ngày, dẫn đến việc thiếu hụt cơ hội tham gia tập huấn kỹ thuật (65% chưa từng được tập huấn) và tham gia quản lý xã hội (vắng bóng tại HĐND xã).

Giải pháp tác giả đề xuất

  • Về bình đẳng giới và nhận thức: Đẩy mạnh tuyên truyền thay đổi định kiến giới và phong tục lạc hậu; nâng cao nhận thức cho chính người phụ nữ Thái nhằm xóa bỏ tư tưởng tự ti, an phận; khuyến khích các hộ gia đình thực hiện đứng tên cả vợ và chồng trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng Luật Đất đai.
  • Về nâng cao năng lực sản xuất: Tổ chức các lớp đào tạo nghề, chuyển giao kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi với thời gian và hình thức phù hợp để phụ nữ có thể tham gia trực tiếp thay vì chỉ có nam giới đi dự; tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữ tiếp cận các nguồn vốn vay ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách Xã hội.
  • Đối với chính quyền địa phương: Cần có quy hoạch, bồi dưỡng cán bộ nữ dân tộc thiểu số tham gia vào cấp ủy, HĐND, UBND và các đoàn thể chính trị - xã hội tại cơ sở; xây dựng các mô hình sản xuất nông nghiệp hàng hóa tận dụng diện tích mặt nước hồ thủy điện và đất đồi nương.

Đóng góp thực tiễn

Công trình cung cấp bộ dữ liệu điều tra thực chứng tại chỗ về thực trạng phân công lao động, quản lý tài chính và rào cản xã hội của phụ nữ dân tộc Thái sau tái định cư thủy điện Lai Châu, tạo cơ sở thông tin cho chính quyền địa phương và Hội Phụ nữ xã Mường Mô xây dựng kế hoạch can thiệp hỗ trợ bình đẳng giới và giảm nghèo bền vững.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Quy mô chọn mẫu khảo sát thực địa còn ở mức giới hạn ($n = 60$ hộ) tại 3/10 bản của xã Mường Mô do hạn chế về thời gian và nguồn lực nghiên cứu; các dữ liệu thu nhập phần lớn dựa trên ước lượng của người dân nông thôn qua phỏng vấn trực tiếp mà chưa đối chiếu được đầy đủ sổ sách kế toán chi tiết của từng hộ.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng phạm vi khảo sát trên toàn bộ 10 bản của xã Mường Mô hoặc so sánh đối chiếu giữa các xã tái định cư khác nhau của huyện Nậm Nhùn; đi sâu nghiên cứu hiệu quả kinh tế của các mô hình sinh kế mới (nuôi cá lồng bè lòng hồ thủy điện, kinh tế rừng sản xuất) gắn riêng với vai trò quản trị của phụ nữ dân tộc thiểu số.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn dữ liệu khảo sát thực tế hữu ích đối với:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp, Phát triển nông thôn, Xã hội học và Nghiên cứu Giới cần tài liệu tham khảo về phương pháp xây dựng bảng hỏi điều tra hộ nông dân miền núi.
  • Cán bộ Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp, cán bộ khuyến nông và chính quyền cơ sở tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số Tây Bắc trong việc hoạch định chính sách lồng ghép giới, đào tạo nghề và xóa đói giảm nghèo sau các dự án tái định cư công trình thủy điện.
  • Phần đáng tham khảo nhất là hệ thống các bảng phân tích chi tiết về phân công lao động sản xuất (Bảng 4.4), cơ chế kiểm soát nguồn lực tài chính - vốn vay (Bảng 4.5, 4.6) và cơ cấu sử dụng quỹ thời gian hàng ngày của phụ nữ Thái (Bảng 4.8).

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ phụ nữ đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) tại các hộ điều tra ở xã Mường Mô là bao nhiêu?
Theo kết quả khảo sát 60 hộ gia đình, tỷ lệ người chồng đứng tên sổ đỏ chiếm 90% ở nhóm hộ nghèo, 95% ở nhóm hộ cận nghèo và 90% ở nhóm hộ khác; tỷ lệ cả hai vợ chồng cùng đứng tên chỉ đạt 10% (hộ nghèo), 5% (hộ cận nghèo) và 10% (hộ khác). Không có trường hợp nào người vợ đứng tên một mình khi gia đình có đủ hai vợ chồng; phụ nữ chỉ đứng tên khi rơi vào hoàn cảnh góa chồng hoặc ly hôn.

2. Vai trò của phụ nữ Thái trong quản lý và sử dụng nguồn vốn vay ngân hàng được thể hiện như thế nào?
Có sự phân định rõ ràng giữa vai trò pháp lý và thực tế: Người đứng tên vay vốn ngân hàng đa số là chồng (chiếm 100% ở nhóm hộ khác, 83,33% ở cận nghèo, 93,33% ở nghèo). Tuy nhiên, người trực tiếp quản lý số tiền vay lại chủ yếu là vợ (100% ở hộ khác, 88,89% ở cận nghèo, 70% ở nghèo). Trách nhiệm trả gốc và lãi vốn vay được 100% các hộ xác nhận là nghĩa vụ chung của cả hai vợ chồng.

3. Cơ cấu sử dụng thời gian trong ngày giữa phụ nữ và nam giới dân tộc Thái có sự chênh lệch ra sao?
Người vợ dành 5 - 6 giờ/ngày cho công việc tạo thu nhập và phải dành từ 7 - 8 giờ/ngày cho công việc gia đình không tên (nấu ăn 1 - 2,5h; chợ búa 1,5 - 2,5h; giặt giũ vệ sinh 1 - 2h; chăm sóc con cái 1,5 - 2h). Trong khi đó, người chồng làm việc tạo thu nhập 7 - 7,5 giờ/ngày và chỉ dành 2 - 3,5 giờ cho việc nhà. Do đó, thời gian nghỉ ngơi, giải trí của nam giới đạt 3,5 - 4 giờ/ngày, cao hơn phụ nữ từ 1,5 - 2 giờ/ngày.

4. Mức độ tham gia của phụ nữ dân tộc Thái vào các tổ chức chính quyền xã Mường Mô năm 2018 như thế nào?
Sự tham gia của phụ nữ Thái trong bộ máy lãnh đạo địa phương còn rất hạn chế: Tỷ lệ nữ Thái trong Ban Thường vụ/Ban Chấp hành Đảng ủy xã là 10% (1/10 người); UBND xã là 10% (2/20 người); Ủy ban MTTQ xã là 2,86% (1/35 người); cơ quan Hội Phụ nữ xã là 8,33% (1/12 người). Trong Hội đồng nhân dân (HĐND) xã, Hội Cựu chiến binh, Hội Người cao tuổi và Đoàn thanh niên xã hoàn toàn không có cán bộ nữ dân tộc Thái (0%).


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Quàng Thị Nguyệt đã phản ánh toàn diện thực trạng vai trò, đóng góp và những rào cản xã hội của người phụ nữ dân tộc Thái trong phát triển kinh tế hộ gia đình tại xã tái định cư Mường Mô, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu. Bằng phương pháp điều tra thực địa 60 hộ dân, nghiên cứu chỉ ra rằng phụ nữ Thái giữ vai trò nòng cốt trong lao động nông nghiệp và quản lý tài chính vi mô, song quyền quyết định các vấn đề kinh tế lớn, quyền sở hữu tài sản và cơ hội tiếp cận tri thức vẫn bị chi phối bởi nam giới. Các giải pháp đề xuất tập trung vào việc xóa bỏ định kiến giới, tăng cường đào tạo kỹ thuật nông nghiệp và quy hoạch cán bộ nữ mang tính thiết thực cao đối với công tác phát triển nông thôn miền núi.