Chương 1: TONG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VE HỢP DONG TƯƠNG LAI HÀNG HÓA NONG SAN VÀ VAI TRO PHONG VE RUI RO 1. Tổng quan nghiên cứu về hop đồng tương lai hàng hóa và vai trò phòng vệ rủi ro 1. Các nghiên cứu quốc tế về hợp đồng tương lai hàng hóa và vai trò phòng vệ rủi ro Đối với người nông dân, nhà sản xuất, hay các doanh nghiệp có các giao dịch mua, bán hàng hóa thì sự biến động giá cả hàng hoá được xem là một trong những rủi ro lớn nhất, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh lời. Nếu không xác định, phòng vệ hoặc hạn chế được rủi ro thì những tôn thất, thiệt hại mang đến có thể là rất lớn.
Giao dich ky hạn các mặt hàng nông sản là biện pháp quản trị rủi ro đã và đang trở thành xu thế trên thế giới, khi mà chính phủ nhiều nước đang áp dụng chính sách chuyền từ can thiệp sang giao dịch hệ thống, cho phép các chủ thể trong nền kinh tế có thể đối phó với tác động của bat ổn giá cả (Herrmann, 1993). Choudhry (2009) khang định hợp đồng tương lai hàng hóa cung cấp phương tiện dé chuyền đổi rủi ro giữa những người nắm giữ hàng hóa vật chất (người bảo hiểm rủi ro) và nhà đầu tư, đầu cơ trên thị trường. Các sở/trung tâm giao dịch hàng hóa đang ngày càng khẳng định vai trò quan trọng của minh trong việc hình thành những quyết định đầu tư của các định chế trung gian trong thị trường (Morgan, 2000). Thị trường giao sau được đánh giá là một bước tiến lịch sử dé “sửa chữa” những thiếu sót và làm giảm chi phí giao dịch trên thị trường giao ngay.
Trên Thế giới có rất nhiều nghiên cứu kiểm định vai trò phòng vệ rủi ro về giá của hợp đồng tương lai. Tuy nhiên, trên mỗi thị trường khác nhau, với từng loại hàng hóa cơ sở khác nhau, kết quả kiểm định là không đồng nhất. Đối với nhiều mặt hàng, lưu trữ hang hóa giúp tiêu thụ và sản xuất sản phẩm trơn tru hơn. Tuy nhiên, lưu trữ càng nhiều rủi ro càng lớn đo biến động giá là không thé dự đoán trong tương lai (Janet, 1995).
Hợp đồng tương lai có thé giảm rủi ro cho việc lưu trữ bằng cách cung cấp cho các nhà sản xuất nhiều thông tin hơn về lợi nhuận thực tế của việc lưu trữ (Yang & Awokuse, 2003). Janet (1995) dat ra câu hỏi về vai trò phòng vệ rủi ro của hợp đồng tương lai đối với những biến động về giá của lúa mì, đồng thời xem xét xem xét thị trường tương lai gây ra biến động như thế nào đối với giá giao ngay của lúa mì. Đề phân tích vai trò phòng vệ của hợp đồng tương lai, 14 tác giả phát triển một mô hình rủi ro về kho dự trữ. Nghiên cứu sử dụng khung phân tích trung bình — phương sai (mean-variance framework), có thê được coi là xấp xỉ chuỗi Taylor dé ước lượng lợi nhuận từ kho lưu trữ khi có thị trường tương lai.
Dữ liệu bao gồm các quan sát mỗi ngày về giá cao và thấp của hợp đồng tương lai, các quan sát hàng tuần về giá giao ngay cao và thấp nhất của lúa mì và ngô được xuất khẩu tại Chicago. Kết quả cho thấy khi xuất hiện thị trường tương lai, khối lượng nông sản lưu trữ sẽ làm giảm biến động của giá giao ngay lên tới hơn 50%. Đây là kết quả tương đồng với nghiên cứu của (Yang & Awokuse, 2003). Sử dụng mô hình sửa lỗi vector và khung GARCH hai biến, hai tác giả chỉ ra rằng hợp đồng tương lai thé hiện vai trò phòng vệ rủi ro một cách hiệu quả hơn đối với hàng hóa được lưu trữ (trong sự so sánh với hàng hóa không được lưu trữ).
Về tác động của hợp đồng tương lai tới giá giao ngay của tài sản cơ sở, Janet (1995) cho thấy việc thao túng thị trường tương lai khiến phương sai của giá giao ngay tăng, làm tăng chênh lệch giá giao ngay của lúa mì và ngô. Vào thời điểm năm 1995, khi thị trường tương lai mới phát triển và chủ yếu bị các nhà đầu cơ thao túng thị trường, nghiên cứu của tác giả cho rằng nếu muốn phòng vệ rủi ro về giá nông sản thì không nên loại bỏ thị trường tương lai như đã được đề xuất trước đó, thay vào đó nên có những quy định chặt chẽ hơn trên thị trường tương lai. Larson và các công sự (1998) đã làm rõ hơn vai trò của hợp đồng tương lai với nên kinh tế và ảnh hưởng tới sự biến động giá cả hàng hóa cơ sở tại các quốc gia đang phát triển. Tại các nước đang phát triển, giá cả hàng hóa thường không ổn định.
Vì vậy, các quốc gia có thể phải đối mặt với rủi ro thu nhập từ xuất khâu, có thé làm ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế, phân phối thu nhập và xóa đói giảm nghèo. Vì vậy một giải pháp khả thi được đưa ra là khuyến khích việc thiết lập và sử dụng thị trường tương lai hàng hóa như một cơ chế dé phân tán những rủi ro này. Tác giả đưa ra các đề xuất dé phát triển, cải thiện khả năng tiếp cận các công cụ quản lý rủi ro này ở các nước đang phát triển phụ thuộc vào xuất khâu hàng hóa. Băng cách quan sát các ảnh hưởng tiêu cực của biến động giá hàng hoá trong quá khứ, nghiên cứu cho thấy phương pháp can thiệp vào thị trường hàng hóa với mục tiêu ôn định giá (dựa vào quỹ dự trữ hàng tồn kho đệm hay sự can thiệp của Chính phủ vào thị trường hàng hóa và các thỏa thuận quốc tế về hàng hóa dé ổn định giá cả) là rat tốn kém và không hiệu quả, kèm theo đó là những tác động tiêu cực khi các chương trình bình ồn giá này sụp đỗ.
Từ đó, các tác giả xem xét các phương pháp mới và thấy được lợi ích trong việc sử dụng các công cụ quản lý rủi ro trên thị trường phái sinh hàng hóa dé giảm thiểu rủi ro về giá ở các nước đang phát triển. 15 Đồng quan điểm với vai trò quan trong của thi trường phái sinh hang hóa, Morgan (2000) đánh giá và xem xét triển vọng phát triển thị trường tương lai hàng hoá tại các nước kém phát triển (LDCs) bằng cách tiếp cận những chính sách trong quá khứ - những chính sách cô gang giảm tác động tiêu cực của biến động giá cả trên thị trường hàng hóa. Kết quả cho thấy những chính sách trước đây có xu hướng thất bại và không đủ khả năng dé hỗ trợ những nhà sản xuất nhỏ lẻ và người nông dân. Thực tế đã có sự bùng nồ về số lượng và phạm vi xuất hiện các sản phẩm phái sinh để quản lý rủi ro nhưng những sản phẩm này lại không có sẵn tại các quốc gia cần chúng nhất — chủ yếu các quốc gia sản xuất kém phát triển.
Larson và cộng sự (1998) va Morgan (2000) đều cho rang những rào cản chính cản trở sự tiếp cận thị trường phái sinh hàng hóa tại các quốc gia này do một số vấn đề như: thiếu cơ sở hạ tầng, chỉ phí cao và thiếu “sự tự tin” tham gia thị trường tương lai (những người tham gia giao dich chưa đủ kiến thức về thị trường mới này), rủi ro phía đối tác, rủi ro cơ bản (không tương quan giữa giá trong nước và quốc tế), tính thanh khoản thấp và không có thị trường phái sinh cho một số sản phẩm nhất định. Vì vậy các nước có thé thực hiện một số giải pháp như phát triển các chính sách hỗ trợ, nâng cao kỹ thuật và cơ sở hạ tang, nâng cao hiểu biết của người tham gia về thị trường phái sinh. Các tổ chức quốc tế, chính quyền địa phương và khu vực tư nhân đóng một vai trò rất quan trọng vào khả năng tiếp cận các công cụ phòng vệ rủi ro này. Về phương pháp nghiên cứu sử dụng đề kiểm định khả năng phòng vệ rủi ro về giá của hợp đồng tương lai hàng hóa, có nhiều nghiên cứu sử dụng kiểm định đồng liên kết (Cointegration) dé tìm ra mối tương quan giữa các loại dit liệu chuỗi thời gian trong dai hạn như giá hợp đồng tương lai và giá giao ngay của các mặt hàng nông sản.
Hudson và các cộng sự (1996) tìm hiểu mối tương quan giữa giá hợp đồng tương lai và giá giao ngay mặt hàng bông tại khu vực Tây Nam nước Mỹ, từ đó nhằm phát hiện vai trò truyền dẫn thông tin về giá của hợp đồng tương lai. Do các giao dịch bông tại khu vực Tây Nam nước Mỹ phần lớn diễn ra từ tháng 11 đến tháng 2, nên các tác giả thu thập được 81 quan sát mỗi năm trong 4 năm liên tiếp và các hợp đồng tương lai thời điểm tương ứng. Nghiên cứu sử dụng kỹ thuật Cointegration dé đánh giá mối quan hệ giữa giá thị trường sản xuất (giá giao ngay) và giá hợp đồng tương lai. Tác giả sử dụng mô hình sửa lỗi Vector (VECM) dé xác định ban chất của các mối quan hệ có độ trễ (lead/lag) khi chuỗi giá được đồng liên kết.
Kết quả cho thấy giá sản xuất bông và giá tương lai không liên quan đến nhau, do đó thị trường tương lai và thị trường sản xuất bông có mối quan hệ yếu. Hợp đồng tương lai và giá giao ngay có 16 tính đồng liên kết trong 2 trên 4 năm, trong khi không thỏa mãn đồng liên kết trong 2 năm còn lại. Sự không nhất quán nay tạo ra nghi vấn về việc sử dụng hợp đồng tương lai như là một nguồn thông tin về giá cho người sản xuất. Yang và các cộng sự (2005) đã ước tính các tỷ lệ phòng vệ tối ưu của hợp đồng tương lai tại Úc từ 4 mô hình: OLS, VAR, VECM và GARCH đa biến.
Sau đó các tác giả so sánh hiệu quả phòng vệ rủi ro của các tỷ lệ này băng hiệu suất trong mẫu (in-sample) và ngoài mẫu (out-of-sample), dựa trên hai cách tiếp cận khác nhau là so sánh rủi ro — lợi nhuận và phương pháp tối đa hóa lợi ích. Tương tự, Kumar và các cộng sự (2008) ước tính tỷ lệ phòng vệ rủi ro của hợp đồng tương lai đối với một tài sản tài chính và hàng hóa tại thị trường An Độ bang ba mô hình OLS, VAR và VECM. Cụ thé tác giả ước tính tỷ lệ phòng vệ cố định cho hợp đồng tương lai S&P CNX Nifty index, vàng va đậu nành bởi ba mô hình trên và ước tính tỷ lệ phòng vệ động băng VAR-MGARCH.